Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn đi học ở các lớp của bậc Trung Học (Hà Tiên), mình thường thích những giờ văn với những lời giảng bài rất lôi cuốn của quý thầy cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Trương Minh Hiển,…Thời đó môn văn được xếp thành hai loại: Kim văn và Cổ văn. Kim văn là văn xuôi còn Cổ văn là văn có vần điệu, là thơ…Trong các bài học về văn xuôi và các tác giả, thường có nhắc đến các tác giả tiên phong trong phong trào văn hiện thực như nhà văn Ngô Tất Tố với tác phẩm « Tất Đèn », trong đó nhân vật chính là Chị Dậu và cái câu văn điển hình mô tả chị Dậu: « Chị Dậu là người đàn bà có cái nhan sắc của người đàn ông không đẹp trai… », câu văn mà thời đó trong giới học sinh mình ai cũng thích và thường đem ra dùng để nhắc đến hay để trêu ghẹo ai đó…!! Khi nhận được bài mới của tác giả Quang Nguyên, một cậy bút rất quen thuộc và rất được yêu chuộng trong giới đọc giả của « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », đọc bài xong mình không thể không nhớ đến thể loại văn xuôi tiền chiến hiện thực như kiểu Ngô Tất Tố kể trên,….Thật vậy, bạn Quang Nguyên đã mô tả một người anh, người bạn học cùng trường, người « đồng nghiệp » trong phong trào kéo nước ở Hà Tiên sau những năm cuối thập niên 70, bạn đã mô tả anh Hồ Hải (Lê Phước Hải) một cách rất hiện thực, rất chân chính,…Chỉ cần đọc bài văn dưới đây của Quang Nguyên, ta cũng đủ thấy và nhớ lại cái khung cảnh tuy không kém phần « bi đát » nhưng cũng đượm đầy tình bằng hữu và tính quan niệm sống rất triết lý của thời đó…Dù trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn, nhưng các bạn vẫn lạc quan, chấp nhận sự phấn đấu hằng ngày và không nản chí hay buông thả…Văn viết của Quang Nguyên chuyên chở một tính chất của loại văn « hiện thực xưa » tuy tác giả lại là một anh chàng còn rất trẻ và rất yêu đời…Có đọc qua những đoạn mô tả cảnh sống và liên hệ bằng hữu hằng ngày  đi kéo nước ở Ao Sen Hà Tiên, ta mới thấy tính chất hiện thực của văn Quang Nguyên, và không thể không nhớ đến loại văn xuôi thời tiền chiến mà chúng ta có dịp học qua thời Trung Học,…Bài văn mô tả một con người yêu tự do, sống phóng khoáng và tinh thần hiện thực của Hồ Hải qua cây bút của Quang Nguyên cho ta thấy rỏ cái triết lý sống của Hồ Hải, sống cho từng giây từng phút trong cuộc đời, sống cho chung quanh và sống cho chính mình…Hồ Hải đã tận hưởng được cái tự do của khoảnh khắc đáng giá trong cuộc sống, giống như câu thơ của chính Hồ Hải nói về mình trong bài thơ « Mãi mãi như nhiên »:

Ta lữ khách đã ngàn năm sinh tử
Chợt lặng người. Tỉnh giấc vổ tay cười.
Kiếp làm chồng thế gian sao vất vả.
Hạnh phúc nào hơn, trốn vợ rong chơi.

Con người vốn đã có chất lãng tử, nghệ sĩ và yêu giang hồ như bạn Hồ Hải rồi thì dù cho có quyết định dừng chân, gởi tâm cho cỏi Phật Đường thì cũng không làm sao chống chỏi được cái « ta »…, cái « tâm » vốn nhạy bén và dể xúc động trước nét đẹp của một người con gái tín nữ nào đó một hôm đến viếng chùa,…Cho nên Hồ Hải đã phải trở lại với cuộc sống, trở lại với cái thế gian dù khắc nghiệt, khó khăn đối với anh, nhưng đó mới chính là môi trường và không gian của anh,.., của Hồ Hải…

Bản thân mình ngày xưa qua phong trào chơi nhạc với các bạn thời Trung Học, mình có quá nhiều kỷ niệm với Hồ Hải, dù cho học khác lớp nhưng đã có quá nhiều liên hệ và đối tác với Hồ Hải,…Mình vẫn thường nhớ Hồ Hải thường nói một câu nầy trong những giờ dợt nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường hay những lần đến Chi Thông Tin quận Hà Tiên để hát trực tiếp và phát thanh ra khắp chợ Hà Tiên qua những cái loa kiểu xưa treo đầy các cột đèn đường… »Cho mình hát một bài trước đi để còn về kịp bắt heo nữa…!! » . Có một lần sau khi mình đã định cư ở Pháp, lần đầu tiên trở về Việt Nam thăm gia đình tại Hà Tiên (1994), xe vừa mới đến nhà tại đường Bạch Đằng Hà Tiên thì Hồ Hải đã nghe tin và đã đến nhà mình chờ đón, và Hồ Hải đã rủ ngay đứa con trai mới 13, 14 tuổi của mình (tên là Trần Nguyễn Tường Linh…) lên ngay chiếc xe Honda dame của Hải và anh ta chở Tường Linh chạy tuốt ra chơi phía Thạch Động, biên giới….Có nhiều lúc nghĩ lại cũng phải hú hồn vì không biết đi chơi xa như vậy có an lành không nữa…

Có một điều mình vẫn còn tiếc nuối và cũng hơi buồn là lần cuối về Hà Tiên (06/2012), mình không kịp gặp lại Hồ Hải, vì có một hôm Hồ Hải và Nguyễn Đình Nguyên chờ mình suốt buổi chiều tại quán cà phê trước Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa) trong khi đó thì mình và bà xả thì lại ngồi ở quán cà phê nỗi Thủy Tiên trên bờ sông Giang Thành trước trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa…Vấn đề là vì không nói rỏ điểm hẹn ….Từ đó đến nay không còn dịp gặp lại Hồ Hải nữa…!!  (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với người vợ quá cố…

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

(Để tưởng nhớ đến anh – một người đặc biệt)

Tôi quen anh cũng đã lâu lắm, dễ cũng đã có hơn bốn mươi năm trước, ở cái thời mà xã hội chúng ta có những vấn đề vô cùng lạ kỳ và đối nghịch nhau một cách vô lý trong đời sống diễn ra hàng ngày chung quanh… Còn nhớ dạo ấy Hà Tiên có một “đạo quân” mà độ “đậm đặc” của chất xám, của trí tuệ, của tri thức, của kiến thức, của chuyên môn v..v… co cụm trong một tập thể vài ba mươi người mà trong đó có các kỹ sư, vài ông giáo sư đáng kính, chuyên viên kỹ thuật, và các sĩ quan chuyên nghiệp … Họ đang hành nghề … kéo nước mướn, và Hồ Hải (anh tên thật là Lê Phước Hải, anh của bạn Lê Phước Dương, nhà ở khúc trên đường Lam Sơn quẹo phải)  là một người trong số đó.

Hà Tiên chúng ta có cái nghề xe nước này kể ra cũng là một điều đặc biệt, tôi không biết rằng nghề này đã có bao lâu? Có lẽ cũng đã lâu lắm vì các ao nước ngọt đã có từ xưa và phải có người và phương tiện mang đến từng hộ cho cư dân Hà Tiên chứ? Mà kể cũng lạ, từ lúc xã hội loài người có phương thức trao đổi hàng hoá bằng hiện vật hay hiện kim thì người ta mặc định đó là hành động mua và bán, kẻ mua cái mình cần và người bán cho họ cái họ cần. Việc đem nước cho các hộ cần và nhận tiền thù lao cho công việc ấy  từ bao đời của ngươi Hà Tiên được mặc định bằng hai từ “đổi nước”, họ đổi nước để lấy tiền và đổi tiền lấy nước chứ không có chuyện “bán nước” và “mua nước”! Đó chẳng phải là một thái độ rất nhân văn, một tình yêu tổ quốc chân thành, một sự cẩn trọng về ngôn từ… xuất phát từ tim óc của các bậc tiền nhân nghèo khổ vốn luôn trao đổi lao lực để mưu sinh của người Hà Tiên chúng ta đó sao?

Ắt hẳn những người xe nước ấy đã rất yêu nước, kể cả những người trong “đội quân” đổi nước mà tôi đang nói nơi đây.

Đành rằng nghề nào cũng quý, nhưng ngày đó thật sự là một sự lãng phí trí tuệ thật là to lớn, đó không là sự lựa chọn nghề nghiệp của những con người đã kinh qua trường lớp khoa bảng, mà là vì sự áp đặt ý chí của thời cuộc…  Tuy nhiên đó là câu chuyện lịch sử và hãy để lịch sử phán xét, dù vậy cũng phải nhắc đến đây đôi chút để chúng ta không quên quá khứ, bởi “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng … đại bác”!

… Dạo ấy chúng tôi còn rất nhỏ, nhưng được cái thân thể to lớn mà tạo hóa đã vụng về: gắn đầu óc trẻ thơ chung với bộ cơ lực sĩ (!), chính vì vậy chúng tôi có thể kham đươc những công việc nặng nhọc thay thế cha tôi hành nghề xe nước vì ông mau xuống sức bởi thời gian ông đi “học tập”. Hàng ngày đạo quân ấy hay tụ tập tại quán cà phê bác Sáu Lượm ở đầu ao sen bìa dưới. Chúng tôi, kể cả các chú các anh trí tuệ sáng ngời nhưng sinh lầm thế kỷ , họ tụ tập nhau lại điểm hẹn này không nhằm mục đích gì cả, chỉ là hỏi thăm nhau sáng giờ được mấy xe, nhà nào mà mình xách nước vào cực nhọc vì phải lên lầu, hay lối đi nhỏ hẹp, hoặc có khi là sang mối cho nhau hay giúp nhau vài xe nước hôm nay…  Cũng có khi  đơn giản chỉ là thưởng thức ly « xây chừng » nóng của bác Sáu Lượm với cái hương vị cục đường thật ngọt vì lao động mệt nhọc, hay chỉ là nói những câu chuyện không đâu kiểu “đầu Ngô mình Sở” (!).

Cũng như mọi người, Hồ Hải cũng ghé đây hàng ngày vì nhà anh ấy gần đó, anh ngồi vào ghế, bỏ một bên dép và rút một chân lên chiếc ghế đẩu đã không còn mặt bằng bởi cái mông mỏng lét của anh đã chiếm hết, nhưng chỉ cần một động tác thì xuất hiện một chỗ hỗng giữa hai đùi, dù chỉ đủ để lọt một cái bánh cam là anh ấy đã nhét được gót chân mình vào, xong cái tư thế ấy là anh bắt đầu “mở máy”, phải nói anh rất thích nói, và có sức cuốn hút bởi anh có thể huyên thuyên nhiều đề tài… Thoạt đầu chúng tôi gọi anh Hải bằng “chú” nhưng anh bảo rằng “tụi mày đừng làm tao già!”, và anh ấy nhất mực buộc chúng tôi gọi bằng anh. Ừ thì anh, nhưng bên tai tôi nghe cụ Galileo nói nhỏ mà rõ mồn một rằng:  “dù sao thì trái đất vẫn quay!”.

Ở đâu có Hồ Hải là ở đó có tiếng cười, anh thường xuất hiện sau khi tiếng cười ha hả và giọng nói oang oang đã đến tai ta hàng giờ! Nụ cười của anh làm rung bần bật bộ râu kiểu ông Nguyễn Cao Kỳ, và hai hàm răng to khỏe ám nâu khói thuốc lộ ra để hạn chế tối đa cái mức độ hấp dẫn, nhưng cho dù vậy thì kiểu gì nụ cười ấy cũng tỏa đầy nắng bởi nó rạng rỡ trên cả gương mặt với mắt mũi miệng đều kéo hết cỡ V-line!

Có một buổi trưa tôi vào quán bác Sáu kêu một ly tài chừng, quán trưa vắng khách, thấy anh Hồ Hải ngồi một mình mắt nhìn xa xăm tư lự, không giống kiểu của anh hàng ngày, tôi hỏi:

              – Có gì mà buồn vậy anh Hải?

              – Tao nhớ Sài Gòn!

              – Giờ đi khó khăn lắm, phải có giấy đi đường, có người không được ra khỏi Hà Tiên vì bị quản chế, xe cộ thì không có mà phải đi xe chuyền rất nhiều chuyến nữa đó.

              – Ừ!..hmm

Rồi như bừng tỉnh, đôt nhiên mắt anh ánh lên và tỉnh táo sảng khoái không như trước đó vài giây.

              – Nè Bé, có bao giờ mày thử chơi “ken” chưa?

              – Là cái gì?

              – Hmm..! Vậy là mày không biết gì rồi, là một loại ma túy đó Bé.

              – Hơ! Em còn nhỏ lắm mà, dính thứ đó ba em “giết” chết!

Rồi mắt anh lại nhìn xa mơ màng…

–              Tao nhớ cái cảm giác đó… Sài Gòn, vũ trường, thuốc, mấy em gái nhảy… Hồi đó tao buồn chuyện riêng, mấy thằng bạn rủ chơi, anh cũng thử. Mà hay thiệt nhe Bé, anh hết cảm giác buồn, thấy mọi cái phiền phức chung quanh như vô nghĩa, kể cả cái chết cũng vậy luôn, tao đã lên đến tầng thượng thứ mười mấy, định bay xuống phứt cho rồi, cảm giác bay nó cứ thôi thúc anh…

              – Ừ, hồi đó anh mà nhảy xuống có khi giờ đỡ cực! – Tôi nói ghẹo Hồ Hải.

              – Ừ, tao kịp nghĩ tới gia đình, tới má anh! – Nói chuyện, anh hay xưng anh và tao lộn xộn.

Kể cũng lạ, bỗng dưng anh lại tâm sự chuyện ‘người lớn” cho thằng con nít mười ba mười bốn tuổi như tôi, trưa ngày ấy chắc anh có nhiều tâm sự lắm…

Anh là một người lạc quan trong mọi hoàn cảnh, Hồ Hải thường tự hào với chiếc xe cây tự chế của mình, có thể nói chiếc xe của anh “quái” nhất trong “binh đoàn xe nước” vì sự khác biệt của nó. Thông thường chiếc thùng phuy chứa nước được đặt nằm dọc gọn gàng trong thùng chiếc xe cây, để chống lại việc cái phuy bị xoay người ta đóng một cái đế cho nó, và cái đế được thiết kế vừa vặn với sàn xe, hai bên thùng xe còn khoảng hở mỗi bên khoảng năm centi-mét để cột dây cố định, có nghĩa thùng xe phải vừa đủ to để đế và phuy nằm gọn, khi có nước đầy thì chính vị trí có khối lượng của nó làm cân bằng xe, chống được việc lắc theo phương ngang và như vậy nước sẽ không bị sóng sánh thoát đi… Chiếc xe của Hồ Hải thì khác, anh ấy giảm thiểu tối đa số cây gỗ có trên chiếc xe của mình khiến nó trần trụi như bộ xương hóa thạch trong bảo tàng, anh cho rằng xe càng nhẹ thì tổng trọng lượng mà anh phải kéo nó sẽ nhẹ hơn các xe khác vì thế xe anh không cần bộ khung chân đế cho phuy nước, thay vào đó anh biến cả chiếc xe là một bộ khung luôn, có nghĩa xe anh là xe nước “chuyên nghiệp” không làm việc gì khác ngoài việc xe nước, bỏ cái phuy ra là không có thùng xe và sàn xe để chở thứ khác, và hơn thế nữa xe của Hồ Hải nhỏ xíu, “trục láp” thì ngắn và cái thùng phuy nằm khơi khơi chơi vơi trên cao, được mỗi điều là xe rất nhẹ…

              – Ê Bé! Anh có thể kéo một tay nè, đã chưa?

              – Hahaha… đường ổ gà thì anh biết!

Quang cảnh « binh đoàn xe nước » với các chiếc xe cây và thùng phuy đặc trưng của Hà Tiên

Và quả thật, mùa cao điểm đường sá chung quanh các ao trở nên hư hỏng trầm trọng vì đội quân xe nước, để cho nhanh kịp cho mối nước đang hối… Phuy nước có 210 lít, nên về mặt lý thuyết thì năm đôi rưỡi thùng loại 20 lít là đầy, mà chưa bao giờ được thế, muốn đầy phuy phải sáu đôi hoặc sáu đôi rưỡi, các anh em cứ một thùng đổ vào xe thì hết một phần thùng ra ngoài làm cho đường sá chung quanh càng lầy lội, hậu quả là xe càng lắc lư và đường càng hư thêm… Những lúc đó trông Hồ Hải rất tội nghiệp, vì tấm thân “cò ma” của anh ấy cứ phải vặn mình kênh chịu hơn hai trăm kilô-gam đang đong đưa giục giặc theo phương ngang trên chiếc xe đang đi tới, khiến mấy cây ba sườn bén như những cây dao găm gắn vội vàng trên cái “bo đì” mỏng dính lộ ra mồn một trong chiếc áo ướt đẫm dính sát vào người, hai con chuột nhắt bé xíu trên hai tay cứ nhảy lên nhảy xuống vì anh cố kìm chiếc xe đang dao động như quả lắc đồng hồ, còn khi ấy chiếc thùng phuy thì do chơi vơi nên chao đảo văng nước tóe tung ướt cả người anh ấy… Mọi người ghẹo rằng:

              – Hồ Hải! Ra tới chợ xe ông còn nửa phuy!

              – Ha..ha..ha… Vậy càng tốt, nhẹ cho tui mà thu tiền thì cũng như mấy ông!

Lạc quan đến thế là cùng.

… Rồi thời gian sau không thấy anh ấy kéo xe nước nữa, chắc tại cái tính bỡn cợt và “nửa phuy tính tiền một phuy” nên anh ấy mất hết mối chăng? Tôi không biết! Cho đến sau năm 1982 khi tôi không còn đi xe nước nữa vì đi học xa nhà, những kỳ nghỉ hè về Hà Tiên thì thấy Hồ Hải đứng trên sân khấu ca nhạc của địa phương, vẫn là Hồ Hải với bộ râu đặc trưng nhưng thay vì cái áo đẫm mồ hôi và nước cùng chiếc quần cộc, đôi chân mang dép lê đầy bùn đất mà là sừng sững trên ấy là một Hồ Hải trong bộ vó rất “bảnh” mang giầy Tây, áo sơ mi tinh tươm… Thay Hồ Hải rổn rảng cười nói là một Hồ Hải có chất giọng « dramatic baritone » nam trung, là giọng nam khỏe khoắn đầy đặn, đầy uy lực và có khả năng “vượt quãng tám”, anh hát rất to và đặc biệt thích những bài hát có âm vực cao để anh có thể phô bày chất giọng của mình…

Tôi đã không có dịp gặp anh từ sau dạo xe nước, nhưng tôi vẫn quan tâm đến anh vì sự đặc biệt của anh, đó là một người luôn lạc quan và không có gì làm cho anh ấy mất vui, ngay cả ánh đèn sáng bưng của sân khấu cũng không thể dập tắt được nụ cười tràn ánh sáng với các cơ mặt bung ra khiến mắt mũi miệng đều bị kéo hết cỡ của Hồ Hải, có điều đứng xa sân khấu quá tôi không thấy được hàm răng to khỏe của anh có còn ám nâu khói thuốc?

Rồi một ngày khác khi tôi đã không còn ở Hà Tiên mà lưu lạc mưu sinh xứ khác, tôi nghe người ta đồn rằng anh …xuống tóc quy y! Trời ạ. Hồ Hải mà đi tu là điều tôi không thể tin được vì anh ấy rất ư là người!  Anh ấy là dạng người luôn sống hết mình trong từng ngày mình có…

Rồi lại không lâu sau đó tôi nghe rằng anh bị thầy quở mà trả về đời, mô Phật! Đó mới thật là Hồ Hải mà tôi đã từng biết! Lý do cũng rất là ‘Hồ Hải’ – tâm dao động khi nhìn thấy các thiện nữ đến chùa! Bởi cuộc đời anh bị “ám” từ cái tên mà tự anh đã chọn cho riêng mình, mà khi nghe đến ta đã thấy một khát vọng tự do, một cuộc đời không dễ gì ràng buộc – Hồ Hải.

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nét nhìn  vào một không gian trống vắng, vô tận,….

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nụ cười vô tư giữa dòng đời cuộc sống hằng ngày

Người ta thường viết về một người bởi người đó tài năng, người đó nổi tiếng, hay người có nhiều cống hiến, hoặc vĩ nhân… Nhưng tôi viết dành cho Hồ Hải vì anh là một người rất bình thường, bình thường hơn những người bình thường khác, có thể anh đã có một cuộc sống quá đổi tự do để làm phiền muộn bao người thân thuộc, nhưng trên hết anh đáng yêu, anh đáng được nhắc nhớ vì anh khác biệt, một sự đặc biệt của riêng mình, anh sống trong lòng những người đã biết và nhớ về anh – Hồ Hải.

Và tôi luôn nhớ anh với giọng hát to cao vang vọng cả Bình San dạo ấy: “Khi người yêu tôi …tắm, tôi xe nước thấy mồ!”.

Cũng phải thôi, vì khi đến nhà cô nào ấy, xe anh chắc chỉ còn một vài đôi nước trong phuy, còn anh thì đã tắm hết phần nước của cô ấy suốt dọc đường!

Xin phép anh để tôi được viết về Hồ Hải ở đây, cầu mong hương hồn anh thanh thản vì anh đã sống để mọi người đã không quên anh, trong đó có tôi – thằng nhóc ngày xưa hay ngồi giải lao nghe anh bàn chuyện phiếm giữa những trưa nắng trong quán cà phê bác Sáu Lượm một thời…

12/2018

Tác giả Quang Nguyên.

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Trương Minh Quang Nguyên, sưu tầm.

Chú thích: Bạn Lê Phước Hải là anh của Lê Phước Dương, Hải học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…v..v…(vào lớp đệ thất niên khóa 1965-1966). Khi bạn Hải tham gia chơi văn nghệ với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương », bạn Lê Phước Hải lấy hiệu là Hồ Hải, một phần để nhớ đến người đàn anh ngày xưa từng học ở Trung Học Hà Tiên và chơi đàn guitare rất hay đó là anh Nguyễn Hồ Hải, anh lấy hiệu là Hồ Hải, thời anh Nguyễn Hồ Hải chơi nhạc là những năm 1961 – 1694…

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Vè vui bạn học cùng trường (Lâm lan)

Vè vui bạn học cùng trường.

Nghe vẽ nghe ve ,nghe vè các bạn.
 Năng động đẹp trai ấy là Huynh trưởng.
 Đẹp tựa như hoa Minh Liên em gái.
 Hoa hậu Hà Tiên ấy là Tùa chế.
 Nghiêm nghị hay lo anh Hai Trần Dõng.
Hay ghẹo hay đùa là bạn Lâm Lan.
 Vui buồn dấu kín là em Lệ Thuỷ.
 Người đẹp Hà Tiên là Tiền Ngọc Hương
 Hiền hậu dễ thương là bạn Phương Nhu.
 Xinh đẹp đáng yêu là bé Phương Hà.
Yểu điệu thục nữ là bạn Kim Hoàn.
 Giỏi viết văn chương là Trương Thanh Hùng.
 Thơ văn tự tại là Lê Phước Hải.
 Vang tiếng thơm lây là Hà Quốc Hưng.
 Quan tâm bạn bè là Trang Lệ Thuỷ.
 Mang lại tiếng cười là Hia Giang Kiên.

tác giả: Lâm Lan (17/06/2016)

TranVanManh_BaiVeHoangThiMinhLien_BaiVe

NguyenThiHoa_BaiVeTranVanDong_BaiVeLamLan_BaiVeNguyenBichThuy_BaiVe

TienNgocHuong_BaiVeDuongThịPhuongHa_BaiVeTranPhuongNhu_BaiVeHoThiKimHoan_BaiVeTruongThanhHung_BaiVeLePhuocHai_2HaQuocHung_BaiVeThuy_Trang127pxTruongThanhHao_Nay

Thư cho bạn (Trang Lệ Thủy)

Cali, ngày 04 tháng sáu năm 2016

Hồ Hải thân mến,

Tình cờ lật lại chồng thư cũ, bất chợt  nhìn thấy bài thơ mà Hải viết tặng mình cách đây gần hai mươi năm. Lần đó mình về lại Hà Tiên và rất vui mừng gặp lại bạn bè xưa, trong đó có Hồ Hải. Chúng ta cùng đi Mũi Nai và họp mặt rất vui vẽ.  Ngọc Lê, Thanh Tuyên hay đùa lắm, họ nói: “ Hải bây giờ là thi sĩ đó, hể xuất khẩu là thành thơ ngay”. Hải chỉ mĩm cười.  Nụ cười  của bạn vẫn hiền lành và nhẫn nhục như dạo nào còn đi học, khi bị các bạn học nữ trêu chọc…Hải thật không có gì thay đổi, chỉ là số tuổi đời, hơi cao hơn ngày xưa mà thôi.

Đâu ngờ, Hải là thi sĩ thật, bài thơ Hải viết tặng mình cũng thâm thúy lắm, do cô Dạ Lý chuyển đến mình bằng đường bưu điện.  Có lẻ vì mình về và đi vội quá. « Xin cám cô Dạ Lý đã gởi đến em bài thơ này ».

Tho_LePhuocHaiĐã gần hai mươi năm qua rồi, mình cũng đã trãi nghiệm biết bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, còn Hải cũng muôn vàn lận đận, lao đao.  Có phải không?

Xin tha thứ cho người bạn vô tình này, đã nhận thơ của bạn tặng,  mà chưa một lần cảm ơn tác giả. Xin cám ơn Hồ Hải, người bạn thân ái, cùng chung học với mình, dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa.  Bạn đã để lại trong lòng mình niềm cảm kích vô bờ. Cho dù vạn dặm đường  xa nhưng tình bạn vẫn gần, như “Mãi Mãi Như Nhiên”, phải không Hải?.  Xin phép bạn, để mình đươc chia sẻ bài thơ này với các bạn cũ của mình, tuy bài thơ ấy đã đươc đăng trên báo ở quê nhà, nhưng một số bạn bè của mình, có lẻ cũng chưa có dịp đọc qua.

Cầu xin cho bạn và tất cả các bạn bè cũ của mình mãi được bình yên và cầu xin cho chúng ta sẽ có ngày gặp lại.

* Xin lỗi, có lẻ Hải chỉ ghi bút hiệu, nên cô Dạ Lý đã đánh máy sai họ của Hải (Hải họ Lê chứ không phải họ Nguyễn, « Lê Phước Hải »).

                                                                 Thân mến,

                                                            Trang Lệ Thủy

Trang Lệ Thủy trong những năm 70 Trường Trung Học Hà Tiên

Viết lại nguyên văn bài thơ của Lê Phước Hải:

Mãi Mãi Như Nhiên

(Tặng Lệ Thủy ở Cali và bạn bè thân quen)

Hởi dung nhan chưa bao giờ tàn úa
Vẫn đồng tiền, trên má lúm làm duyên…
Vẫn tươi tắn, với nụ cười rạng rỡ
Dẫu nghìn trùng xa cách, vẫn hồn nhiên.
x
x    x
Ta lữ khách đã ngàn năm sinh tử
Chợt lặng người. Tỉnh giấc vổ tay cười.
Kiếp làm chồng thế gian sao vất vả.
Hạnh phúc nào hơn, trốn vợ rong chơi.
x
x    x
Là sóng biển hay ta là biển cả?
Là tự tình hay nguồn cội yêu thương?
Xin một thoáng nhớ bạn bè xứ lạ
Dệt tình thơ cho lá đổ sân trường.
x
x    x
Xin hẹn lại nơi khởi hành tiền kiếp
Ta rong chơi quên hẳn thế gian buồn.
Giữa như nhiên bình yên và thầm lặng.
Chim xa đàn xoải cánh giữa trời thương.

Hồ Hải
(Lê Phước Hải, Hà Tiên)

Thuy_Trang127px LePhuocHai_1 NgocLe TranThanhTuyen          

Trên, trái: tác giả bài viết: Trang Lệ Thủy, trên, phải: Tác giả bài thơ: Hồ Hải (Lê Phước Hải)

Dưới, trái: Nguyễn Ngọc Lê, dưới phải: Trần Thanh Tuyên

TrangLeThuy_vaBan_1996Từ trái sang phải: Nguyễn Ngọc Lê, Loan, Lâm Xuân Mỹ, Phạm Thúy Phượng, Trần Yến Phượng, Trang Lệ Thủy, Tuyết, Trần Phước An, Lê Phước Hải (1996)

Hình ảnh: Trang Lệ Thủy, Lê Phước Dương

Giới thiệu Trang Lệ Thủy

Thầy Cô và các bạn thân mến, hôm nay xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn một một người bạn học cùng Trường Trung Học Hà Tiên xưa,…đặc biệt là người bạn nầy không xa lạ với chúng ta, vừa không xa lạ với nhóm bạn chúng ta hiện còn ở Hà Tiên, vừa cũng không xa lạ với nhóm bạn hiện ở vùng Californie nước Mỹ,…và cũng là một cây bút mới rất duyên dáng vừa xuất hiện trên Blog của chúng ta,…Thầy Cô và các bạn đoán ra ai chưa?…Xin để hình cho thấy rỏ nhé,….:-)….!!….

Thuy_Trang127pxĐó là bạn Trang Lệ Thủy…, bạn Trang Lệ Thủy học Trường Trung Học Hà Tiên cùng chung lớp với Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Lê Phước Hãi, Trần Phước An,…..và còn nhiều bạn khác nữa mà Thầy Cô và các bạn sẽ thấy trong hình toàn thể lớp học 11A niên khóa 1970 – 1971 dưới đây.

Ngoài ra người anh trai của Trang Lệ Thủy là anh Trang Thanh Sơn cũng là học sinh ngày xưa của Trường Hà Tiên chúng ta và còn là một thành viên trong ban văn nghệ học sinh, học trên mình một lớp (cùng lớp với anh Trần Văn Dõng…), mình cũng thường đích thân đệm đàn guitar cho anh Sơn ca, anh thường ca một bài mà mình quên tựa nhưng câu đầu như sau: « Mình cứ trách anh thư không hồi âm… »….:-)…!! 

Theo lời Lệ Thủy nói, gia đình Lệ Thủy sống thường xuyên trên mặt nước,..thay đổi nơi chốn nhiều lần, nhưng có lẻ có một cơ duyên nào đó, gia đình Lệ Thủy dừng chân lâu dài tại đất Hà Tiên, làm nơi dung thân và kết bạn với người Hà Tiên và với cảnh đẹp Hà Tiên,…Nhờ cơ duyên như vậy, Lệ Thủy gia nhập vào Trường Trung Học Hà Tiên chúng ta và những kỷ niệm bắt đầu dệt đầy thành một quyển sách lưu bút to lớn,…Nào là kỷ niệm về người bạn « Hà Liên Khúc », nào là kỷ niệm cuối năm đòi kẹo với Thầy Cô và ca hát văn nghệ,…Hiên nay Lệ Thủy định cư cùng với gia đình Ba Mẹ tại vùng Californie nước Mỹ, Lệ Thủy sẽ kể cho Thầy Cô cuộc sống hằng ngày phục vụ tha nhân như thế nào, mời Thầy Cô và các bạn đọc sau đây nhé,..        (Trần Văn Mãnh)

                                    Tiếng nói của mình.

(Kính tặng quý Thầy, Cô ngày xưa của các em. Thầy Cô đã cho các em trái tim biết nhớ mãi tình người, trong đó có cả tình thầy trò mà các em luôn giữ gìn, trân trọng: Học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên xưa.)

                                                       Trang Lệ Thủy.   
                                                         
Trời đã vào đông, có những cơn gió thổi lành lạnh đến run người. Tôi  bước vội vào nhà thờ và tìm một chổ ngồi, trong Thánh Đường, nơi hàng ghế gần bục giảng để lắng nghe học sinh của trường Việt Ngữ hát bài Thánh ca ‘Đêm yên lặng”. Nhìn thấy những khuôn mặt hồn nhiên và tươi sáng của các em với y phục rất xinh xắn và dễ thương trong ngày lễ Giáng Sinh. Học sinh của tôi giống như những thiên thần trong trái tim của tôi vậy. Tiếng nhạc trổi lên êm đềm, quyện vào lời hát thật thánh thiện và bình yên của các em đã đưa tôi trở về vùng quê hương hiền hòa và thân ái trong những ngày tôi còn thơ ấu nơi quê nhà. Bất chợt mi mắt tôi thấm ướt, tôi đã khóc. Không biết tôi khóc vì xúc động khi nhớ về quê hương của mình, trong những ngày Giáng Sinh xa xưa. Hay tôi khóc, vì vui mừng khi thấy những học sinh của tôi, đã có thể hát được bài Thánh ca an bình này, trong mùa Giáng Sinh năm nay, bằng chính tiếng nói của mình.

Nhớ những ngày đầu tiên khi các em cắp sách tới trường, theo ba mẹ ghi danh học tiếng Việt. Có em không nói được tiếng Việt nào cả, có em bập bẹ được vài tiếng. Có em học lớp mẫu giáo cứ khóc hoài, vì tiếng Việt khó quá…có em hay đùa trong lớp: “Thưa cô, con sinh ra ở Mỹ, con là người Mỹ, có Quốc tịch Mỹ, nên con không cần học tiếng Việt phải không cô?”, hay “ Sao học bài nào con cũng thấy có trò Tí hết vậy cô”. Tôi cũng còn nhớ, có lần tôi tình cờ nhìn thấy, vài học sinh của lớp chúng tôi, đã âm thầm, thút thít khóc vì đội của mình thua cuộc, trong một lần tham dự đố vui để học nào đó, với các trường bạn. Trái tim của tôi cũng lặng lẽ khóc theo.

Hôm nay, tôi cũng đã nhìn thấy John, người học trò tiếng Việt của lớp chúng tôi cách đây vài năm về trước, đã chuyển dịch bài giảng của Mục Sư bằng tiếng Việt qua Anh ngữ một cách rất lưu loát và thông thạo. Hình như có niềm vui nào đó, len lén vào tim tôi làm lòng mình rất ấm.

Rồi cũng có lần nào đó, trong dịp Tết ở nhà thờ, tôi nhớ. Tôi bỗng nghe trong đám đông có tiếng gọi “ Cô ơi, cô có khỏe không?”. Quay lại, tôi bất chợt nhận ra người học trò cũ của mình, đã theo học lớp tiếng Việt với tôi lâu lắm rồi. Thì ra tình thầy trò vẫn muôn thuở tồn tại và ấm áp, dù ở đây hay ở quê nhà.

Cám ơn trường Việt Ngữ  El Monte, ngôi trường đã đem lại cho tôi tình yêu quê hương, tiếng nói và tình người, trong đó có cả tình thầy trò, mà tôi, suốt một đời luôn trân trọng.

                                          Trang Lệ Thủy (03/2016)

Hai bạn học thời Trung Học Hà Tiên: Hồ Thị Kim Hoàn và Trang Lệ Thủy

TrangLeThuy_11A_1970_1971Lớp học 11A niên khóa 1970 – 1971 Trang Lệ Thủy (chấm xanh dương) cùng Thầy Cô và các bạn

TrangLeThuy_1996Trang Lệ Thủy nhân một dịp về Việt Nam, Hà Tiên năm 1996

Tái bút: Trang Lệ Thủy đi dạy tiếng Việt cho các trẻ em hải ngoại vào mỗi sáng chủ nhật, ngỏ hầu bảo tồn phần nào nền văn hóa nước nhà. Hai năm nay, tuy nghĩ dạy vì bận rộn, và cha mẹ già cần người săn sóc, nhưng trong tương lai gần khi mọi việc được sắp xếp ổn thỏa, Lệ Thủy sẽ đi dạy trở lại. Đây là bài viết về Trường Việt ngử ở hải ngoại có Lệ Thủy tham dự với vai trò Cô Giáo.

Hình ảnh: Trang Lệ Thủy, Trần Phương Như, Nguyễn Phúc Hậu

Một thoáng trong mơ (Trang Lệ Thủy)

Thầy Cô và các bạn thân mến, Blog của chúng ta ngày càng mở rộng cho các đọc giả nhất là các đọc giả vốn cũng là « học trò xưa » của Trường Trung Học Hà Tiên….Hôm nay, với một sự thích thú bất ngờ, mình nhận được mail khích lệ và một bài viết của bạn Trang Lệ Thủy…từ vùng đất Cali xa vợi….Mình rất vui mừng và cũng rất cám ơn Lệ Thủy,….Mình đã biết Trang Lệ Thủy từ rất lâu, kể từ gia đình Lệ Thủy thường qua lại nhà người láng giềng của mình ở đường Bạch Đằng…Anh của Lệ Thủy là anh Trang Thanh Sơn học chung lớp với các anh Lý Cảnh Tiên, Trần Văn Dõng,…Bài của Lệ Thủy viết để nhắc lại những kỷ niệm trường lớp, bạn, thầy cô ngày xưa,…Nhất là Thủy rất quyến luyến và lúc nào cũng còn thương nhớ đến một người bạn thân cùng lớp, cùng bàn…mà ngay nay không còn nữa,…Mời thầy cô và các bạn đi vào vùng ký ức của Lệ Thủy nhé,..   (TVM)

Một thoáng trong mơ (Trang Lệ Thủy)

Trang Lệ Thủy trong những năm 70 Trường Trung Học Hà Tiên

Lâu lắm rồi, từ ngày xa xứ, Hà Tiên vẫn ẩn hiện trong tôi như một thoáng trong mơ. Từ nhỏ tôi đã sống xa gia đình và đến rất nhiều nơi, tôi đã đi học rất nhiều trường. Vì gia đình tôi vốn dĩ đã kết duyên với sông nước bao la, rày đây mai đó. Nhưng nơi dừng chân lại vài năm và một trong những ngôi trường mang lại cho tôi nhiều cảm xúc nhất, đó là Hà Tiên và Trường Trung Học Hà Tiên.

Với tôi, Hà Tiên có nét quyến rủ lạ thường, nhất là vào những đêm trăng sáng, tôi thường hay ngồi lặng lẻ một mình, nhìn dòng sông Giang Thành trôi chảy, và dãy núi Tô Châu oai nghi trước mặt nhà, mà trào dâng bao nguồn thi tứ (tôi rất thích làm thơ, nhưng thơ của tôi chỉ là thơ con cóc.)

Bên cạnh quê hương hùng vĩ này (nói như nhạc sĩ Lê Dinh), Trường Trung Học Hà Tiên đã để lại cho tôi bao niềm nhớ, tôi nhớ Thầy nhớ Cô: Thầy Hiển, Thầy Ẩn, Thầy Hậu, Cô Hoa, Cô Loan, Cô Lành, Thầy Trí, Cô Nguyệt…và các bạn bè thân thương của mình mà hôm nay kẻ còn người mất …thật ngậm ngùi. Một trong những người bạn đã vĩnh viễn ra đi, xa tôi suốt đời. Tôi nhớ Dương Hà.

Hà và tôi học chung lớp, ngồi chung bàn và thân nhau nhiều hơn năm chúng tôi lên đệ tứ. Tôi ngồi đầu bàn, kế đến Hà  rồi Nguyễn Hồng Điệp. Hà vui vẽ, thân thiện và “hợp tác” rất chặt chẻ với tôi, Ngọc Lê, Thanh Tuyên, Mai thị Hạt, Lưu thị Kim Nhan (cháu của Thầy Giám Thị Hứa Văn Vàng) cùng nhau phá phách các Thầy Cô, bè bạn… rồi khúc khích cười …vui thật là vui.

Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất về Hà là « Hà liên khúc ». Cứ mỗi dịp hè về, vào những ngày cuối năm, trước khi nghỉ học, học sinh thường đòi kẹo với Thầy Cô… Lớp chúng tôi cũng không ngọai lệ: KẸO và yêu cầu hát cho nhau nghe, đã là một thông lệ không thể nào tránh khỏi. Mở đầu chương trình hát cho nhau nghe, thường là Trương Minh Huệ, (Ba của Huệ làm trong Bưu Điện Hà Tiên, ngành Viễn thông) Huệ có giọng hát hay và truyền cảm như Duy Khánh, rồi Nguyễn Anh Khanh, (Khanh con của Ông Trưởng Chi Bưu Điện Hà Tiên) Khanh lúc nào cũng hát bài “Chuyến tàu hoàng hôn”, làm cho chúng tôi cũng hiếu kỳ đặt thành nghi vấn: “Khanh chỉ thích có một bài hát này sao, hay bạn chỉ biết hát có một bài hát này, nghi quá!”…rồi đến lượt Dương Hà, Hà thường hát bài “Rừng lá thấp”. Nhưng rất tiếc Hà chỉ thuộc bài hát này một chút mà thôi, thế là Hà tự nhiên chuyển sang bài hát khác, rồi bài hát khác nữa … để hoàn thành liên khúc Dương Hà, mỗi lần nghe Hà biểu diễn liên khúc, cả lớp không ai nhịn cười được và Hà cũng vui vẽ cười theo.

TrangLeThuy_XuaDuongDiemHa

Trái: Trang Lệ Thủy,  Phải: Dương Diễm Hà

TrangLeThuy_vaBan_1996Từ trái sang phải: Nguyễn Ngọc Lê, Loan, Lâm Xuân Mỹ, Phạm Thúy Phượng, Trần Yến Phượng, Trang Lệ Thủy, Tuyết, Trần Phước An, Lê Phước Hải (1996)

Bây giờ không còn người hát liên khúc để nghe, không còn ai để cùng nhau phá phách, nhưng mình vẫn luôn nhớ bạn, Dương Hà. Cám ơn bạn và tất cả các bạn bè cũ của mình, đã một thời, cùng mình sống chung dưới mái trường trung học Hà Tiên mà tuổi thơ thật rạng ngời.
                                 Hởi các bạn tôi ơi!
                                Cám ơn bạn, tuyệt vời.
                                Bạn là ánh mặt trời,
                                Chiếu sáng mãi đời tôi.

TrangLeThuy_1996Tác giả: Trang Lệ Thủy
 
  Californie, 07/03/2016  Trang Lệ Thủy

Hình ảnh: Trang Lệ Thủy, Dương Phương Hà, Nguyễn Phúc Hậu, Trần Phương Nhu

Bốn chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Hà Tiên (Hà Hưng Quốc)

1/ NGƯỜI THẦY DẠY TÔI GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHẢN BIỆN

Tôi gặp lại thầy Trương Minh Hiển lần thứ nhì vào năm 2007 (?) tại Sài Gòn. Lúc đó thầy đang dạy ở Đại Học Văn Lang. Thầy trò đã kéo nhau vào Bình Quới ăn trưa và tâm sự suốt mấy tiếng đồng hồ rồi sau đó kéo về căn chung cư chật hẹp của thầy ở Quận 4. Tại đây thầy Hiển trao cho tôi ba quyển sách: cuốn tiểu thuyết huyền sử Bà Chúa Xứ do thầy Hiển sáng tác, cuốn Địa Đàng ở Phương Đông của Dr. Oppenheimer do thầy Hiển dịch bản nháp bìa đóng bằng giấy thùng cạt tông, và cuốn Việt Điện U Linh Tập đã ngã màu. Nhờ lần gặp nhau đó mà tôi mới biết được tôi với thầy có một tương thích là đang nghiên cứu về cội nguồn đích thực của dân tộc. Đó là lần sau cùng tôi gặp thầy và vĩnh viễn không còn một cơ hội nào nữa.

            Lúc xưa thầy Hiển rất năng động và thích chính trường. Tôi nhớ là đám học sinh Trung Học Hà Tiên của chúng tôi đã từng đi khắp Hà Tiên vận động tranh cử cho thầy Hiển. Nhưng giấc mơ trở thành một nghị viên dân cử đã không thành. Người đã giúp khai phóng khả năng và giúp tôi tin vào giá trị của sự phản biện không ai khác hơn là thầy Trương Minh Hiển.

Thay_TruongMinhHienTrái: Thầy Trương Minh Hiển

            Tôi học quốc văn với thầy Hiển vào năm Đệ Lục, Đệ Ngũ và Đệ Tứ. Ngoài việc giúp học trò chúng tôi tiếp thu kiến thức căn bản chiếu theo giáo án ấn định, thầy Hiển còn bỏ nhiều thời gian dạy chúng tôi làm thơ, viết văn, phân tích, tổng hợp, lý luận, phản biện, phỏng vấn, khảo sát thực địa, thí dụ như thầy đã từng đưa chúng tôi đến nhà ông Năm Bùn là một nhân vật trong truyện Cánh Buồm Đen của của Sơn Nam để phỏng vấn hoặc là đến nhà của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết đã từng cư ngụ để tìm lại dấu vết xưa. Ngay cả việc nhờ học trò chúng tôi đi vận động tranh cử, tuy thực sự là cần chúng tôi giúp đỡ nhưng đồng thời cũng là một phương pháp đào tạo của thầy qua hoạt động thực tiễn cho đám học trò của mình. Nếu chưa nhìn ra điều này thì chưa thực sự hiểu thầy. Những kinh nghiệm như vậy, cũng là những kỷ niệm không quên, là món quà vô giá mà thầy Hiển đã trao tặng cho chúng tôi năm xưa. Nhìn lại, tôi thật sự khâm phục thầy Hiển và phải tự nhận là sở dĩ tôi có được khả năng cầm bút ngày hôm nay một phần lớn là do thầy Hiển đã bỏ công sức uốn nắn lúc trước. Cảm ơn thầy, vị thầy kính yêu của con. Cảm ơn mớ hành trang vô giá mà thầy đã trao tặng mỗi đứa để giúp chúng con bước xuống cuộc đời một cách đầy tự tin và dùng năng lực đó để làm ấm những mảnh đời chung quanh.

2/ BƯỚC XUỐNG CUỘC ĐỜI

Cụm chữ « Bước xuống cuộc đời » làm cho tôi nghĩ tới một người. Một ngày của năm nào đó trong quá khứ, ba đứa chúng tôi đã bước ra khỏi cửa nhà của Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh để đi vòng vòng như mọi ngày. « Theo em xuống phố trưa nay, đang còn chất ngất cơn say, theo em bước xuống cơn đau, bên ngoài nắng đã lên mau, cho em . . . », Mãnh vừa đi vừa huýt gió một đoạn trong bản tình ca Vũng Lầy Của Chúng Ta mà chúng tôi rất ưa thích thời đó. Một đứa trong chúng tôi bước xuống lề và vô ý giẫm mạnh lên vũng nước mưa còn đọng lại trên mặt đường làm nước bẩn văng trúng quần chúng tôi. Anh Dõng đã khựng lại nhìn xuống chỗ dính dơ trên quần của mình rồi lầm bầm trong miệng: « Tại sao là bước xuống cuộc đời mà không là bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời? » Đúng là ngớ ngẩn. Chẳng ăn nhập gì với vũng nước và cái quần bị làm dơ. Nhưng lại là thứ ngớ ngẩn bất chợt lóe lên trong tâm thức của một triết gia ở khoảnh khắc của một hiện tượng phát sinh và biến mất mà chỉ có hắn mới bắt kịp, kéo nó lại và treo nó lơ lửng, như bắt lấy một frame của video, và khám phá diện mạo rất mới của một hình ảnh cũ mèm nhạt nhẽo. Đó là anh bạn Dõng của tôi mà tôi biết. Và cái ngớ ngẩn thoát ra từ cửa miệng của anh ấy, dầu rất khẽ, đã bám theo tôi cho tới ngày hôm nay. Thú thật tôi vẫn chưa có câu trả lời là mình đã bước xuống cuộc đời, bước vào cuộc đời hay bước lên cuộc đời. Anh có câu trả lời chưa vậy anh Dõng?  

TranvanDong1972TranvanManh1970

            Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Văn Mãnh

Dõng Mãnh tuy là hai anh em ruột nhưng bản chất hoàn toàn trái ngược. Anh Mãnh là mẫu người sống động, hào nhoáng, trẻ trung, thích vui, đam mê âm nhạc và có thiên khiếu chơi đàn guitar. Còn anh Dõng là mẫu người trầm lặng, sống nhiều với nội tâm, ăn nói nhỏ nhẹ, thích triết học, có khả năng tư duy cao, giỏi toán, rất mẫn cảm nhưng khéo che dấu cảm xúc và chỉ khi nào anh uống rượu thật say thì mới để lộ, không thích đấu khẩu tào lao nhưng khi cần tranh luận thì luôn tranh luận cho vị thế ngược với chỗ đứng của anh để giúp anh cũng cố thêm cho chỗ đứng của mình. Có lẽ vì vậy mà chưa bao giờ thấy anh nổi giận với ai. Người ta càng công kích mạnh mẽ chỗ đứng A của anh đưa ra thì anh càng cười khoái chí vì trong bụng anh biết rõ là anh không tin vào chỗ đứng A nên mượn người đối diện giúp anh phản biện để anh có cơ hội xác định giá trị của chỗ đứng B, ở đó mới thật là chọn lựa của anh. Rất thông minh. Và tôi đã áp dụng kỹ năng này trong vai trò quản trị công ty rất thuần thục. Trường học không có dạy nó. Tôi học từ anh Dõng năm xưa khi tôi có dịp quan sát anh tranh luận với các bạn khác. Cảm ơn món quà của anh nhé anh Dõng, anh bạn thân quí của tôi.

            Anh Dõng ít khi đi chơi riêng với tôi. Anh không có nhiều thì giờ để đi chơi vì bận học, vã lại anh cũng không mấy thích lang thang cả ngày như tôi. Trong những lần hiếm hoi cùng nhau ngồi uống cà phê hay trà đá ở quán cô Năm Lèo hoặc ở quán thương phế binh gần bờ sông thì hai anh em chúng tôi thích tán gẫu về triết học. Chia sẽ với nhau suy nghĩ của mình về những tác phẩm lớn của một thời như « Đôi Bạn Chân Tình » của nhà văn Thụy Sĩ gốc Đức Hermann Karl Hesse, « Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết » của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, « Kẻ Xa Lạ » của triết gia Pháp Albert Camus, « Buồn Ơi Chào Mi » của nhà văn Pháp Françoise Sagan, « Ngư Ông Và Biển Cả » của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway, vân vân và vân vân. Chẳng biết lúc đó chúng tôi lĩnh hội được bao nhiêu, phê bình đúng hay sai, và sự hiểu biết có phủ đầy lá mít hay không nhưng một điều chắc chắn là lúc đó tôi rất nể ông anh triết gia (bởi bản chất) Trần Văn Dõng của trường Trung Học Hà Tiên.

3/ MỘ GIÓ

Bây giờ đang là những ngày đầu năm âm lịch năm Bính Thân 2016. Hội chợ Tết của người Việt ở Mile Square Park của Quận Cam được tổ chức thật đình đám. Nghe người ta nói là rất đông và vui. Tôi không có mặt ở đó vì bận đi thăm mộ bà nhạc mẫu. Ngồi lặng lẽ ở nghĩa trang suốt mấy tiếng đồng hồ, nhìn những mộ bia thẳng tấp nằm sát mặt đất phủ cỏ xanh, tôi liên tưởng đến những người bạn đã ngã xuống ngày xưa ấy….

NguyenNgocThanhTrái: Nguyễn Ngọc Thanh

            Rồi nghĩ tới những thằng bạn thời trung học. Lại nhớ tới một cái Tết nào đó năm xưa, vào ngày mùng 5 âm lịch thì phải, anh Nguyễn Ngọc Thanh đã lấy ghe chở cả đám ra đầu gành Bãi Nò ăn tiệc mừng năm mới. Hình như là có anh La Văn Cao, Anh Trần Văn Dõng, anh Nguyễn Đình Nguyên, anh Trần Văn Mãnh, anh Lê Phước Hải, anh Hoàng Đức Trung, Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt, Trang Việt Thánh và vài người nữa không nhớ hết, tuyệt nhiên không có lấy một bóng nữ. Chúng tôi bưng theo nào là bánh tét, nào là dưa hấu, nào là gà luộc và dĩ nhiên không thiếu bia rượu. Cả đám mặc tình mà tiệc tùng và nỗ như pháo xuân. Được một lúc thì ba thằng Dương, Kiệt, Thánh (?) lặng lẽ biến mất. Chừng nửa giờ sau thì một thằng trở về, đứng ờ một khoảng cách khá xa vừa gọi vừa quay đi « có chuyện lớn rồi đi tới đây nhanh lên. » Thế là cả bọn đi theo nó. Đến một góc núi, mũi ông Đốc Nhơn, thì thấy hai thằng quỷ kia đang xì xụp khấn vái trước một ngôi mộ, và trên mộ bia ghi « Tiến Sỹ Hà Quốc Hưng Chi Mộ ». Vừa vái vừa réo « Hưng ơi là là Hưng ơi sao mày đành lòng bỏ đi sớm vậy Hưng ơi là Hưng ơi ». Thiệt tình là tôi muốn nhào vô đá cho mỗi thằng một cái. Chơi chi mà ác nhơn. Mới đầu năm đầu tháng không chúc lành thì thôi có đâu lại trù cho mình chết yểu. Mà biết đâu mình sẽ quảnh củ tỏi sớm cũng không chừng. Ông thầy bói cà chớn nào đó đã nói là mình sẽ không sống qua 26 tuổi mà. Cả bọn ôm bụng cười với trò lí lắc này nhưng riêng tôi thì rất quạu. Mấy mươi năm qua rồi bây giờ nghĩ lại thấy vui vui. Biết đâu nhờ tụi nó khai tử tôi lúc đó mà tôi còn sống tới bây giờ với cái tên mới Hà Hưng Quốc sau khi qua Mỹ. Và biết đâu cũng nhờ lời tiên tri của tụi nó mà tôi đã học hành tới nơi tới chốn. Chỉ có trời biết, đất biết và tụi nó biết thôi.

4/ BỐN CHÀNG NGỰ LÂM PHÁO THỦ CỦA HÀ TIÊN

Kiệt, Thánh, Dương và tôi học cùng lớp. Bốn đứa chơi chung với nhau rất thân. Chúng tôi thường kéo nhau lên ngồi dưới gốc cây da Chùa Lò Gạch đấu khẩu về chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, có khi đấu khẩu đến cả tiếng đồng hồ, đến xùi cả bọt mép. Thường là tôi với Dương đứng về một phía của trận chiến tranh luận còn Kiệt với Thánh ở phía bên kia. Thời đó chúng tôi đã sớm có những quan tâm đến vấn đề chính trị và xã hội. Và có lẽ sự chọn lựa hướng đi của tương lai cũng đã định hình từ những ngày đó. Dầu đấu khẩu có gay gắt đến đâu thì cuối cùng chúng tôi vẫn là một nhóm bạn keo sơn. Nhiều khi keo sơn quá mức. Keo sơn đến độ cả bốn đứa đều cùng trồng cây si trước nhà của một giai nhân đất Hà. Cũng may là chỉ cạnh tranh nhau để giành sự chú ý của người đẹp ở mức độ vừa phải chứ chưa đến nổi phải oán ghét nhau. Tôi tin rằng tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ bị sức mẽ (có đúng không vậy quí cụ?). Cho đến ngay cả sau khi Thánh và Kiệt rời trường Trung Học Hà Tiên chuyển về Sài Gòn tiếp tục việc học thì sự gắn bó đó cũng vẫn không thay đổi.

TrangVietThanhTrái: Trang Việt Thánh

            Trong bốn đứa có lẽ Thánh là người suy nghĩ sâu sắc và chững chạc hơn cả. Có lẽ do suy nghĩ quá nhiều và nếm đủ hương vị mật đắng của tình yêu đầu đời quá sớm mà đầu Thánh đã lưa thưa tóc bạc từ khi còn đi học. Thánh có thói quen chỉ ngón tay cái lên trời hoặc xòe ngửa cả bàn tay ra phía trước lắc lắc lúc lý luận. Khi suy nghĩ lung lắm thì hay dùng ngón tay giữa gãy trên đỉnh đầu. Còn lúc bối rối hay muốn che dấu cảm xúc thì dùng một ngón tay của bàn tay trái khều khều chân tóc trước trán. Sau mấy mươi năm không biết Thánh đã thay đổi quán tánh đó chưa hay vẫn như vậy. Thánh giỏi toán, giỏi lý luận, đặc biệt là tam đoạn luận, và giỏi cả phản biện. Sau này nhờ Dương nói mà tôi mới biết thêm là Thánh còn có tài làm thơ với bút hiệu là Hoài Nhân.

« Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sỹ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông
Thuyền ai đó chơi vơi trôi dưới Nguyệt
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không. »
(Ngày Về -1970)

« Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!. »
                              (Dấu Tình -1969)

Đọc những dòng thơ của Thánh sáng tác từ thời trung học mà thấy lòng mình chơi vơi (và chới với) . Nếu tôi là « người ấy » thì chắc chắn tôi đã ngã gục trước những con chữ có linh hồn của hắn ngay. (Tuy nhiên, có một câu chắc chắn đã bị nàng trừ điểm là câu « dại dột yêu em nên chết cả đời« . Thánh ơi thằng con trai biết yêu sớm là thằng khôn trước tuổi. Yêu đúng đối tượng đáng yêu và nhờ đó mà mình có thể vắt máu trái tim ra viết những dòng thơ thì rõ là thằng con trai đó cực kỳ thông minh và sáng tạo chứ sao cho là dại dột. Ngày hôm nay khả năng cảm nhận, nắm lấy và diễn đạt những thứ xuất phát từ trái tim người ta gọi là « emotional intelligence » đó bạn. Tình yêu đích thực phải là « no return, no refund » nghe bạn).    

            Ngoài tài năng nổi trội, Thánh còn là người hào phóng và hết lòng với bạn. Có những lần Dương và tôi lang thang ở Sài Gòn phải nhờ đến sự giúp đỡ, Thánh đã không ngần ngại đem cầm cả dây chuyền vàng mẹ cho để cứu nguy bạn bè. Hiếm có. Cảm ơn nghe ông bạn.  

Trái: Trần Tuấn KiệtTranTuanKiet

                        Kiệt đẹp trai nhất trong bốn đứa lại thông minh. Thầy Hiển luôn khẳng định như vậy. Kiệt vui tính và hay làm trò. Phá phách cũng một cây xanh rờn. Bình thường thì có dáng vẽ rất thư sinh nhưng một khi đã nổi nóng thì dám chơi tới bến, bất kể hậu quả. Da của Kiệt rất trắng. Mỗi khi da cổ bắt đầu nổi lấm chấm đỏ là lúc Kiệt bắt đầu quạu. Và khi Kiệt đã thiệt quạu thì mặt đỏ gay. Lúc đó phải coi chừng. Sau này Kiệt lên Sài Gòn tiếp tục việc học ở trường Hưng Đạo nằm trên đường Cống Quỳnh rồi vào học kỹ thuật Phú Thọ (?). Khỏi cần giới thiệu thì cũng đủ biết Kiệt là một trong những học sinh ưu tú thời đó. Có vài lần ghé qua thăm Kiệt, hình như là nhà ở trong hẻm Bùi Viện (?), rồi cùng nhau lội bộ đi qua nhà Thánh. Bây giờ thì chẳng còn nhớ nhà Thánh nằm ở đường nào. Chỉ nhớ là có một lần đi ngang qua cầu Ông Lãnh bị chị em ta chọc ghẹo, và họ chỉ nhắm vào Kiệt vì cái tội đẹp trai, đã làm cho Kiệt lúng túng thấy rõ. Thì ra Trần Tuấn Kiệt không sợ trời không sợ đất lại sợ quí cô nương cầu Ông Lãnh.   Lần sau cùng gặp lại, sau bao nhiêu năm xa cách, Kiệt vẫn là Kiệt « quậy » của năm nào. Chỉ có điều là tóc đã muối tiêu và hình như có nhiều mỏi mệt. Duy có một điều không mỏi mệt sau ngần ấy năm là việc nhắc tên của một người. Còn ai khác nếu không phải là nàng, giai nhân của đất Hà.    

   LePhuocDuong     Trái: Lê Phước Dương

            Dương với tôi là cặp bài trùng. Tôi gọi má của Dương là Chị Hai từ khi tôi biết Dương. Má của Dương bảo tôi gọi như thế vì chị gọi ba tôi là Cậu Năm, hình như là bà con xa chi đó (?). Tôi ăn ở nhà Dương. Tôi ngũ ở nhà Dương. Đôi khi tôi mặc cả quần áo của Dương. Tôi đã từng nói đùa với Dương là tôi lớn lên nhờ chén cơm phiếu mẫu. Nhưng nói như vậy là không đúng và không biết quí ân tình của Chị Hai bởi vì phiếu mẫu cho cơm Hàn Tín là bố thí, vã lại tôi không phải là Hàn Tín, còn những bữa cơm của Chị Hai là những bữa cơm trộn cả thương yêu vào đó đối với cả hai đứa tôi chứ không phải bố thí. Chị Hai rất thương Dương và vì là cặp bài trùng nên Chị Hai cũng coi tôi như con trong nhà. Nhà Dương có một bộ phản gỗ đặt ở phòng khách cạnh cửa sổ. Trên chiếc phản gỗ đó tôi đã có không biết bao nhiêu giấc ngũ trưa. Nói tóm lại, tôi gần gũi với Dương nhiều hơn là gần gũi với anh em ruột của mình.

            Dương rất trực tính. Ngay trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Dương vẫn thường xài thanh long đao của Quan Công hoặc cặp búa lớn của Trình Giảo Kim. Tuy nghe giọng điệu có vẽ táo tợn nhưng Dương lại là một người rất mẫn cảm, yêu thơ văn và có khả năng sáng tác, lại rất thủy chung. Dương lưu trữ từng sự kiện ở quá khứ của bốn đứa trong bộ nhớ. Dương có thể đọc vanh vách từng bài thơ của bạn bè đã sáng tác. Dương cưu mang từng kỷ niệm trên lưng với tất cả tự hào và với tất cả sự trân trọng. Nghe đâu Dương cũng rất can đảm trên chiến trường. May là gãy súng sớm chứ nếu không thì đã leo cao hoặc lên bàn thờ ngồi từ lâu.

            Dương ví tôi giống như Dương Quá si mê Cô Long nhưng thiếu thủy chung của gã. Đúng quá. Để đáp lại, tôi muốn tặng Dương một bài thơ ngắn của sư Giới Đức Triều Tâm Ảnh.

« Dòng sông không chảy hai lần
 Ai hay giọt nước tần ngần không trôi
Luyến lưu là chuyện nực cười
Tử sinh bám siết ngàn đời biết sao. »

Dương cũng ví tôi như Lệnh Hồ Xung hai đạo hắc bạch đều chơi, chánh tà đều chẳng cần phân biệt. Đúng luôn. Dương thường nói « sinh ra Dương là cha mẹ còn hiểu Dương chỉ có một mình Hưng, và ngược lại. » Chẳng sai. Nhưng riêng góc khuất tâm linh thì tôi e rằng Dương chưa thật thấy hết. Có lẽ bây giờ là cơ hội tốt để tôi mở luôn cánh cửa cuối cùng để cho thằng bạn thân nhìn thấy, thông qua những dòng thơ tôi sáng tác hơn 40 năm trước khi hai đứa vẫn còn ngồi chung dưới một mái trường,

« Khói cay và cỏ lã
Còn em no bóng tối
Còn anh no hẹn hò
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi anh
Bây giờ là thời gian xanh đậu môi em
Còn Ta
Tiếng im từ lòng thẳm
Không có màu thời gian
Bến đậu vô cùng
No xót xa?
No hy vọng?
Gì?

Anh cuối xuống ngực em màu sữa
Tiếng thở em
Và tiếng thở anh
Hòa quyện
Như loài rắn ân cần làm tình trong đêm tối
Ta đến gần
Ôm mặt trời trong tay
Mặt trời lạnh trong tay
Lạnh thủy tinh
Giữ một mình
Nơi miền của miền
Anh im lặng
Em nụ cười ngu ngơ
Ta bỏ đi, lành lạnh
Em nghe không
Tiếng thở dài nơi anh?

Mở con mắt tre gai
Nhìn nhau qua ngục tối
Môi tìm môi âm thầm
Tay tìm tay vòng rắn
Tiếng động nào tháng năm. »

(Đơn Điệu – 1970)

Cánh cửa đã mở xong. Bên sau cánh cửa vừa mở đó, ai mới là Hưng?

HaQuocHung (2)Trái: Hà Quốc Hưng

            Tuy là đôi bạn chân tình nhưng Govinda đã chọn theo chân đức Phật để trú ngụ dưới cây dù giới hạnh và hưỡng sự an lạc của một đời sống phạm hạnh trong khi Siddhartha thì đã chọn con đường trãi nghiệm của bản thân để khám phá chính mình và khám phá sự vận hành của pháp giới. Và trên hành trình đó Siddhartha đã từng đi đến tột cùng của những trụy lạc. Tuy sa đọa đến vậy nhưng tiếng « OM » linh thiêng vẫn chưa bao giờ rời bỏ tâm thức Siddhartha. Người chèo đò Vasudeva đã phải chờ ở trên dòng sông cho đến khi Siddartha giác ngộ. (« Câu Chuyện Dòng Sông » – Hermann Hesse). Có thấy ra thực tướng của thằng bạn chưa vậy Dương?

            Vì tri ân bạn bè cũ chung trường nên hồi tưởng lại cho vui. Có khi tất cả chỉ là hư cấu. Thánh ơi, hãy lôi cổ thằng Dương ra gõ một cái vào đầu nó thật đau và nói cho nó biết thế nào là:

« Một con sông chảy, một con sông
Một hạt nước trôi ngay giữa dòng
Đến đi như thế là như thế
Cần gì phải hỏi đục hay trong.
Một mùa đông lạnh, một mùa đông
Một hạt nước bay giữa tuyết bông
Đến đi như thế là như thế
Lưu dấu làm chi giữa hư không.
Một cơn mưa qua, một cơn mưa
Một hạt nước rơi chạm lá thưa
Đến đi như thế là như thế
Tưởng chi âm điệu dứt hay chưa. »

                                            (Hà Hưng Quốc – Tết 2016)

Hình ảnh: Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng, Hoàng Thị Minh Liên

Giới thiệu Lê Phước Hải

Thầy Cô và các bạn thân mến, hôm nay viết một bài về một người bạn tuy không học cùng lớp với mình nhưng cũng là một thời làm văn nghệ chung rất lâu. Đó là bạn Lê Phước Hải (anh của bạn Lê Phước Dương, nhà chỉ có hai anh em thôi).

Hải tuổi mẹo, lớn hơn mình một tuổi (tức là mình thì tuổi rồng…), nhưng không biết sao lại học sau mình một lớp, Hải học chung với các bạn Tăng Kim Sơn, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn, Trang Lệ Thũy, Tiền Minh Quang, Trần Phước An, Mong Đức Hưng,….Theo lời kể của Lê Phước Dương thì Hải học từ lớp 1 đến lớp 5 rất khá những năm đầu, sau đó hơi yếu vì ham chơi, mê các môn chơi như: đánh bạc bằng hình, bắn dây thun, bắn đạn bi, ping pong và billard…

Lúc nhỏ Hải rất lưu linh lưu địa giận cở nào cao lắm mẹ đánh được 1 roi là Hải chạy mất. Một lần Hải trốn học Thầy ghé nhà cho hay, Mẹ không nói tiếng nào để cho Hải ăn uống tự nhiên …đến 4 giờ sáng Mẹ thức dọn đồ đi chợ bán mới dở mùng nơi ghế bố Hải ngũ 1 mình mà cầm roi đánh búa xua…dù đau nhưng như cá nằm trong lưới Hải lạy Mẹ như tế sao vừa khóc vừa năn nỉ: « Con không bỏ học nữa đâu Mẹ ơi… » Mẹ buông roi rồi ôm con và cả 2 cùng khóc..

Năm thi lên lớp Đệ Thất, thi hỏng phải ở lại hai năm, Lê Phước Dương kể là khi đi dò kết quả thi lên Đệ Thất, không thấy tên mình trong bảng kết quả, Hải về nhà trùm mền nằm yên, Mẹ hỏi: « Con sao rồi Hải ơi ? », Hải nói: « Con bị cảm sốt rồi..!! » . Bởi thế Hải tránh được cơn bị đòn vì thi hỏng vì đang giả bệnh nên không bị mẹ đánh đòn,…

Cuối cùng thi lần thứ ba thì lần nầy thi cũng đậu, vào học lớp Đệ Thất bậc Trung Học trường Trung Học Hà Tiên…(niên khóa 1965-1966). Hải biết yêu sớm và thích làm thơ, thường làm thơ đến nỗi quyển tập học nào mặc dù là dầy cả trăm trang nhưng cũng còn cở phân nữa thôi, phân nữa kia thì ghi thơ đầy vào đó, những bài thơ làm ngay trong lớp học để tặng người đẹp tên Quỳnh Như (tên ở nhà là Bảy), bán nước đá bào chè đậu phía sau văn phòng Hiệu Trưởng Trường Trung Học.

Trong lúc học bậc Trung Học, Hải thích ca hát, vì thế Hải gia nhập vào ban nhạc của nhóm mình cùng với Mạnh Thường,…Hải lấy tên hiệu là Hồ Hải (vì ái mộ một đàn anh lúc xưa cũng là một người chơi nhạc, chơi đàn guitar rất tài giỏi tên Hồ Hải.., anh Hồ Hải nầy thường chơi với Thầy Võ Thành Tài, Võ Thành Tường lúc hai Thầy nầy ở trọ tại căn biệt thự Ông Bầy đường Bạch Đằng xéo xéo nhà mình). Bài ruột của Hải thường ca và ca rất hay là bài « Sao Em Không Đến » của nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Mỗi lần dợt ca tại nhà Mạnh Thường thì Hải thường nói đùa là « Để mình ca xong bài nầy rồi còn về nhà đi bắt heo,…!! »

Lop_Hoc_TruongThanhHaoLê Phước Hải (trên cùng, bên trái) với lớp học Trung Học Hà Tiên 

Đến cuối năm lớp Đệ Tứ (khoảng năm 1969) vì đã trể tuổi học nên Hồ Hải lên sài Gòn đăng vào Hải Quân, đi đó đây bốn phương cho thỏa chí giang hồ, lúc đó Hồ Hải lại ít liên lạc với nhà ở Hà Tiên.

Hải cưới vợ năm nào mình cũng không biết,…vì sau nầy mỗi người đi một nơi nên không còn liên lạc với nhau nữa,…

Đến sau giai đoạn lịch sữ 1975, mọi người vứt bỏ súng đạn lần lượt trở về quê, Lê Phước Dương đã về được 3 ngày nhưng chưa thấy Hải đâu cả,….Mẹ ở nhà trông đứng trông ngồi,…Rốt cuộc vì nóng lòng quá nên đi xem bói,…Bà thầy bói nói rằng nếu không chết rồi thì cũng đã đi xa, mà đi trên tàu ra xa rồi cũng sẽ trở lại…Sau đó khoảng nữa tháng sau thì Hải về nhà kể lại là suýt nữa thì đã đi theo tàu Hải Quân đi luôn rồi,…

Bạn học chung Trương Thanh Hùng có kể rằng:« Lê Phước Hải (Hồ Hải) học chung với tôi từ Đệ Thất đến Đệ Tứ. Sau ngày 30/4, tôi lại chơi rất thân với Hải. Có lần, đang xuống đò đi Vĩnh Điều, gặp Hải dọc đường, rủ một tiếng, Hải cùng đi theo luôn, không cần mang theo quần áo gì hết, chơi mấy ngày mới về. Hồ Hải có giọng ca Trời cho, có thể nói là hiếm có nhưng không gặp thời nên không trở thành ca sĩ chuyên nghiệp ».

Sau đó Hải lập gia đình, người vợ của Hải tên là Hương,…nhưng không may vợ Hải lại vắn số, rời xa Hải về cởi Phật,….Hải buồn vì vợ chết nên có ý quyết đi tu. Ở nhà cùng ăn chay trường với Mẹ. Mẹ rất mừng vì nghe rằng « buông đao là thành Phật » (mà chắc là chỉ có tướng cướp khi buông đao mới thành Phật thôi…!!)

LePhuocHai_va_vo_Huong_a LePhuocHai_va_vo_Huong_b

Lê Phước Hải và người vợ đã quá cố (tên Hương)

Vài tháng đi lên Đà Lạt và khoe rằng đang theo học với vị Cao tăng nào đó. Vài tháng về nhà đôi ba ngày rồi lại đi. Và ngày trọng đại đã đến, Hải nói là: « Mẹ ơi chuyến nầy con lên Đà Lạt Thầy sẽ xuống tóc cho con… ». Mẹ nghe mà mừng cho con của mình….(thực ra theo ý nghĩ của Lê Phước Dương em của Hải thì cho là tại sao xuống tóc lại khó đến thế?? Ở Hà Tiên chỉ cần ra tiệm hớt tóc tốn 10 ngàn đồng thôi là cái đầu sẽ bóng lưởng…).

Ngày xuống tóc, Huynh Hải có mướn thợ chụp vài tấm hình mang về cho Mẹ xem. Bà rất mừng vì có câu: » Nhất nhơn thành đạo cửu huyền thăng… ». Rồi lại bẳng đi một thời gian 3 hay 6 tháng gì đó Huynh Hải trở về nhà và ăn mặn không đi nữa, Dương hỏi:

           – « Ủa sao Huynh không đi lên Đà lạt nữa? »…

Hải nói:

            – « Nghỉ đi rồi, không tu nữa,!!.. »

Dương nói:

            – « Sao vậy, đi cực khổ lên xuống cạo được cái đầu tốn của tui trên 10 triệu đồng,…!! phải Huynh cạo ở Hà Tiên nầy tốn có 10 ngàn thôi. Đâu Huynh kể thiệt cho tui nghe lý do gì mà sao Huynh về nhà luôn ?!!.. »

Đắn đo một lúc, Huynh Hải cũng kể rỏ ra là…: Hôm đó trực gỏ chuông cho khách đến viếng lạy Phật…Huynh nói: « Từ 9 giờ trở đi Huynh gỏ chuông bình thường, đến một lúc có một cô nàng đẹp, (phải nói là quá đẹp…), Huynh lo nhìn nàng lạy mà gỏ hụt chuông, cây dùi vuột tay rớt xuống đất…!! Sau đó bị Thầy gọi vào trong quở trách nói là tâm của Huynh còn dao động khó lòng mà tu hành được. Huynh mới cải lại là đó chỉ là tai, mắt bên ngoài nghe nhìn thôi chứ tâm bên trong không có động chút nào…(thực ra thì có động hay không chỉ có Trời mà biết,…!!)…Rồi bởi vì thế mà Huynh phải hoàn tục từ đó đến nay, ngày nào cũng ăn mặn không còn ăn chay nữa,…!! ».

LePhuocHai_1 LePhuocHai_2

Huynh Lê Phước Hải sau khi xuống tóc...

 

Lê Phước Hải hiện tại

Lê Phước Hải rong chơi cuối trời quên lãng

Viết đến đây, mình kể thêm chuyện Hoàng Thị Minh Liên gặp Huynh Hải như sau:

Minh Liên nói: « Sau biến cố « mắt nhìn chứ tâm không động đó », Huynh Hải có ghé tới nhà Minh Liên ở Định Quán tạm trú cũng hơn một tháng và Huynh nói là vì Thầy cho phép nghỉ về thăm nhà và dặn Minh Liên là đừng nói cho Phước Dương biết. Trong thời gian nầy Huynh Hải vẫn còn ăn chay nên mỗi buổi sáng Minh Liên phải cố xoay sở đổi món ăn cho Huynh đở ngán cơm, nhưng chủ yếu cũng chỉ là đậu hủ ướp xả ớt chiên, đậu hủ sốt cà chua….cũng là đậu hủ và đậu hủ mà thôi…!! Huynh Hải cũng biết phải quấy nên nhìn thấy Minh Liên tiếp đải ăn uống như vậy nên nói với Minh Liên là vì Huynh tu theo một môn phái gì đó nên chỉ có ăn một buổi sáng thôi, còn đến ngọ thì chỉ uống sữa đậu mà thôi và phải nhịn luôn đến tối không được phép ăn uống gì cả….Có cái là lúc đó sao Minh Liên lại khờ quá, nói như vậy cũng tin theo không biết suy nghĩ ra điều gì cả,…Bây giờ kể ra thấy cũng tội nghiệp anh Hải, mỗi ngày chỉ ăn có một buổi như vậy chắc ảnh xót ruột lắm…Mà được cái là anh Hải lúc nào cũng tiếu tiếu làm cả nhà cũng vui lây,…

Trong lúc Huynh Hải còn ăn chay, anh Trần Văn Dõng cũng có dịp gặp và kể lại chuyện như sau: « Hồi mình còn đi làm ở Kiên Lương, khoảng đâu năm 2010-2011, Hải có xuống Kiên Lương tìm đến nhà mình chơi, nói chuyện có vẻ hơi nhuốm mùi của Phạm Công Thiện, Bùi Giáng…, sau đó mình mời ở lại ăn cơm, Hải nói thôi để ra quán cơm chay ăn (chắc lúc đó còn ăn chay), rồi bặt tin luôn từ đó…. »

Hiện tại thì bạn Lê Phước Hải tức Hồ Hải vẫn còn ở tại nhà Hà Tiên, qua một cơn bệnh làm cho con người trở thành ăn nói hơi khó khăn, thôi mình chỉ có lời cầu chúc cho người bạn văn nghệ năm xưa giờ đây đủ can đảm, nghị lực để vượt qua nỗi khó khăn của bệnh tật và mong rằng bạn Hồ Hải cũng tìm được chút niềm vui nào đó trong lúc tuổi về chiều nầy,…

                                                                 Trần Văn Mãnh

(viết theo lời kể của Lê Phước Dương, Trương Minh Hùng, Hoàng Thị Minh Liên và Trần Văn Dõng)

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hồ Thị Kim Hoàn