Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa với chị Tô Thanh Phượng sau hơn 40 năm

Thầy cô và các bạn thân mến, hôm nay mình sẽ kể một câu chuyện vui:  Đầu tiên thì một bên đã định cư ở nước Pháp nầy từ những năm đầu của thập niên 80, còn một bên thì định cư ở Pháp vào những năm giữa thập niên 80…cùng ở ngoại ô thủ đô Paris mà rốt cuộc không hay biết gì cả…Mấy chục năm trôi qua, nhờ vừa rồi có bài vở, hình ảnh và clip nói về cuộc họp mặt của Hội Đồng Hương Hà Tiên, người nầy nhìn ra người kia,…thật là hay và rất quý. Số là vì mình có giới thiệu cho quý hội viên đồng hương Hà Tiên xem bài vở và hình ảnh trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của mình, rốt cuộc có người chị ở Hà Tiên ngày xưa nhìn ra hình mình và đã liên lạc được với nhau. Đó là chị Tô Thanh Phượng, chị Phượng là chị của bạn Tô Vĩnh Tuấn, bạn Tô Vĩnh Tuấn là bạn học cùng lớp các các bạn « Đệ Tứ Quốc Tế »: Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trang Lệ Thủy,….và còn nhiều bạn khác nữa…Ngày xưa nhà của chị Phương và Tuấn ở đường bến Trần Hầu, nhìn ra Đài Kỷ Niệm, gần quán nhà của Nguyễn Thúy Vân đó…Má của chị Phượng và Tuấn là cô Loan, ngày xưa thường hay giữ tiệm thuốc tây Thanh Bình, bạn nào ngày xưa có mua thuốc tây ở tiệm Thanh Bình thì sẽ nhớ rỏ. Ngày xưa tuy mình và Tô Vĩnh Tuấn học khác lớp (hai người học cách nhau một lớp) nhưng cũng có một thời gian mình và Tuấn cũng thường đi chơi với nhau. Chị Tô Thanh Phượng thì thuộc thế hệ đàn chị của Trung Học Hà Tiên, chị học trên mình rất nhiều lớp, chị Phượng học ở Trung Học Hà Tiên vài năm rồi sau đó chị lên Sài Gòn tiếp tục học và sau đó về sinh sống với gia đình ở Long Xuyên.

Khi đã liên lạc được với nhau rồi, chị có nhã ý mời mình và Ngọc Tiếng đến nhà chị chơi, chị khao cho một bữa cơm có rất nhiều món ăn độc đáo đầy hương vị quê hương Hà Tiên: canh nấm tràm, mấm chưng, ăn tráng miệng thì có món « xôi nước » và các loại trái cây,…Tất cả đều do chính tay chị làm nấu nướng ra, nguyên liệu nấm tràm và mấm thì chính gốc ở Việt Nam (Hà Tiên) đem qua…Bữa ăn rất ngon, hòa lẫn với niềm vui được gặp lại người đồng hương, đồng trường nên mọi người rất vui vẻ, rất mến nhau, cùng nhắc lại chuyện ngày xưa và những người quen biết ở Hà Tiên. Qua bài viết nầy mình xin gởi đến chị Tô Thanh Phượng lời cám ơn và lòng cảm kích sự tiếp đón thân tình của chị và công khó của chị đã bỏ thời giờ chuẩn bị các món ăn ngon.

Vì mình vốn là « con mọt » hình ảnh Hà Tiên xưa nên cũng không quên hỏi thăm chị xem chị có còn giữ một số hình ảnh ngày xưa, thời đi học hay không…Chị vui vẻ mở ra xem vài tập hình ảnh cũ và cuối cùng mình cũng được phép chị chia sẻ vài hình ảnh để thầy cô và các bạn xem lại để nhớ thầy cô và bạn xưa.

Chị Tô Thanh Phượng

Ngoài ra chị Tô Thanh Phượng còn có vài tấm hình thầy cô thời Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên như sau đây:

H1: Bức hình xưa chụp trước ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, đường Mạc Công Du, thầy đứng giữa hình là thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, từ trái qua phải: chị Nguyệt (con của thầy Trịnh Học Ký, em của các anh Trịnh Thanh Quang, Trịnh Thanh Tùng), kế là chị Lâm Xuân Hương (chị Chín Hương chị của chị Lâm Xuân Cúc), thứ nhì bìa bên phải là chị Tô Thanh Phượng. Còn các vị thầy và học trò khác thì không nhìn ra.

H2: Bức hình nầy hình như chụp ở Đài Kỹ Niệm Hà Tiên, phía sau là chiếc tàu của Quan Thuế Hà Tiên, xa xa là Pháo Đài. Bìa phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy Lý Hóa Trung Học Hà Tiên xưa), cô mang kiếng đen quần áo trắng là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa), đứng bìa trái là anh Đỗ Thành Tâm.

H3: Hình như bức hình chụp ở bãi Mũi Nai Hà Tiên, cô trong hình hình như là cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

H4: Hình thầy cô và học sinh đi chơi bãi biển Hà Tiên, người mặc áo đen có thể là thầy Bùi Hữu Trí (dạy Pháp văn Trung Học Hà Tiên xưa)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm..Trần Văn Mãnh, chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Chị Tô Thanh Phượng và Nguyễn Ngọc Tiếng (07/2019)

Hội ngộ Trung Học Hà Tiên xưa sau hơn 40 năm.. chị Tô Thanh Phượng và Trần Văn Mãnh (ngoại ô Paris, hội ngộ tháng 7 năm 2019)

Từ biệt Lưu Kim Nhan (Thủy Trang)

Thầy cô và các bạn thân mến, trưởng Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ », bạn Trang Lệ Thủy (ký bút hiệu Thủy Trang) vừa viết một bài để tưởng nhớ một người bạn cùng trường cùng lớp ngày xưa, đó là bạn Lưu Kim Nhan, Kim Nhan lại cũng vừa chia tay chúng ta để mãi mãi đi về cỏi vĩnh hằng…Nghĩ cũng lạ, vì ngày xưa khi mình còn học bậc Trung Học tại trường Trung Học Hà Tiên, có thể nói mình biết gần như tất cả các bạn học nam nữ (đa số là nữ…!!) cùng trường…Tuy vậy mà ngày nay khi nghe tên bạn Lưu Kim Nhan, là học sinh trung học Hà Tiên ngày xưa, mình lại hoàn toàn không biết bạn Kim Nhan nầy,…Vậy mà lớp của bạn Kim Nhan chỉ cách lớp của mình một lớp mà thôi,….Trong lớp của bạn Kim Nhan mình quen biết rất nhiều, hầu như gần hết cả lớp,…Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Thị Phương Nhu,..v.;v…..kể ra đây không hết được,…nhưng quả thật là mình không biết bạn Lưu Kim Nhan, ngay từ lúc khi còn học cho đến bây giờ mình cũng không biết bạn Kim Nhan. Nhưng thôi, lúc trước không biết thì bây giờ xem như biết, qua sự thông báo của bạn bè cùng trường, nhất là bạn Lê Thị Việt Nga đã cho thông tin khá đầy đủ về Lưu Kim Nhan. Mình xin tóm tắt lại ở đây để cho thầy cô và các bạn biết rỏ nhé,…

« Lưu Kim Nhan: Lưu Kim Nhan bà con bạn dì với Lê Thị Việt Nga. Ngày xưa nhà của Kim Nhan ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Kim Nhan là con của nhà tiệm vàng Kim Quang ở Hà Tiên. Lúc học lớp đệ thất trường Trung Học Hà Tiên, Kim Nhan học chung lớp với Trương Thanh Hùng, Trần Quý Phụng, ..v..v…Khi gia đình Kim Nhan dọn về Châu Đốc thì Kim Nhan vẫn ở lại Hà Tiên tiếp tục học, và ở nhà thầy Hứa Văn Vàng (Kim Nhan cũng là cháu của thầy Hứa Văn Vàng). Bạn Lưu Kim Nhan mất ngày 29/10/2018 nhằm ngày 21 tháng chín, năm Mậu Tuất, âm lịch, an táng tại Châu Đốc ».

Chân dung Lưu Kim Nhan

Và sau đây xin mời thầy cô và các bạn đọc bài của bạn Thủy Trang, một người bạn cùng lớp với Lưu Kim Nhan, kể lại những kỷ niệm vui thời đi học, kể lại để thương tiếc, nhớ nhung một người bạn, một thời mà bây giờ ta chỉ có thể đặt tên là « ngày xưa »….và chỉ có thể sống trong tâm tưởng, trong ký ức vì những « ngày xưa » đó đã trôi qua không bao giờ trở lại nữa, có chăng là trong những dòng chữ, câu văn trong câu chuyện mà Thủy kể lại cho chúng ta qua bài viết sau đây…Thay mặt những cây bút quen thuộc và quý đọc giả của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » xin chân thành cám ơn bạn Thủy đã có tấm lòng ưu ái cho phép Blog của chúng ta được đăng lại bài viết nầy, bài viết đã được lên khuôn trên Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ » ngày 12/01/2019 gần đây.  (TVM )

Biết tìm đâu ngày xưa bây giờ…

Chỉ trong môt thời gian ngắn ngủi chừng vài tháng thôi, mà cả ba người bạn học cũ cùng lớp, cùng chung mái trường Trung học Hà Tiên xưa với tôi đã vĩnh viễn ra đi, trong đó có Lưu Kim Nhan, người bạn gái duyên dáng, thích nghich ngợm nhưng lại rất dễ thương.

Tuy học cùng lớp với nhau nhưng Kim Nhan, Trần Quý Phụng, Mai Thị Hạt, Trần Thị Phương Nhu lớn hơn tôi về mặt biết “yêu” rất sớm. Trong lúc tôi còn là cô trưởng lớp chỉ biết quậy phá, thì các bạn ấy đã biết yêu và đã có bạn trai rồi. Bạn trai của Nhan có cái tên rất oai phong và dễ sợ lắm, anh tên “Dần”. Anh Dần học trên Nhan ba hay bốn lớp. Bọn chúng tôi hay gọi đùa anh là “Cọp”. Mỗi lần thấy anh đến tìm Nhan là cả nhóm “quậy” chúng tôi hò reo inh ỏi, nhất là Thanh Tuyên, Dương Hà và Ngọc Lê: “Nhan ơi! Cọp đến tìm bạn nè”. Vậy rồi cả nhóm chúng tôi cười ầm lên. Nhan cũng chẳng chịu thua, cô tỉnh queo và còn ùa theo chúng tôi nữa, làm cho anh chàng “Cọp” sợ hải, chạy luôn.

Ngoài câu chuyện tình lý thú đó, Lưu Kim Nhan còn để lại cho chúng tôi một kỷ niệm không thể nào quên được. Tôi còn nhớ, khi lớp chúng tôi có những giờ học vào buổi trưa. Trong lúc cả lớp đang im lìm nghe thầy giảng bài và giọng nói của thầy cứ nhè nhẹ, êm êm. Ôi, sao mà buồn ngủ chi lạ, chúng tôi đang mơ mơ, màng màng thiu thỉu…ngủ thì văng vẳng bên tai có tiếng đàn “dây thun” do Nhan tự chế, dường như cô lấy vài sợi dây thun cột vào hai cây viết, rồi dùng ngón tay khảy nhẹ vào dây thun như người ta khảy đàn vậy. Tiếng đàn nghe sao mà chói tai kỳ lạ, thêm vào tiếng hát “kinh hoàng” của Lưu Kim Nhan cất lên rằng: “Má ơi con muốn chồng, ba má tính làm sao…” làm cho cả bọn chúng tôi giật mình tỉnh giấc và không sao nhịn cười được. May mắn mà thầy không biết được việc này.

Bây giờ biết tìm đâu tiếng hát ngây ngô, dại khờ của một thời để nhớ hở Nhan. Người nhạc sĩ kiêm ca sỉ đầy sáng tạo, phá phách và dễ thương này đã rời xa sân khấu “học trò” rồi và đã bỏ lại bao nhiêu khán giả “bạn bè”  một đời tiếc nhớ.

Nói lời từ biệt với Nhan sao nước mắt mình rưng rưng. Ôi!  nhớ sao là nhớ người bạn ngày xưa…của tôi.

Thủy Trang

Tác giả bài viết Trang Lệ Thủy

Tái bút: sau đây là liên kết qua bài viết của bạn Thủy Trang trên Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ »

https://quehuongvaniemnho.com/2019/01/12/tu-biet-luu-kim-nhan/

Dưới đây là một số hình ảnh các bạn học cùng lớp với tác giả bài viết Trang Lệ Thủy, dĩ nhiên là mình không thể đưa đủ hết các bạn trong lớp của Thủy, các bạn nào có hình chụp theo nhóm bạn trong cùng lớp xin chia sẻ, mình sẽ bổ túc thêm nhé, xin cám ơn tất cả.

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Phước An, Phạm Minh Tuyến, Tiền Thiên Lộc

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trịnh Xuân Tài, Nguyễn Ngọc Lê, Trần Thanh Tuyên

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Lê, Trần Thanh Tuyên, Nguyễn Thúy Vân

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Vân, Phạm Thúy Phượng

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Nhanh, Trần Phước An

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Vân, ? , Trần Yến Phượng, Lâm Xuân Mỹ và Phạm Thúy Phượng

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Nhanh, Hà Mỹ Oanh

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Trương Thanh Hào, Lâm Thị Lan

Hình ảnh tác giả bài viết và bạn cùng lớp: Trang Lệ Thủy, Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Hà Mỹ Oanh

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Phạm Thúy Phượng, Trần Văn Quận

Hình ảnh: Lê Thị Việt Nga, Trang Lệ Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hào…

 

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Hình chụp thầy cô và học sinh đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp Đệ Nhị B. (Hình: Nguyễn Thị Nhung)

Hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Niên khóa 1960-1961, học sinh lớp Đệ Thất. Hình: Trần Hồng Khanh

Đây là tấm hình chụp lớp học 11, niên khóa 1966 – 1967, trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, hình do chị Huỳnh Thị Kim chỉa sẻ, chị Trịnh Ngọc Lệ chuyển giao.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Bàn về một bảng chỉ đường đã hơn 45 năm nay

Thầy Cô và các bạn thân mến, cách đây vài năm mình tìm ra được trên mạng một bức hình do một người lính Mỹ đã có thời đóng quân ở Pháo Đài Hà Tiên chụp. Hình chụp một khúc đường sắp sửa vào Hà Tiên, do không có ghi rỏ các chi tiết trong hình, chỉ biết được người chụp hình ghi là « Hatien Rd. sign »  và tên người chụp hình là Fred McCarthy. Theo chi tiết nầy mình đoán là hình chụp một bảng chỉ đường vào Hà Tiên, tuy nhiên vị trí của cái bảng chỉ đường vào Hà Tiên nầy quả thật là một vấn đề nan giải !!! Vì thế mình để hình lên trang face book của mình, nhờ thầy cô và các bạn đồng hương chỉ giáo dùm và từ đó có một cuộc thảo luận về vị trí của bảng chỉ đường nầy rất hay và rất lý thú.  Có rất nhiều bạn tham gia vào cuộc thảo luận nầy và đưa ra các ý phỏng đoán địa điểm của bảng chỉ đường nầy. Nói chung các ý kiến có thể được xếp vào hai loại hoàn toàn đối lập với nhau: Nhóm ý thứ nhất nói rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khúc đường từ Thạch Động về Hà Tiên, khoảng trước nhà thờ Hà Tiên. Nhóm ý thừ hai thì cho rằng bảng chỉ đường nầy nằm ở khoảng đường vào Thuận Yên, trên con đường từ Kiên Lương về Hà Tiên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và bắt đầu đi vào Thuận Yên, vì Thuận Yên là đã thuộc về Hà Tiên.

« Hatien Rd. sign », photo: Fred McCarthy (1970). Bảng chỉ đường vào Hà Tiên do người lính Mỹ Fred McCarthy chụp khoảng trong những năm 1969 – 1970.

Trước hết mình xin cám ơn tất cả các bạn đã vui vẻ tham gia cuộc thảo luận để tìm ra vị trí chính xác của bảng chỉ đường nầy: Huỳnh Thị Sáu, Trần Văn Dõng, Trần Văn Hữu, Phan Văn Hữu, Trần Quyết Tới, Hien Doan, Lý Thanh Xuân, Thái Nam Phong, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Thuận Lý, Dương Thu Hà, Chị Huỳnh Thị Thu, Trần Hoàng Trang, Trương Minh Cát Nguyên, Trương An Nhu, Trương Minh Quang Nguyên, Kim Lý (Marilyn Kim)…..

Bây giờ chúng ta hãy phân tích hai nhóm ý nầy để tìm hiểu xem địa điểm của bảng chỉ đường nầy là ở nơi nào hợp lý nhất:

Ý kiến của nhóm một nói rằng con đường trong hình là con đường từ Thạch Động về Hà Tiên, gần dốc chùa Mũi Nai ?!! Ý nói rằng vào khoảng năm 1970 ở nội ô Hà Tiên có một số đường còn trải đất đá, con đường nầy có lẻ gần đường nhà thờ trên đường Phương Thành từ phía Thạch Động về Hà Tiên, ngày xưa có bạn thường đi qua trên con đường nầy và có chú ý đến bảng chỉ đường nầy…Có bạn tán thành ý kiến nầy vì trên khúc quanh từ Thạch Động về hướng nhà thờ Hà Tiên, gần nhà bạn Mong Đức Hưng, bên trái hình là nhà máy xay lúa của gia đình Lâm Xuân Mỹ, khúc đường nầy có trồng rất nhiều dừa và có con đường nhỏ đi vào xóm nhà dân….Theo nhóm ý một nầy thì có một số bạn đi dạy học trong những năm 1974 – 1976 ở Bãi Ớt và Hòn Heo, thường đi trên con đường Hà Tiên – Kiên Lương mà không nhớ có thấy tấm bảng chỉ đường nầy. Trước năm 1975, từ mũi Ông Cọp về Bãi Ớt thuộc quận Kiên Lương, còn địa giới quận Hà Tiên thì từ Mũi Ông Cọp đổ về phía Tô Châu, nên không có lý là tấm bảng này lại được đặt ở giữa xã Thuận Yên. Nội ô Hà Tiên xưa nằm trong xã Mỹ Đức, từ Đông Hồ đến khoảng khúc quanh nhà thờ ra biên giới. Nhìn trong hình, ta thấy con đường được tráng nhựa, mà lộ đi ngang qua Thuận Yên thì lúc đó chưa có tráng nhựa. Trước năm 1975, người Khmer ở Xà Xía, Thạch Động cũng thường chở đồ về chợ Hà Tiên bằng xe đạp có hai cái giỏ như thế (thường là chở me chín, thuốc Ara giấu trong các bao cám). Đến năm 1973 mới có chợ trời, xe cộ đông hơn. Như vậy là tấm bảng này dựng ở khúc quanh gần nhà thờ thì đúng hơn. Bên phải tấm hình ta thấy một chòm cây dưới tấm bảng có chữ HATIEN, có bạn lại cho ý rằng nếu là hàng cây sua đủa (so đủa) thì bức hình được chụp từ ngả ba xóm nhà dân về phía Hà Tiên, đầu đường vào xóm nhà dân là một cái nhà sàn, ngó xéo qua con lộ là nhà của Mong Đức Hưng, còn nhà bạn Chung Lưỡng Tài (Tài Chung) là căn nhà sàn thứ hai ngay chỗ đường hẻm đi vào xóm nhà dân. Tóm lại ý kiến của nhóm một là bức hình được chụp ngay khúc quanh đi vào Hà Tiên trên con đường từ Thạch Động về phía nhà thờ Hà Tiên…(tức đường Phương Thành).

Bây giờ ta hãy phân tích ý kiến của nhóm hai, nhóm nầy cho rằng tấm bảng chỉ đường Hà Tiên nầy được dựng ở trên khúc đường vào xã Thuận Yên sau khi qua khỏi xã Dương Hòa và qua Mũi Ông Cọp (ta nên để ý rằng từ phía dưới trái của hình vào trung tâm hình là con đường đi về phía Hà Tiên). Có bạn bàn rằng đây là khúc đường gần ấp Xóa Ảo vì từ năm 1969 đến trước 1975 hằng ngày bạn thường đi bằng xe đạp từ chợ Hà Tiên ra biên giới, nhìn thấy dưới chân Thạch Động chỉ có hai dãy nhà dọc theo hai bên lộ và trường học, từ trường học trở về Hà Tiên không có nhà theo dọc lộ, chỉ có lác đác vài mái nhà ở sâu trong ruộng, nếu hình chụp từ ngả ba Bà Lý ngay khúc quanh thì phải thấy chân núi Thạch Động, chắc không phải hướng từ Thạch Động về Hà Tiên!! Có bạn tham khảo ý kiến của một người chị cao tuổi gốc Hà Tiên hiện ở Mỹ thì chị ấy cho rằng hình nầy chụp khoảng ở Bãi Ớt về phía Hà Tiên, vì chị có nói rằng hằng ngày chị theo xe đò chở khách chạy đường Rạch Giá – Hà Tiên thường đi qua con đường và bảng chỉ đường nầy. Một bạn trong nhóm ý kiến thứ hai nầy còn lý luận chi tiết thêm như sau: khúc đường trên hình là khúc quanh lên dốc xã Thuận Yên từ đình Thuận Yên về Hà Tiên. Tấm bảng đặt ngay góc đi vào trường Trung Học cơ sở Thuận Yên, ngay cả giai đoạn chạy nạn giặc Pon-Pot cũng còn tấm bảng nầy. Phía sau lưng hai người đàn bà chạy xe đạp là căn nhà sàn, vậy phía bên đường nầy là mé biển, từ Hòn Heo về tới Hà Tiên chỉ có ba đoạn có khúc quanh ôm tay phải: Mũi Ông Cọp, Mũi Dông và dốc xã Thuận Yên. Xét về Mũi Ông Cọp và Mũi Dông, phía bên trái đường theo hướng từ Hòn Heo về Hà Tiên ở thời điểm 1970 thì không có nhà cất theo ven biển, ngay cả thời chạy giặc Pon-Pot cũng chưa có nhà cất ven biển. Vậy chỗ chụp hình nầy gần như chắc chắn là ngay dốc xã Thuận Yên, đây là con dốc ôm tay phải theo như trong hình chụp, những người đạp xe đạp hình như đang thoải mái thả dốc, không có tư thế cố gắng đạp xe !! Bạn nầy còn nhớ rỏ là lúc chạy giặc Pon-Pot qua Thuận Yên, hằng ngày đi học đều đi qua cái cống nước nhà anh Hai Lý, sau đó quẹo cua vào khu nhà ông Tư Hiệu, thấy tấm bảng chỉ đường nầy mỗi ngày. Sở dĩ bạn nầy nhớ rỏ từng chi tiết về địa điểm nầy là vì thời đó trong đầu óc bạn thường đặt ra câu hỏi ở đây là Thuận Yên, tại sao người ta đặt bảng chỉ đường về Hà Tiên ?!! Thực ra theo quy ước về bảng hiệu giao thông và cột cây số, bảng hiệu địa danh thường đặt cách thành phố, đô thị trong vòng bán kính vài cây số thôi, do đó ta có thể loại trừ hai địa điểm Mũi Dông và Mũi Ông Cọp vì cách Hà Tiên khá xa. vả lại nếu ta phóng ảnh cho to lên thì sẽ thấy các căn nhà bên trái hình, nhất là trong khoảng cách giữa hai người chạy xe đạp, ta sẽ thấy đó là căn nhà sàn, thấy rỏ từng cái cọc nhà. Còn bên phải của bức hình ta thấy một hàng cây, mà hàng cây nầy không phải hàng cây dừa, nếu từ Thạch Động chạy về gần nhà thờ Hà Tiên thì bên phải là hàng dừa nhà cô Phấn, thầy Tường…Tóm lại theo nhóm ý thứ hai thì địa điểm của bảng chỉ đường trong hình là ngay chỗ dốc xã Thuận Yên, gần khu vực Rach Vược.

Vị trí các ấp: Hòa Phầu, Rạch Vược, Ngả Tư, Xóa Ảo và Rạch Núi thuộc xã Thuận Yên, và xã Thuận Yên thuộc thị xã Hà Tiên hiện nay.

Một trong những khúc quanh ôm tay phải từ Bãi Ớt về Hà Tiên, đây là khúc quanh dốc xã Thuận Yên, địa điểm nầy có thể chính là địa điểm trong bức hình người Mỹ Fred McCathay chụp vào năm 1970, nơi bên phải ngày xưa có bảng đường HATIEN và bên trái có căn nhà lá.. Hình: Trương Minh Cát Nguyên 2018

Tai nơi có bảng Ấp Văn Hóa (Ấp Rạch Vược, xã Thuận Yên) có thể là nơi có tấm bảng đường HATIEN ngày xưa. Hình: Trương Minh Cát Nguyên, 2018

Qua sự phân tích của hai nhóm ý kiến về địa điểm chụp tấm hình có bảng đường Hà Tiên ngày xưa, chúng ta cũng chưa dám kết luận là ý kiến nào hợp lý hơn, tuy nhiên qua sự suy luận của nhóm ý kiến thứ hai, ta thấy rằng rất có thể là bảng chỉ đường Hà Tiên ngày xưa được dựng ngay khúc ấp Rạch Vược, theo bên phải mé đường, đối diện với một ven biển bên trái hình mà nếu ta đi lên một khúc nữa theo hướng đi về Hà Tiên thì có vài căn nhà sàn lợp lá, căn nhà có thể còn tồn tại trong hai bức hình đã cách nhau hơn 45 năm….

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả các bạn đã tham gia thảo luận rất vui và rất lý thú, vấn đề bên nào trúng hay sai không quan trọng, điều hay nhất và quý nhất là qua một bức hình thời xa xưa, chúng ta có dịp tìm lại quá khứ, nhớ về khung trời thân yêu ngày xưa chúng ta từng sống qua và cố tìm lại một sợi dây còn liên lạc được giữa quá khứ và hiện tại dù cho không gian thời gian có thay đổi như thế nào…

                Trần Văn Mãnh (cuối hè 2018, viêt theo các ý kiến đóng góp của các bạn)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Giới thiệu Trần Phước An

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 06/08/2018 mình vừa được biết tin nhà ở Hà Tiên cho biết bạn TRẦN PHƯỚC AN (em của Trần Minh Trí và em của thầy Nhật Quang), bạn An đã ra đi vĩnh viễn..Sở dĩ mình biết được tin là vì em mình là Trần Văn Phi là em cột chèo với An (vợ của An là chị Hai của vợ của Phi, nhà của An và vợ ở trên đường đi Thạch Động Hà Tiên), Phi ở Kiên Lương, nhưng có về Hà Tiên để dự lễ an táng của Trần Phước An và có cho mình hay tin, xin cám ơn anh Hai Dõng đã chuyển tin đến. Sau đó mình có liên lạc với anh Hai Trần Văn Dõng ở VN thì được biết tin là gia đình bạn Trần Phước An có tổ chức buổi lễ hỏa táng di hài An tai chùa Khmer ở ngoài Mũi Nai, Hà Tiên (bạn Trần Phước An mất ngày 04/08/2018 vì bênh lâu năm). Ngay sau đó mình có ý nhờ hai bạn Trương Thanh Hào và Trương Thanh Hùng là hai người bạn cùng lớp với Trần Phước An, viết một bài để giới thiệu về Trần Phước An, một bạn học cùng trường với tất cả chúng ta là học trò nhiều năm của Hà Tiên ngày xưa…Hai bạn đã vui vẻ nhận lời và Thanh Hùng đại diện để viết bài, nhắc nhở về Trần Phước An và Trần Minh Trí, An và Trí là hai anh em cùng học chung một lớp, riêng Trần Minh Trí mình cũng đã biết tin là bạn Trí đã mất từ rất lâu rồi, bạn mất vì bệnh trong những năm định cư sống bên nước Mỹ.

Sau đây là phần bạn Trương Thanh Hùng kể về Trần Phước An:

Đôi điều về bạn TRẦN PHƯỚC AN (người viết: Trương Thanh Hùng)

Nghe tin Trần Phước An đã qua đời, lòng có chút xốn xang vì chưa về được để thắp cho bạn nén nhang.
Tôi và Trần Phước An biết nhau từ năm học Đệ Thất, trường Trung học Hà Tiên. Có bạn nói là chúng tôi cùng học lớp Nhứt A do thầy Phan Tấn Hoàng dạy, nhưng tôi không nhớ, có lẽ bởi không có ấn tượng gì, mà phải đến năm Đệ Thất mới có nhiều kỷ niệm.
Năm học Đệ Thất, lớp chúng tôi có nhiều trường hợp anh em ruột cùng học chung lớp, đó là tôi với anh Trương Thanh Hào, anh em Tiền Minh Quang – Tiền Quí Mai, anh em Trần Tuấn Anh – Trần Yến Phượng và anh em Trần Minh Trí – Trần Phước An.
Tôi chơi khá thân với cả Trí và An, nhất là An nên viết đôi dòng về An và Trí, coi như để tưởng nhớ người bạn vừa quá cố (mà cũng có lời động viên của anh Mãnh).
Người Hà Tiên xưa, có lẽ ai cũng biết gia đình ông Yết Ma (Yết Ma là một chức vị trong đạo Phật, dưới cấp Hòa Thượng) và việc ông bị một đệ tử giả điên chém chết lúc còn tu trong chùa Vân Sơn ở Đá Dựng. Về sự kiện này nếu có điều kiện tôi sẽ viết tiếp hầu các bạn. Gia đình ông có khá đông con, mà người con thứ tư là thầy Nhật Quang, trụ trì chùa Phù Dung. Trí và An là con của ông Yết Ma, cả hai đều đẹp trai, giỏi võ, Trí còn có nghề đờn cổ nhạc rất hay, là học trò của nhạc sư Văn Vĩ. Sau này anh qua Mỹ sống và đã chết khá lâu.
Trước hết nói về Trần Phước An. An đẹp trai, có dái tai khá dài như tai Phật, đó là người có tướng sống lâu, nhưng không biết tại sao lại chết tương đối sớm; tánh tình hiền lành, vui vẻ, vì đi học trễ nên An phải đi lính khi hết năm Đệ Tứ. Nhà của An ở bên cạnh ngôi chùa nhỏ của gia đình trước ao sen còn gọi là ao Phù Dung. Khi còn học chung, nhóm chúng tôi (anh Hào, Dương Văn Hiến, tôi, Mong Đức Hưng) hay lên núi Lăng chơi, cũng có lúc đến nhà An và vào chùa Phù Dung chơi. Trong thời gian học chung, tôi chỉ nhớ nhất chuyện đi ăn cắp dừa ở núi Lăng, An thả trái dừa ngay mỏ Dương Văn Hiến mà tôi đã nói ở chuyện trước.

Chân dung Trần Phước An lúc còn học sinh lớp Đệ Tứ (lớp được mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên

Khi An rời ghế nhà trường, tôi chỉ biết An vào sắc lính Hải quân. Chúng tôi gần như không gặp nhau từ đó. Đến sau năm 1975, An tham gia công tác Chữ Thập Đỏ tại Hà Tiên, làm nhân viên cho cô Chín Triệu chúng tôi mới gặp lại, An vẫn giữ tính vui vẻ, hiền lành như xưa. Nhớ những năm bọn Khmer đỏ đánh phá, có lần chúng bắn pháo qua thị trấn Hà Tiên, pháo rớt trên đường Tham Tướng Sanh (gần nhà chị Châu Ngọc Mỹ), An cùng đội xung kích Chữ Thập Đỏ xông xáo cứu chữa cho người bị thương. Người bị thương (tôi không nhớ là ai) bị mảnh pháo trúng bụng lòi ruột, anh Thanh Ngọc cùng An lấy cái chén chụp lên rồi băng lại để đưa đến nơi cứu chữa.
Khi các cơ quan huyện dời về Kiên Lương, cơ quan Chữ Thập Đỏ ở gần cơ quan tôi nên chúng tôi thường xuyên gặp nhau uống cà phê, có khi cũng nhậu lai rai. An thổi sáo rất hay, tôi cũng biết thổi sáo nên cũng hay trao đổi với nhau. Có lần tôi rũ An đến cơ quan tôi chơi rồi ngủ lại, không có giường chiếu, hai anh em ngủ tại phòng làm việc của cơ quan, tôi để An ngủ trên bàn, còn tôi đâu mấy cái ghế lại nằm ngủ. Đêm ấy An nói khá nhiều về cuộc đời lang bạt của mình trong những ngày đi lính, nói cả những chuyện chơi bời không được đứng đắn lắm. Khi chơi sáo, tôi và An đều có nét riêng, trong điệu sáo tao đàn tôi học An ở tiếng sáo vút cao nhất mà ống sáo có thể, An lại học tôi ở giọng sáo xuống trầm mềm mại. Hai anh em tương đắc lắm.

Trần Phước An trong những năm gần đây. Hình: Trương Thanh Hào cung cấp

Rồi An cưới vợ về nhà sinh sống bằng việc khai thác nước ở cái ao Phù Dung trước nhà và khu vườn sau núi. Chúng tôi cũng hay gặp nhau bày chuyện nhậu nhẹt. Tôi nhớ có một lần nhóm bạn lớp tôi, có cả mấy bạn nữ đến nhà An vào một ngày sau tết, An bày tiệc, cũng đơn giản nhưng có một hủ rượu nếp than rất ngon. Mấy anh chị em nói chuyện, giởn hớt đủ thứ. Tôi vốn có tửu lượng khá cao, lại hay làm phách nên uống rất nhiều và cho rằng rượu nếp than ngọt, nhẹ, uống không say. Vậy mà sau đó mấy anh em lên Lăng Mạc Cửu chơi, tôi say đi không nổi phải nằm trên ghế đá ở võ ca ngủ. Thật tệ nhưng vui.
Vào năm 1982, tôi bị bệnh khá nặng nên không còn uống rượu, vậy mà có một lần một số bạn, trong đó có Trang Việt Thánh, Tiền Thiên Lộc, Lê Phước Hải đến nhà An, bày tiệc phía sau nhà nhậu, tôi ngồi uống nước ngọt nhìn các bạn nhậu rất vui. An vẫn giữ nét hoạt bát vui vẻ và hiếu khách như ngày nào dù đã có vợ con.
Năm 1987, tôi ra Rạch Giá sinh sống nên ít có dịp gặp An. Thỉnh thoảng, khi về Hà Tiên tôi có ghé thăm, những năm gần đây sức khỏe An xuống thấy rõ, không còn nụ cười có duyên như xưa, nhưng không nghĩ là Trần Phước An lại ra đi sớm như vậy.
Mấy dòng nhắc bạn, cầu chúc hương hồn Trần Phước An sớ tiêu diêu nơi miền cực lạc. 

                                                                        Trương Thanh Hùng

Sau khi thông báo tin trên trang nhà fb, có nhiều bạn đã hay tin và cũng viết vài hàng nhắc nhở đến những kỷ niệm đã từng trải qua với bạn Trần Phước An. Bạn Lê Phước Dương có chia sẻ như sau:

« Không biết vì sao mà vào năm lớp Nhứt học với thầy Hoàng mình lại học chung lớp với hai anh em An và Trí. Anh Trần Phước An tính người hiền lành, có Phật tính trong lòng, không thù ghét hay giận hờn ai cả. Trước năm 1975, sau khi thôi học, anh An đi lính Hải quân, khoảng năm 1984 có lúc hành nghề bán vé số ở Hà Tiên. Anh An cũng có thời gian làm Trưởng Ấp Lầu Ba, anh có dịp phân xử nhiều vụ ly hôn, đặc biệt là kết quả anh xử là phần lợi thường về phía quý bà trong cuộc ly hôn !!.
Tính tình hiền hòa, không độc, anh như một loài thảo mộc ven đường, cuộc sống đạm bạc, lại có phần khắc khổ. Anh Trần Phước An có thói quen mỗi buổi chiều đúng 16 giờ, thường đến quán cafe Minh ở gần chùa Lò Gạch, gọi một ly cafe đen nóng, miệng bập bập điếu thuốc, rồi từ từ nói rất chậm rải như trẻ con đánh vần, và luôn hé miệng cười. Lê Phước Dương nầy nợ anh một nén nhang vĩnh biệt, nghe tin anh mất mà không kịp đến viếng vì nghe nói chỉ chọn được một ngày tốt nên chỉ để anh lại một đêm thôi. Ngày anh mất cũng lại là dịp giúp đở bà con nghèo, vì đêm đó đài phát thanh Long An xổ ra con số 67 đúng ngay tuổi thọ của anh An. Buổi chiều xổ số có mấy bà phụ nữ cùng xóm mình chạy nhau hỏi thăm có ai mua con số 67 không?, Có ai trúng không ?!! Vậy là cũng mong cho ai đó mua được con số 67 và trúng ngay ngày đó thì lập miếu thờ anh để cầu xin cho anh phù hộ cho trúng số!!! Anh An ơi, sống khôn thác thiêng, giúp người thì cứ giúp thôi anh An nhé…!! »

Nguyễn Hữu Tâm cũng viết nhắc kỷ niệm với bạn Trần Phước An khi còn hoạt động Chữ Thập Đỏ:

« 39 năm về trước anh Trần Phước An là đội trưởng xung kích Chữ Thập Đỏ cùng với chúng tôi quảy ba lô túi xách cứu thương, băng ca đi dọc suốt biên giới Hà Tiên trong thời kỳ chiến tranh biên giới Tây nam. Anh An người hiền hòa, dể gần gủi và hòa đồng. Xin thắp nén nhang trân trọng gởi đến linh hồn anh và mong sớm tiêu diêu về đất Phật. »

Trương Minh Huệ, bạn cùng lớp ở trường Trung Học Công Lập Hà Tiên ngày xưa với Trần Phước An chia sẻ như sau:

« Tiễn biệt bạn Trần Phước An, người bạn cùng lớp, cùng đăng vào lính, đi cùng một binh chủng Hải quân, học cùng nghề Điện Tử ở quân trường Nha Trang và về cùng một đơn vị ở An Thới. Thành thật chia buồn cùng gia đình ».

Huỳnh Minh Nhã Khiết là người Hà Tiên, cháu của cô Hà Thị Hồng Loan vừa hay được tin và chia sẻ như sau:

« Bác Trần Phước An mất, bên phía Chữ Thập Đỏ không có ai hay biết vì không có thông tin, đến ngày đưa đi hỏa táng ở Mũi Nai, đi ngang qua tiệm giầy dép Hạnh Sơn, ngang tiệm của con ông cậu Mười Thân (đồi mồi Phan Văn Thân) thì có người mợ hai tên Hồng (Hồng là con của ông cậu Mười Thân và cũng là cháu dâu của bà ngoại Chín Triệu, Phan Thị Triệu) báo tin. Bà ngoại Chín Triệu khi xưa nguyên là chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên 39 năm về trước. Xin phép kính gởi đến lời chia buồn đến gia đình bác An ».

Ngoài ra có rất nhiều bạn học cùng trường, cùng lớp, người đồng hương Hà Tiên cũng đã viết lời chia sẻ tin buồn. (Nguyễn Bích Thủy, Trần Thị Phương Nhu,…)

Hồ Thị Kim Hoàn (cùng lớp với Trần Phước An): « Khóc bạn Trần Phước An! Cảm ơn anh Mãnh báo tin. Ôi, buồn quá! Một người bạn thân thuở học trò, có biết bao kỷ niệm vui buồn, đã đi một chuyến không về!. »

Trương Thanh Hào (cùng lớp với Trần Phước An): «  Lần nào về Hà Tiên mình cũng ghé thăm bạn Trần Phước An. Chỉ có lần vừa rồi, tháng 6/2018 mình không ghé An. Hãy ngủ yên nhé bạn, ngủ với giấc mộng bình thường như cuộc đời của bạn ! »

Lâm Thị Lan (cùng lớp với Trần Phước An): « Trần Phước An ngày còn đi học bạn rất “lí lắc” đến khi tóc đổi màu vẫn vui vẻ như xưa. Nay ra đi không bao giờ gặp lại. Các bạn lớp “Đệ Tứ Quốc Tế“ rất đau buồn tiển bạn. Cầu cho hương linh về cỏi Phật. Khóc bạn. A Di Đà Phật. Viết tiếp nữa đi Út Dương! viết về người bạn của mình. Hôm nay mới ra chiêu kể chuyện về người bạn đồng trang lứa, cùng trường, cùng lớp, cùng quê hương nay không còn nữa. Phước An ra đi không trở lại ».

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, vị thầy yêu mến ngày xưa dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên trong những năm 60 cũng chia sẻ như sau: « Yên nghỉ nhé Phước An ».

Trương Mộng Uyên, con gái của thầy Trương Minh Hiển tuy không có nhiều kỷ niệm ở Hà Tiên với các bạn trường Trung Học Hà Tiên nhưng cũng chia buồn: « Thành kính phân ưu! »

Một số bạn nam nữ trong lớp Đệ Tứ (mệnh danh là « Đệ Tứ Quốc Tế »), niên khóa 1968-1969 trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Trần Phước An ngồi bìa trái hàng thứ hai từ dưới tính lên trên. Trần Minh Trí đội nón cầm đàn ở hàng thứ ba từ dưới tính lên trên. Hình: Hồ Thị Kim Hoàn.

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn tất cả quý vị và các bạn đã đóng góp cho bài viết. (TVM)

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m)* và Đại Tô Châu (cao 178 m)*, xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m)*, và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m)*. Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Chú Thích: * Theo site bản đồ có tên là MAPNALL thì chiều cao có khác hơn: Tiểu Tô Châu (cao 89 m) và Đại Tô Châu (cao 153 m)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.

 

 

Giới thiệu Lâm Xuân Mỹ

Thầy cô và các bạn thân mến, thỉnh thoảng nhìn lại trang « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy bài viết cũng rất phong phú, một phần do chính mình nhớ và viết ra, một phần nhờ sự đóng góp của các bạn nên mục nầy cũng đã giới thiệu được gần 30 bạn rồi…Tuy nhiên số bạn học cùng trường mà mình quen biết thì còn rất nhiều,…kể ra cũng phải hàng trăm bạn, nhưng vì mình vẫn theo một tiêu chuẩn là cố gắng có một vài tấm hình của người bạn được giới thiệu (hình xưa càng tốt) và có chuyện để kể lại hay có vài liên hệ ngày xưa đến người bạn được giới thiệu để mình có chất liệu viết bài đưa lên trên mục « Bạn Học Cùng Trường »,..Do đó mình mong mỏi quý Thầy Cô và các bạn đã học qua dưới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa cố gắng giúp và đóng góp bài vở giới thiệu về một vài người bạn cùng trường cùng lớp ngày xưa để mục nầy thêm phong phú và ngày càng đầy đủ.

Nhìn vào danh sách « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy quả không thiếu các người đẹp của trường Trung Học Hà Tiên thời xưa,…nay xin được giới thiệu một người bạn học cùng trường, một nữ sinh cũng thuộc vào dạng « người đẹp » Trung Học Hà Tiên, quý phái và rất dể mến,….Thầy cô và các bạn đã đoán ra ai rồi vì mình lở viết ra tên trong tựa bài rồi,….Xin giới thiệu đó là người bạn mang tên: Lâm Xuân Mỹ…

Lâm Xuân Mỹ là con gái trong một gia đình kỳ cựu và có tên tuổi ở Hà Tiên. Nhà Xuân Mỹ ở đường Lam Sơn, đối diện xéo xéo với nhà Cô Lý Ánh Nguyệt. Phía bên phải hiên nhà của Xuân Mỹ là một khoảng trống rất tiện lợi cho công việc nhà như chuẩn bị làm bếp, giặt giũ quần áo…… Mình cũng thỉnh thoảng có đến chơi nhà Xuân Mỹ vì chị của Xuân Mỹ là chị Lâm Xuân Cúc học chung lớp với mình suốt bậc Trung Học ở Hà Tiên. Anh của Xuân Mỹ là anh Lâm Hữu Dư cũng là cựu học sinh Trung Học Hà Tiên và mình cũng thường tiếp xúc vói anh khi anh qua nhà bạn Lý Cảnh Tiên chơi. Phu nhân của anh Lâm Hữu Dư là bạn Lê Mai Hoa cũng là bạn học cùng lớp với mình, tóm lại vì cùng là người Hà Tiên cả nên cuối cùng mối liên hệ bạn bè cũng được thắt chặc thêm qua các mối liên hệ gia đình…

Mình còn nhớ một chuyện rất vui nhưng vẫn còn bán tín bán nghi vì đã lâu rồi không biết mình có nghĩ đúng không…Lúc còn trẻ nhỏ, vì mình thường đến chơi nhà bạn là Lý Mạnh Thường nên khi gia đình của Xuân Mỹ có việc vui là: ngày làm đám nói cho người chị thứ Chín của Xuân Mỹ (chị Chín Lâm Xuân Hương), đám nói với một ông sĩ quan Hải Quân thời đó (Ông tên là Tú), vì ông không phải là người Hà Tiên nên ông thuê một phòng trong khách sạn ở Hà Tiên và gia đình Xuân Mỹ chọn một vài em trai (tiêu chuẩn là ăn mặt sạch sẽ, bảnh bao, dáng người dể xem…) để tiếp bên đàng trai bưng các mâm hoa quả trầu cao đến nhà chị Chín (nhà Xuân Mỹ) để xin hỏi cưới chị Chín. Lúc đó hình như là nhà Mạnh Thường giới thiệu hai anh em mình vào nhóm bưng mâm bên đàng trai nầy nên mình có bưng mâm theo đàn trai đến nhà Xuân Mỹ đó, mình nhớ ra như vậy vì thời gian là rất xa xưa rồi không biết có đúng không,…Có điều chắc chắn là mình nhớ có lần mình bưng mâm giúp cho bên đàng trai như vậy…

Bây giờ viết về Xuân Mỹ,…Lâm Xuân Mỹ ngày xưa là một trong những người nữ sinh đẹp của Hà Tiên,…Theo mình nhận xét (những nhận xét nầy là đã có từ xưa khi quen biết Xuân Mỹ với tư cách bạn học cùng trường) Xuân Mỹ có một vẻ đẹp rất cao sang, quý phái và lúc nào sự cao sang quý phái đó cũng được Xuân Mỹ thể hiện qua dáng đi, cách nói chuyện và cách giao tế với mọi người chung quanh…Đó là những nhận xét thật sự của mình chứ không phải ca tụng qua loa bề ngoài…Một trong những yếu tố chứng minh là ngày xưa Xuân Mỹ được rất nhiều bạn nam trong trường chú ý, không chỉ những bạn nam của trường Trung Học Hà Tiên mà còn các vị sí quan Hải Quân thời đó đóng quân ở An Thới, thường ghé tàu vào Hà Tiên chơi và cũng muốn được sự chú ý của Xuân Mỹ…Dí nhiên là trong thời đó mình không biết Xuân Mỹ nghĩ trong đầu óc như thế nào, vì mình không biết rỏ thời đó Xuân Mỹ có « bạn trai » là ai hay không, có lẻ vì là con gái trong một gia đình kỳ cựu nên Xuân Mỹ rất giữ gìn ý tứ và không biểu lộ ra ngoài cho người ta nhận xét các sự liên hệ của mình…Đó là một cá tính rất tốt đẹp và càng làm tăng thêm giá trị của một người con gái vốn đã đẹp về vóc dáng, gương mặt mà lại càng làm đẹp thêm cho cả bản thân…

Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ học chung lớp với các bạn Hà Mỹ Oanh, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hào, Trường Thanh Hùng. Xuân Mỹ thường kết bạn thân với các bạn: Nguyễn Ngọc Lê, Dương Thị Diễm Hà, Trang Lệ Thủy, Trần Thanh Tuyên,…Lâm Xuân Mỹ học sau mình một lớp (tức là vào niên khóa 1965-1966 mình học lớp Đệ Lục tức lớp 7  thì Xuân Mỹ học lớp Đệ Thất tức lớp 6). Theo như lời các bạn cùng lớp thì Lâm Xuân Mỹ học rất giỏi, trong lớp rất ngoan, hiền và nhất là rất dể thương…(nhưng cũng nói thêm cho các bạn trai thời đó là thương « không dể » đâu nhé,…vì là người đẹp nên có lẻ tiêu chuẩn lựa chọn rất cao…ngay cả mình thời đó nếu có nộp đơn thì chắc lọt sổ ngay rồi…!!)

Thắm thoát thời gian trôi qua, mình đi xa tiếp tục sự nghiệp học trò và sau đó ra trường cũng tiếp tục sự nghiệp thầy giáo, mình không biết tin nhiều về các bạn học nói chung còn ở lại Hà Tiên, và Xuân Mỹ nói riêng…Sau nầy hơn mấy chục năm trôi qua nhờ có đường dây bạn bè qua fb, mình biết được Xuân Mỹ lập gia đình với một người đồng nghiệp cũng trong ngành giáo chức, phu quân của Xuân Mỹ là người gốc Cần Thơ nên gia đình có lúc sống ở Cần Thơ và hai vợ chồng có được hai cô con gái rất xinh đẹp và rất có tài năng trong văn chương nghệ thuật, thật là một điều rất tốt đẹp…

Hiện nay Xuân Mỹ đã không còn ở trong căn nhà cố cựu ngày xưa ở đường Lam Sơn. Hiện Xuân Mỹ ở trong một căn nhà được xem như là một trong những căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên, đó là căn nhà ở đường Chi Lăng, trong nhà trang hoàng rất đẹp theo kiểu cổ kính có rất nhiều tác phẩm sơn mài xưa, phía ngoài thì có nhiều chậu hoa rất xinh đẹp. Xuân Mỹ sống với những kỷ niệm vì phu quân của Xuân Mỹ không may đã mất vì bệnh…Để kết thúc phần viết về một người bạn cùng trường năm xưa, mình mong và chúc cho Lâm Xuân Mỹ luôn được an lành, vui khỏe với hai cô con gái tuyệt vời, mong rằng đó chính là hạnh phúc thật sự cho Xuân Mỹ…(TVM 05/2018)

Nét đẹp học trò của Lâm Xuân Mỹ trong những năm nữ sinh Trung Học Hà Tiên

LamXuanMy_Classe1

Lâm Xuân Mỹ (giữa) trong niên khóa 1970-1971 lớp 11A Trung Học Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ (giữa) với các bạn cùng lớp Trung Học Hà Tiên

Một màn múa trong đó có Lâm Xuân Mỹ tham dự (có lẻ ở giữa)..

Hà Mỹ Oanh và Lâm Xuân Mỹ lúc học lớp Đệ Nhứt 1971-1972 Rạch Giá (hai cô gái vừa giản dị trong chiếc áo trắng quần đen vừa duyên dáng và rất xinh tươi của lứa tuổi đôi mươi…)

Lâm Xuân Mỹ trong vóc dáng rất tự nhiên và thanh tao

FamilleLamXuanMy_HaTien_1985

Vợ chồng Lâm Xuân Mỹ và con gái đầu lòng (Hòn Phụ Tử Hà Tiên 1985)Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ (nét sang trọng trước Mũi Nai Hà Tiên)

Lâm Xuân Mỹ, bà mẹ trẻ và cô con gái xinh…

Lâm Xuân Mỹ ngày nay, vẫn giữ nét thanh lịch, quý pháiTrái qua phải: Nguyễn Thúy Vân, ? , Trần Yến Phượng, Lâm Xuân Mỹ và Phạm Thúy Phượng

Lâm Xuân Mỹ cùng cô con gái đầu lòng Minh Thư..

Căn nhà xinh đẹp của gia đình Lâm Xuân Mỹ hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ cùng các bạn học cùng lớp: Nguyễn Thúy Vân, Trịnh Xuân Tài, Hà Mỹ Oanh, Trần Thanh Tuyên, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu,..v..v.. (Hà Tiên)

Hình ảnh: Lâm Xuân Mỹ, Hà Mỹ Oanh. (Thành thật cám ơn Xuân Mỹ, Lâm Thị Lan và Mỹ Oanh đã vui vẻ đóng góp hình ảnh, góp ý cho bài viết nầy được phong phú.)

Ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy Cô và các bạn thân mến, về ngôi trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên chúng ta đã có một bài do bạn Trương Thanh Hùng viết tựa bài là: »Về một câu đối », bài được xếp trong mục « Hình ảnh sinh hoạt nay » và do Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/02/20/ve-mot-cau-doi-truong-thanh-hung/

Hôm nay nhân dịp có một số hình về trường lớp do bạn Nguyễn Hữu Tâm cho lên trang fb nên mình sẽ gom góp các hình ảnh ngày xưa về ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên nầy lại, để có được một bài giới thiệu về ngôi trường nầy, mình cũng giới thiệu lại bài viết mở đầu để thầy cô và các bạn đọc lại và nhớ các kỷ niệm mà chúng ta học sinh Tiểu Học Hà Tiên ai cũng đã từng sống qua…

Thực ra Trường Tiểu Học Hà Tiên được cất lên từ thời rất xa xưa (khoảng trước năm 1869). Sau đó khi người Pháp trở lại chiếm đóng Hà Tiên, vì chiến tranh các dinh thự công ốc đều bị tiêu hủy. Vào khoảng các năm 1947 – 1948 Trường Tiểu Học Hà Tiên được tái thiết lại, cổng chính quay ra đường Mạc Công Du (trong khi trước đó trường xưa thì cổng chính quay ra đường Đống Đa, theo tài liệu « Nghiên Cứu Hà Tiên do thầy Trương Minh Đạt viết). Như các bạn học trò Hà Tiên chúng ta đều biết, ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên là trường chính trong quận Hà Tiên ngày xưa, trường tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diện với trại lính cũ ngày xưa, phía sau trường là đường Đống Đa, bên phải trường là đường Mạc Tữ Hoàng với ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa. Nếu đứng phía trước trường Tiểu học Hà Tiên mà nhìn vào thì đầu tiên ta thấy có vị trí cây cột cờ ngay giữa sân, mình còn nhớ mỗi khi đầu tuần thứ hai thì có làm lể chào cờ, có Ông Quận trưởng Hà Tiên qua tham dự,..Buổi lễ chào cờ rất trang nghiêm và các học sinh phải ca bài Quốc ca cùng lúc có hai học sinh tốt được cử lên để kéo cờ lên cao. Đang làm lễ trong trường mà người dân tình cờ đi ngang trường là tự đứng lại, nếu có đội nón thì giở nón ra chào, khi hát hết Quốc ca thì mới tiếp tục đi , rất trang trọng. Tuy thế đôi khi cũng có một vài bạn học trò ngáo nghĩnh lại phì cười trong lúc mọi học trò khác đang ca bài Quốc ca, khiến cho cả nhóm phải vừa cố nhịn cười vừa phải cố gắng ca cho trọn bài Quốc ca…Bên phải nhìn vào trường là một dãy lớp dài dành cho nam sinh, bên trái nhìn vào trường cũng là một dãy lớp dài dành cho nữ sinh, ngay giữa trường có sân cỏ rất rộng và có một cái ao nước lục bình ở giữa, ngày xưa lúc đi học mình rất sợ cái ao nước nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo cẳng mình….Phía sau trường khoảng ở giữa cũng có một nhà vệ sinh cho học trò đi khi cần. Phía sau dãy lớp nam bên phải, ngay trên đầu dãy lớp thì có văn phòng Ông Hiệu Trưởng mà ai ai cũng sợ khi có tin « kêu » lên văn phòng…(mời xem bài bạn Hùng viết…). Sau văn phòng Hiệu trưởng thì có một cái cổng nhỏ nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng mà ngày xưa mình thường ra vào bằng ngỏ nầy cho tiện. Sau dãy lớp nam thì có một hàng cây Trúc Đào rất đẹp, nhưng ngày xưa mình cũng sợ cây nầy lắm vì người ta nói bị dính mủ cây vào mắt sẽ bị mù mắt!! Tận cùng phía sau dãy lớp nam thì có một cái trại nhỏ lợp lá để cho các người bán hàng ăn uống trong giờ ra chơi cho học trò mua dùng. Mình còn nhớ trong những người bán hàng thức ăn có một dì bán hàng rất quen thuộc, đó là má của người bạn học cùng lớp, bạn tên Bào, má của bạn Bào chuyên bán các món như khoai mì nước dừa, khoai mì được cắt ra nhỏ từng thỏi và sau khi gói vào một miếng lá chuối thì cho nước dừa trắng đụt rải lên trên, lúc ăn thì có một cây tăm nhỏ ghim từng thỏi khoai mì cho vào miệng ăn, món nầy học trò Tiểu Học rất thích…Cũng có một xe nước đá bào do anh Cù Mính con ông Tòng Sen bán, các học trò rất thích ăn nước đá bào dưới dạng một thỏi nước đá bào vắt mạnh trong tay cho thành một khối hình cầu tròn và cho thêm nước xi rô màu đỏ, xanh và chút nước gọi là « dầu chuối » vào, lúc ăn thì cứ cầm thỏi nước đá bào vắt như vậy cho vào miệng cắn từ từ hay hít mạnh cho chất đá lạnh ngọt thấm vào miệng….Mình còn nhớ là má của bạn Bào vì không thể phân biệt hai anh em sinh đôi của mình ai là Mãnh, ai là Dõng, nên mỗi lần mình hay anh mình ra mua khoai mì nước dừa thì dì bán cứ hỏi: « Mua gì đó Dõng Mãnh?!! »…

Ngày xưa mình và anh Trần Văn Dõng vì là hai anh em sinh đôi, cùng ngày, tháng và năm sanh nên đều đi học chung một lớp suốt cả quá trình học Trường Tiểu học Hà Tiên. Ngay xưa hai anh em mình học rất sớm, ngay 6 tuổi đã vào lớp năm (còn gọi là lớp « chót » hay nghiêm trang hơn gọi là lớp vỡ lòng). Tuy nhiên lúc đó vì mới lần đầu tiên « bị bắt » đi học nên mình rất sợ đi học, việc nhập học của mình rất khó khăn (ngày xưa không có lớp mẫu giáo nên khi đi học là vào thẳng lớp vỡ lòng ngay). Những ngày đầu tiên bị nhà bắt phải đi học, mình thường hay trốn học, có lúc đã vào lớp rồi nhưng lại trốn, nhảy cữa sổ lớp ra ngoài chạy bộ về nhà, mình còn nhớ có hôm nhà nhờ anh Lê Quang Chánh (anh bà con bạn dì ruột với mình), anh Chánh chở mình bằng xe đạp để đưa đến trường, gần tới trường, đang ngồi phía sau yên xe đạp, mình bổng phóng khỏi xe và chạy ngược về không chịu vào trường học,…Bây giờ nghĩ lại cũng thấy lạ, vì hầu hết các trẻ em bây giờ hay là các con của mình đều chấp nhận đi học, đi đến trường lớp một cách dể đàng không có gì khó khăn hay có vẻ bị bắt buộc cả,..có lẻ trường học thời nay hấp dẫn và quyến rũ trẻ em hơn trường lớp ngày xưa…(Lúc đó mình còn nhớ học lớp vỡ lòng với Thầy La Từ Sự nhà thầy cũng ở đường Bạch Đằng gần nhà mình). Phải mấy tuần lễ sau mới êm cái vụ đi học lớp năm của hai anh em mình…

Rồi trong thời gian theo học các lớp Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm nào cũng có điểm tốt, được phát bảng Danh Dự và cuối năm đều được lên lớp trên. Trong những sinh hoạt của các lớp học Trường Tiểu Học, có thông lệ là trong lớp thầy cho lập một quyển vở gọi tên là « Sổ luân chuyển » hay « Tập luân chuyển », hồi đó mình cũng không hiểu gì lắm cái danh từ « luân chuyển », chỉ biết kêu tên quyển tập như vậy. Mà đúng như cái tên gọi của quyển tập nầy, vì mục đích của thầy dạy trong lớp là muốn lưu giữ các bài do học trò ghi chép trong các giờ học nên thầy đặt ra quyển tập nầy, quy định là mỗi ngày phải có một học trò trong lớp giữ quyển tập nầy và phải chép lại tất cả các bài giảng trong ngày đó vào quyển tập nầy. Mỗi lần mình nhớ tới ngày phải giữ « sổ luân chuyển » là hay bị lo, vì khi viết bài trong sổ thì phải cố gắng viết cho sạch sẽ và viết chữ phải đẹp nên mình rất lo và rất cẩn thận khi chép bài vào sổ. Mỗi khi tới ngày giữ sổ luân chuyển như vậy rất mất công vì chẳng những phải viết chữ đẹp, sạch sẽ trong sổ, mà sau đó cùng một lúc khi về nhà mình lại phải chép bài hôm đó trong quyển vở của mình để khi giao sổ luân chuyển cho học trò khác thì mình không bị thiếu bài hôm mình giữ sổ…

Còn một kỷ niệm khác trong thời học Trường Tiểu Học mình còn nhớ, khi học khoảng lớp tư thì thường là có môn « Toán », « Khoa Học Thường Thức », « Ngữ Vựng ». Môn « Ngữ Vựng » là môn học có mục đích giúp cho học sinh được làm giàu các từ ngữ dùng trong viết văn hay nói chuyện hằng ngày..Phương cách dạy môn nầy là như sau: Sau khi giảng dạy về chủ đề của môn « Ngữ Vựng » trong ngày, thầy cho học trò chép một bài tập gồm có bài một văn xuôi, trong bài nầy thỉnh thoảng có nhiều đoạn tương ứng với một từ ngữ và bị bỏ trống, có chấm chấm, học trò phải hiểu câu viết trong bài và phải điền đúng cái từ ngữ thiếu đó vào phần chấm chấm trong bài văn!. Mình còn nhớ có lúc đó học bài « Ngữ Vựng » về sự liên hệ bà con và cách xưng hô trong một gia đình, thí dụ như đối với người em của cha mình thì mình phải gọi là « chú », vợ của chú thì mình phải gọi là « thiếm »…Trong bài tập hôm đó, học trò phải điền các từ còn thiếu trong các phần có chấm chấm…(tức là phải tìm ra các từ thích hợp trong cách xưng hô như: chú, thiếm, cậu, mợ, ..v..v…). Mình còn nhớ là mình rất sợ cái bài tập nầy vì lúc đó còn nhỏ mình hoàn toàn không hiểu các cách xưng hô nầy, mình không hiểu gì cả, không biết phải điền vào các chổ chấm chấm trong bài bằng từ ngữ nào cả…

Mình còn nhớ ngay cả khi còn học ở trường Tiểu Học Hà Tiên, mình thường được giao phó trọng trách giữ trật tự trong những lúc trước giờ vào học hay trong lúc giờ ra chơi. Đại khái là có một vài em học trò trong đó có mình chắc có lẻ được chọn vì tính nghiêm trang và học khá, nhà trường giao cho trọng trách giữ trật tự, thời đó nhà trường giao cho mỗi bạn một cây gậy (cây bâton), loại cây bằng gổ, rất tròn trịa, dài khoảng 1.5 m, rất trơn tru phía ngoài và được sơn nước sơn bóng. Mỗi bạn cầm một cây gậy như vậy đi tới đi lui trên hành lang trước mặt các dảy lớp học, vừa đi vừa gỏ gỏ đầu cây gậy xuống mặt xi măng của hành lang nghe cộp cộp, có nhiệm vụ là không cho một học sinh nào bước chân hay đi trên hành lang, bắt buộc phải ra sân cỏ chơi. Mình còn nhớ rỏ hồi đó mình thường hay cầm cây gậy gổ đó, mỗi lần có một bạn ngồi chỉ ghé mông trên hành lang thôi, cũng không được mình lấy đầu cây gậy nẹo mông bạn đó đẩy ra khỏi hành lang…Hồi xưa đó cũng lạ, nhà trường không cho phép học sinh đi lại trên hành lang, phải ra sân chơi..Đến giờ vào học thì mới được bước lên hành lang để vào lớp…

Đến năm học lớp nhứt là năm chuẩn bị để cuối năm thì lên Đệ Thất vào Trung Học, năm học nầy rất quan trọng, cả năm cứ học làm toán theo kiểu « chuyển động », « động tử », « vòi nước chảy »,…Các đề tài bài toán thường là: có hai động tử, chạy cùng chiều hay chạy ngược chiều, khởi hành theo các giờ sớm trể khác nhau, câu hỏi thường là vào mấy giờ thì hai động tử bắt gặp nhau hay giao nhau trên đường…?!! Nói chung là lớp nhứt học toán rất khó,..Đến cuối năm phải thi lên Đệ Thất, chỉ có hai môn thi mà thôi: môn làm một bài luận văn và môn làm một bài toán. Cuối cùng năm đó (niên khóa 1962 – 1963) là mình bị thi rớt, anh Trần Văn Dõng thi đậu được vào lớp Đệ Thất lên trường Trung Học kế đó, mình bị ở lại năm sau, học lớp « Tiếp Liên » với thầy Hà Phương Linh. Thầy Hà Phương Linh chuyên dạy lớp Tiếp Liên, (tên gọi Tiếp Liên là vì lớp nầy dành cho các học sinh thi rớt của năm lớp nhứt phải ở lại và vào lớp nầy, túc là lớp chuyển tiếp giữa bậc Tiểu Học và Trung Học, lớp luyện thi cho năm sau thi lại để lên Trung Học). Thầy Linh dạy lớp tiếp liên rất hay, rất nỗi tiếng, sau năm học nầy mình thi đậu lên lớp Đệ Thất vì vậy trong bậc Trung Học mình học sau anh Trần Văn Dõng một năm. Nhớ lại năm thi rớt của lớp nhứt (1962 – 1963) đề tài của bài luận văn là « Bình luận câu Dùng hàng nội hóa là yêu nước », bài luận văn thì mình làm được , còn bài toán động tử thì chịu thua nên không đủ điểm để thi đậu. Lúc đó cũng có hai bạn anh em sanh đôi học cùng lớp nhứt là anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt cùng thi, Hào và Kiệt cũng cùng rớt như mình, sau đó nghe Kiệt kể là trong bài luận văn về đề tài dùng hàng nội hóa mà Kiệt cũng có kể ra nào là xe tăng, thiết giáp trong bài nên rốt cuộc cũng thi rớt…Sau đó gia đình Hào Kiệt cho hai anh em lên Sài Gòn học Trường Pháp Lycée Taberd, (ba của Hào Kiệt là Ông Lâm Tấn Bình chủ tiệm thuốc tây Thanh Bình ở dưới chợ cá ngày xưa của Hà Tiên).

Nhân đây xin nhắc lại tên họ một số quý Thầy dạy trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa:  Lê Quang Phấn (ba của Thầy Lê Quang Thuyên, thầy Lê Quang Khanh), Lâm Tấn Phác (thi sĩ Đông Hồ), Phan Liên Trì, La Từ Sự (thầy vở lòng lớp 1 của mình), Trình Kim Chung (mình rất sợ Thầy Chung vì Thầy hay nhéo bắp vế non học trò…), Lê Quang Thuyên, Trần Văn Hương (Hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên), Trần Hòa Hùng (ba của Cô Trần Diệu Hiền) , Trương Tự Phát (ba của bạn Trương Thanh Hùng…), Hà Văn Điền (ba của Cô Hà Thị Hồng Loan), Hứa Văn Vàng (sau nầy chuyển qua làm Giám thị Trường Trung Học Hà Tiên), Nguyễn Văn Tửng (túc là Thầy giáo Lộc nhạc phụ của Thầy Nguyễn văn Nén), Trần Văn Tường (ba của bạn Trần Thanh Tuyên nhà đường Tô châu sau nhà mình),…

Một vài học sinh bây giờ đã ra đời từ rất lâu nhưng vẫn còn nhớ tên họ quý Thầy Cô đã từng dạy cho mình thời còn ngồi ghế nhà Trường Tiểu Học, chẳng hạn như chị Nguyễn Thị Hoa cho biết danh sách quý thầy cô đã dạy chị thời còn học Tiểu Học như sau:

Lớp năm : cô Lý Ngọc Mai
Lớp tư : cô Lý Ánh Nguyệt
Lớp ba : Cô Trần Thu Nga (con ông Hiệu trưởng Trần Văn Hương và chị của Trần Đại Thắng)
Lớp nhì:  Cô Trưong Ngọc Tuyết
Lớp Nhất: Thầy Nguyễn Ngọc Lung

Thầy Phạm văn Ngà, (ba của em học sinh Phạm Quốc Viêt), Thầy Phạm Văn Ngà là giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên từ năm 1962, 1963, trước đó thầy dạy học tại Chợ Mới An Giang. Thầy mất tại Hà Tiên vào năm 2001, hưởng thọ 75 tuổi. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy Phạm văn Ngà, trước một lớp học của Trường Tiểu Học Hà Tiên, năm 1960. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy Phạm Văn Ngà, trước dãy lớp học trường Tiểu Học Hà Tiên, năm 1970. Hình; Phạm Quốc Việt

Giáo viên trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa. Bìa trái: Thầy Phạm văn Ngà, giữa: Thầy Hứa Văn Vàng. Hình: Phạm Quốc Việt

Thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương chụp trong vườn hoa nhà thầy ở đường Phương Thành, 1991 (hình: Therese Tran)

Riêng mình thì không nhớ chính xác Thầy dạy từng lớp một nhưng nhớ là lớp năm vở lòng do thầy La Từ Sự day. sau đó mình có học với quý Thầy: Phan Liên Trì, Nguyễn Văn Tửng, Nguyễn Văn Pho, Hà Phương Linh (dạy lớp Tiếp Liên dành cho các học trò khi học lớp nhất và thi hỏng một lần lên bậc Trung Học) .

Bạn Trương Minh Quang Nguyên (con trai của thầy cô Trương Minh Đạt) có góp ý thêm về danh sách thầy cô dạy học Nguyên lúc còn học ở Trường Tiểu Học Hà Tiên:

Lớp 1: thầy Hà Văn Thành (tự ông giáo Ngọt), lớp 2:  cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ bạn Nguyễn Hữu Tâm, lớp 3:  thầy Phan Liên Trì được ít tháng thầy mất nên sau đó học với cô Vân sau này là vợ thầy Hiếu cũng dạy cùng trường, lớp 4:  thầy Lâm Văn Núi, lớp 5: cô Dương Hồng Châu. Trường truóc 1975 còn có cô Thu dạy lớp nhất (lớp 5) không nhớ cô gốc ở đâu?

Ngoài quý Thầy Cô cao tuổi và đã dạy Trường Tiều Học Cộng Đồng Hà Tiên đã kể trên, thời 60-70 cũng có nhiều cô giáo trẻ cũng quê Hà Tiên hay có liên hệ tới Hà Tiên cũng về trường nhà dạy học như cô Nguyễn Phước Thị Liên (phu nhân của thầy Trương Minh Đạt) về Hà Tiên dạy năm 1965. Cô Dương Hồng Châu (mẹ của cô là cô Nhan cũng là giáo viên kỳ cựu của Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên) về trường năm 1967.

Cô giáo Nguyễn Phước Thị Liên dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1965

Cô giáo Dương Hồng Châu dạy học tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên từ năm 1967

Ngoài ra mình còn nhớ trong thời gian đó có một cô giáo tên Mai ở trường Tiều Học Hà Tiên, cô Mai tu theo chùa nên ăn chay, và trong thời gian dạy học cô thường khuyên học trò (cùng thế hệ với mình thì có thể nhớ ra cô Mai) nên ăn chay, tu hành, không làm điều gian ác,…Cô có mái tóc rất ngắn gần như cạo trọc đầu, và vì theo tu hành nên thái độ của cô cũng hơi lạ trong trường, có người thích và ái mộ cô, có người cũng chỉ trích việc đem đạo pháp vào giáo dục của cô. Theo sự nhớ lại của một số bạn học ngày xưa, cô Mai thường dạy lớp nhứt tức lớp cuối cùng của bậc Tiểu Học. Bạn Lâm Thị Lan còn nhớ có một lần sinh hoạt đầu tuần cô Mai nói về vấn đề cờ bạc và cô có nói câu: « cờ bạc là bác thằng bần, không theo cờ bạc thì còn gia sản ». Còn bạn Nguyễn Thị Điệp thì còn nhớ có học lớp nhứt với cô Mai, cô chỉ mặc áo màu trắng và màu nâu may theo mẫu áo của người tu. Hôm nào cô kêu đau đầu mà học sinh nói chuyện là cô cho quỳ gối hết cả lớp!!. Còn mình còn nhớ cô Mai thường vẻ hình lên một tờ giấy cứng trắng rất lớn, như loại giấy mình làm bích báo ngày xưa, cô vẻ các hình phạt dưới âm phủ có quỷ sứ cắt lưởi,….để khuyên răn học trò tụi mình. Mình còn nhớ như in trong đầu và như còn nghe qua lổ tai, câu cô Mai nói với mình: « Ăn cá là ít tội nhứt »…..Chử « ít » cô phát âm theo kiểu người Bắc …chắc cô cũng có gốc người Bắc….Bạn Tăng Thị Sáu thì còn nhớ cô Mai mặc áo màu cao khô là cô Mai Nguyễn dạy lớp 5, cô cũng đánh học trò dữ lắm đánh xong cô kêu học trò úp mặt xuống bàn để cô xin lỗi…!! Bạn Trần Quý Nương có cho biết rất nhiều thông tin về cô Mai: Ngày xưa khi còn dạy học, cô có một thời gian ở nhà của Chung Lưỡng Tài (còn gọi là Tài Chung,) trên đường đi Thạch Động. Tài Chung có một người cô ở chung nhà với Tài Chung nên cô Mai và cô của Tài Chung rất gần gủi như người một nhà. Sau này cô Mai không còn dạy ở Hà Tiên nữa. Cô của Tài Chung đi tu rất sớm tu lúc 16 tuổi. Vì tu cho nên cô đi rất nhiều chùa và đã gặp lại cô Mai ở chùa trên Thành Phổ. Trên 20 năm trước cô của Tài Chung có dẩn Quý Nương đến thăm cô Mai.

Sau đây là một số hình ảnh do mình còn lưu giữ và góp nhặt do các học trò Hà Tiên xưa cung cấp, xin thành thật cám ơn tất cả.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên trái qua phải: 1/Đựng, 2/Chúa, 3/Mạnh, 4/Tiếp, 5/Lâm Tấn Hào, 6/Thầy Pho, 7/?,8/?,9/? (không biết tên ba người bạn), 10/Lâm Tấn Kiệt, 11/?,12/? (không biết tên hai người bạn), 13/Hòa. Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Trần Văn Dõng, 3/Trần Tấn Công, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/La Văn Hủi, 7/Trần Văn Mãnh, 8/Quân, 9/? (không biết tên một người bạn), 10/Pha.

Lớp Nhứt do Thầy Nguyễn Văn Pho dạy (khoãng năm 1962-1963) Trường Tiểu Học Hà Tiên. Hàng trên đứng, trái qua phải: 1/? (không biết tên một người bạn), 2/Đựng, 3/Mạnh, 4/? (không biết tên một người bạn), 5/Điệp, 6/Hòa, 7/Quân, 8/Thầy Pho, 9/Trần Văn Dõng, 10/?, 11/? (không biết tên hai người bạn), 12/Tiếp, 13/?, 14/? (không biết tên hai người bạn), 15/Chúa, 16/?,17/? (không biết tên hai người bạn). Hàng dưới ngồi, trái qua phải: 1/Lợi, 2/Lâm Tấn Hào,3/Trần Văn Mãnh, 4/Lâm Tấn Kiệt, 5/Trần Tấn Công, 6/? (không biết tên một người bạn).

Một lớp học do Thầy Nguyễn Văn Rầm phụ trách (Trường Tiểu Học Hà Tiên)

Một lớp học nữ chụp hình trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên (năm học 1969-1970: lớp nhì của các học sinh: Trần Tố Chinh, Lâm Ngọc Bích, Nguyễn Bích Thủy, Hồ Thị Kim Nga..)

Hình Lâm Ngọc Bích (con gái anh Nhum, tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao ngày xưa góc đường Lam Sơn- Tham Tướng Sanh Hà Tiên) chụp trước trường Tiểu Học Hà Tiên

Bên trái: Thân Mẫu của bạn Lâm Xuân Mỹ, người giữa không biết tên, bên phải: Cô Lý Thị Nhan (thân mẩu của cô Dương Hồng Châu), ngày xưa bên dãy lớp học trò nữ của trường Tiểu Học Hà Tiên, lớp ở đầu dãy là lớp của Cô Lý Thị Nhan.

Trái: Trần Văn Dõng, phải: Trần Anh Kiệt đứng trước Trường Tiểu Học Hà Tiên

Ban Giáo Viên Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên ngày xưa (Thầy Trần Hòa Hùng ngồi giữa). Hàng Cô giáo từ trái qua: Cô Ngọc (ở nhà tên Liếu tiệm may Thời Đại), cô Thanh Vân (chị của Thanh Hà con ông Kế), cô Tăng Ngọc Mỹ (mẹ của Nguyễn Hữu Tâm), cô Ngọc Điệp (em vợ thầy Núi). người thấp nhất đứng ở giữa là cô Muối ( chị của Vương Đình Lôc, Vương Bình Phước).
Bên phải đếm qua có lẽ là cô Trần Diệu Châu (con gái Ông Hiệu trưởng Hùng, em của cô Trần Diệu Hiền Giám thị Trung Học Hà Tiên). cô Hường (con Bác Ba Sẹo), cô Chi ( vợ chú Bảy Chí), cô Dương Hồng Đào (con của cô Nhan).
Hàng dưới từ trái đếm qua, người ngồi ngoài là thầy Kiêm, kế là thầy Lê Quang Thuyên (con thầy giáo Tương), người thứ ba là thầy Hà Văn Thành tự Giáo Ngọt, người thứ 4 là thầy Núi, cô Lý Thị Nhan, Thấy Hùng, thầy Minh Phương (chồng của chị Phuơng Mai còn Bác Ba Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà tiên), Thầy Ngà, thầy Trì và thầy Trương Tự Phát (ba của Minh, Hào và Hùng)

Một lớp học trò nữ trước cột cờ Trường Tiểu Học Hà Tiên, cô giáo trong hình là cô Tăng Ngọc Mỹ mẹ của Nguyễn Hữu Tâm (hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1980)

Lớp học sinh nữ do cô giáo Tăng Ngọc Mỹ dạy của trường Tiểu Học Hà Tiên. Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng năm 1970)

Hai em học trò Trường Tiểu Học Hà Tiên nhận phần thưởng cuối năm. Em trai trong hình là Nguyễn Hữu Tâm. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm trước 1975)

Hai em học trò trường Tiểu Học Hà Tiên, em trai tên Nguyễn Hữu Tâm, em gái tên Vân. Phái sau lưng là dảy lớp học nam sinh. (Hinh: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Hai em học trò vừa nhận phần thưởng trước sân Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng những năm 1970)

Cổng chính vào Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, phía bên phải ta còn thấy một phần của trại lính, còn gọi là thành 18. (Hình: Nguyễn Hữu Tâm, khoảng mùa hè 1970).

Quý cô giáo dạy Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên thời 60-70. Cô đứng bìa trái không biết tên. Ba cô kế là cô Cưởng, cô Ngọc Điệp (hiện ở Rạch Giá) và cô Mỹ Ngọc (dạy học ở Lộc Trỉ Mũi Nai Hà Tiên, hiện ở Texas, nước Mỹ). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Hình ảnh một vài cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: từ trái sang phải: thứ ba là cô Lý Thị Nhan (mẹ của cô Dương Hồng Châu), thứ năm là Bà Giáo Lộc (nhạc mẫu của Thầy Nguyễn Văn Nén), thứ bảy là cô Tăng Ngọc Dung, giáo viên Mẫu Giáo sau đó bị mất vì trúng đạn pháo kích), thứ chín là cô Lý Ánh Nguyệt (vừa mới mất)

Cô Lý Ánh Nguyệt giáo viên Trường Tiểu Học Hà Tiên (bìa phải) chụp trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên.

Từ trái qua phải: Thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương, thầy Hứa Văn Vàng, dự đám cưới của hai em Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi. (Hình: Trần Thị Thúy Hằng)

Bìa trái: Thầy Hứa Văn Vàng (dự đám cưới của Trần Thị Thúy Hằng và Hà Mỹ Khôi). Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Bìa phải: Nguyễn Bích Thủy, người thứ ba từ phải qua trái: Cô Lâm Thị Ánh Tuyết. Hình: Trần Thị Thúy Hằng

Ngôi Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày nay (tọa lạc trên đường Mạc Công Du, đối diên với trại lính ngày xưa, bên phải trường là đường Mạc Từ Hoàng có Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa và phía sau trường Tiểu học là đường Đống Đa)

Chú thích: 1/ Hồi xưa thời 1960-1970 tên gọi các lớp của Trường Tiểu Học là như sau: Lớp năm (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp tư, lớp ba, lớp nhì và cao nhất là lớp nhứt (lớp để thi lên bậc Trung Học vào lớp Đệ Thất). Trong khi đó sau 1975 thứ tự tên các lớp lại như sau: lớp 1 (là lớp chót hay là lớp đầu tiên khi vào bậc Tiểu Học), lớp 2, lớp 3, lớp 4, và lớp 5 (lớp để lên bậc Trung Học vào lớp 6)

2/ Theo tài liệu của bạn Trương Thanh Hùng, có một bảng danh sách quý Thầy Cô từng giảng dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên và hiện đã qua đời còn được niêm yết trong trường Tiểu Học Hà Tiên hiện nay, mình xin chép vào đây để thầy cô và các bạn tham khảo.

Nguyễn Văn Truyện, Trần Văn Sang, Nguyễn Văn Phẩm, Hứa Văn Bình, Nguyễn Văn Phi, Trần Minh Đạo, Huỳnh Thoại Bang, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Văn Vàng, Diệp Chí Trung, Trương Hòa Thành, Nguyễn Văn Đặng, Lư Sanh Nho, Lục Phan, Phan Văn Viên, Trần Văn Lễ, Nguyễn Văn Thành, Hứa Văn Tài, Nguyễn Văn Mẩn, Nguyễn Văn Sữu, Lưu Kim Hầu, Nguyễn Tấn Phát, Hồ Thị Tân, Nguyễn Thị Nu, Phạm Văn Lai, Nguyễn Thị Liễu, Hồ Văn Nhi, Lý Văn Cải, Vương Giáp Thình, Nguyễn Văn Giỏi, Lê Đức Nguyên, Lê Quang Phấn, Huỳnh Quốc Minh, Lâm Quốc Hải, Lý Văn Nhơn, Lâm Tấn Phác, Trần Văn Canh, Võ Văn Hổ, Nguyễn Văn Tượng, Nguyễn Văn Vân, Đỗ Quý Tý, Nguyễn Văn Kiêm, Phan Liên Trì, La Từ Sự, Trình Kim Chung, Lê Quang Thuyên, Nguyễn Văn Tửng, Trần Văn Hương, Trần Hòa Hùng, Phan Thị Tuyết Mai, Trương Tự Phát, Trần Văn Tường, Phạm Văn Nhan, Hà Văn Điền, Trần Văn Lọt, Trương Văn Vinh, Hà Văn Hoa, Lý Thị Nhan, Trần Thị Thứ, Hứa văn Vàng, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Ngà, Trần Phát Đạt, Trương Tường Oanh, Huỳnh Thị Ngọc Uyên, Nguyễn Ngọc Ty, Hà Ngọc Kiều, Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Lầu, Hà Văn Thanh, Hà Mỹ Khôi, Trương Hà, Nguyễn Văn Hùng.

3/ Sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm như sau: Hồi mới vào học lớp năm (lớp đầu tiên) Trần Văn Mãnh rất sợ đi học. Có hôm anh Lê Quang Chánh (anh bạn dì) chở hai đứa đi học bằng xe đạp, mình còn nhờ đi đường trước quán Ty La bây giờ, Mãnh ngồi sau liền nhảy xuống quay đầu chạy về nhà (sợ đi học). Các bạn biết mình làm sao không? Thì còn sao nữa, mình cũng nhảy xuống chạy theo và gọi : « Em ơi, chờ anh với! ». Kết cuộc là về tới nhà bị ông ngoại trói vào cột nhà cho một trận đòn nhớ đời (dĩ nhiên Mãnh bị nặng hơn vì là đầu tiêu, mình chỉ « ai sao tôi vậy » nhưng có cái dở  là « ai làm bậy tui cũng làm theo », cũng đáng đời!!!).

Hình ảnh: Trương Thanh Hùng, Trần Văn Mãnh, Nguyễn Bích Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Xuân Mỹ, Trần Văn Dõng, Hồ Thị Kim Nga, Lâm Ngọc Bích, Trần Tố Chinh, Hồng Hà, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phước Thị Liên, Trương Thị Uyên My, Dương Hồng Châu. Khiết Nha Huỳnh. Xin thành thật cám ơn sự đóng góp quý báo của quý vị.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Trường Trung Học Hà Tiên và các khung cửa sổ (Lâm Thị Lan)

Thầy cô và các bạn thân mến, lúc trước có bạn Lệ Thủy viết bài nhắc lại kỷ niệm xưa xuất phát từ hai khung cửa sổ của trường Trung Học Hà Tiên…Từ hai khung cửa sổ đó các bạn thay phiên nhau kêu tên trêu ghẹo thầy Minh đang giảng dạy trong lớp bên kia đường ở trường Tiểu Học Hà Tiên…Bây giờ Lâm Thị Lan (cũng là một thành viên của lớp « Đệ Tứ Quốc Tế » rất nổi tiếng trong trường, khi xưa Lan là thành viên của Đệ Tứ Quốc Tế ngày nay Lan lại cũng là một thành viên của hội viết bài cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta…Lan viết rất nhiều bài cho Blog của chúng ta, nhất là những bài về « Chuyện một thời áo trắng »….Hôm nay Lan cũng nhắc lại một chuyện vui của thời áo trắng đó,…cái thời mà người học trò nào cũng thường hay mơ mộng, suy nghĩ vu vơ, hay ngắm nhìn mông lung qua một khung cửa sổ,…Giờ vào lớp chưa reo, học trò người thì đang chạy giởn nô đùa ngoài sân dù là đang mặc chiếc áo dài trắng xinh đẹp, tuổi học trò tuy chưa vượt quá 18 nhưng cũng là đang vào tuổi suy tư…người thì không rời khỏi lớp, đang tựa mình vào khung cửa sổ của lớp, nhìn ra phía xa xa, thả đầu óc và tâm hồn ra khỏi trường lớp để mơ mộng, và ngắm hoa rơi …Sao lại không chuẩn bị dò lại bài học nhỉ, chút nữa thì Thầy « đẹp trai » sẽ vào lớp và có thể sẽ kêu lên trả bài,..ôi nhất là bài về môn Vật Lý khó ghê gớm…!! Chúng ta sẽ tự hỏi rồi phản ứng của Lan sẽ ra sao khi Thầy gọi lên lớp trả bài,…có mơ mộng thì cũng phải trở về thực tế,…mời Thầy cô và các bạn vào bài để vừa thả hồn đi khỏi con đường Mạc Tử Hoàng như Lan khi đứng bên cạnh cửa sổ lớp, vừa hoàn hồn trở lại khi nghe tiếng chuông trống vang lên báo hiệu Thầy sắp vào lớp kêu tên học sinh lên trả bài,…  (TVM viết vài hàng giới thiệu bài)

Trường Trung Học Hà Tiên và các khung cửa sổ (Lâm Thị Lan)

Như mọi hôm các bạn ạ, lớp học còn đang đón nhận học sinh đến như nhỏ giọt,..người thì đi thẳng vào chổ ngồi quen thuộc của mình, dọn sách vở ra và bắt đầu dò bài Vật Lý thầy sắp hỏi,…người thì sau khi ném nhẹ chiếc cặp vào học bàn thì chạy ngay ra ngoài sân, chắc để thưởng thức thêm vài phút quý báo cái không khí của đầu mùa hè, hoa phượng và ve đã bắt đầu xuất hiện và làm việc trong không gian của sân trường,…riêng tôi, cô học trò với chiếc áo dài trắng như mọi hôm, không hiểu sao tôi lại muốn nhìn ra ngoài khung cửa sổ của lớp, bên kia đường Mạc Tử Hoàng, trong cái sân hẹp chạy dọc theo dãy lớp của trường Tiều Học bên cạnh, hoa phượng và hoa trúc đào đã bắt đầu nhô mình ra chào chúng tôi,…Các chùm phượng đỏ rực hòa lẫn với màu hồng thắm của trúc đào rất quyến rũ làm cho mấy chàng ông đập cánh bay lượn chung quanh không dứt…Rồi không biết từ đâu, phía bên trên khung cửa sổ, vài cánh hoa phượng đỏ rơi nhẹ điểm tô thêm cho cái khung hình chữ nhật của cánh cửa một chút gì đó thật đẹp, thật mơ mộng, các bạn ơi khung cảnh và thời điểm đó đối với tôi như dừng lại, bất động, tôi không còn biết là mình đang chờ vào giờ học, mà nhất là giờ Vật Lý với bao lý thuyết phức tạp mà có thể mình sẽ phải diễn giả khi thầy hỏi đến,….Mắt cứ vừa châm chú, vừa mơ hồ như nhìn mà không cố ý nhìn vào đối tượng nào,..tai thì nghe văng vẳng tiếng đàn vĩ cầm eo éo của chàng nhạc sĩ ve báo hiệu mùa hè…Phải viết ra thành câu thơ thôi:

Ngồi ngắm hoa rơi bên khung cửa sổ.
Lũ ve sầu râm ran kêu í ới.
Đang vui đùa cùng các bạn hái hoa.

Các bạn ơi rồi cái gì tới nó phải tới,…chen vào âm điệu ò e của vĩ cầm « con ve » có một tiếng reo giống như tiếng chuông của điện thoại cầm tay thời bây giờ của mình (hồi đó đâu có điện thoại cầm tay cầm chân đâu các bạn, vậy mà tiếng chuông reo sao mạnh và vang vang như là điện thoại kêu mình vậy đó…), tuy là nói chuông reo như tiếng điện thoại reo nhưng lại mạnh và vang to hơn nhiều,…tôi biết rồi, giờ vào học đã đến, hãy lo tỉnh hồn lại và chuẩn bị đối phó với mấy cái lý thuyết Vật Lý rắc rối đây…Lại phải diễn tả ra thành thơ thôi:

ÔI!
Bỗng đâu Thầy tôi đi qua cửa lớp.
Mắt nhìn vào đàn cò trắng tung tăng.
Tiếng chuông reo báo giờ vào lớp học.
Thầy vào lớp tiết học lại bắt đầu.

Người ta thường nói « cái gì tới thì cho tới luôn »,…vậy mà rất đúng trong trường họp nầy các bạn tôi ơi,…Đang mơ mộng bên khung cửa sổ thì chuông reo vào giờ học đã tới, bây giờ cái mà tôi đang lo ngại là sẽ bị thầy kêu lên lớp trả bài, điều nầy cũng đang tới đây …biết vậy đừng lo mộng mơ bên cửa sổ mà phải lo dò lại bài thì đâu có gì lo sợ…Thầy « đẹp trai » vào lớp, sau khi chào nhau xong, thầy nhanh nhẹ mở sổ tên và kêu ngay « Lâm Thị Lan » !!! Ôi chao ôi,…phải chi hôm nay Lâm Thị Lan vắng mặt thì đở biết mấy …Thầy ra câu hỏi trong khi đó thì cô học trò hay mơ mộng đang đứng khép nép bên bàn thầy:

– « Cho thầy biết thế nào là hiện tượng khúc xạ ánh sáng »…

Lại phải diễn tả ra thơ thôi:

Sổ mở ra và người được mở hàng.
Thầy bụt giảng, cô học trò khép nếp.
Đứng bên thầy, hồn bay ra cửa lớp.
Thầy hỏi:
-Cho Thầy biết hiện tượng khúc xạ ánh sáng
– …,,,

Đối với người đang mơ mộng thì dầu ánh sáng có « khúc xạ » hay « nhiễu xạ » thì cũng không có gì khó hiểu vì đâu có gì trong đầu óc đâu mà hiểu các bạn ơi…!! Phải chi thầy hỏi màu của hoa phượng là màu gì thì hay quá chắc mình sẽ được 10 điểm….Hi…hi….thôi từ nay xin chừa cái thú mơ mộng ngồi ngắm hoa rơi tai thì nghe nhạc ve bên khung cửa sổ rồi…Xin chừa xin chừa, từ nay có đi đến trường thì chỉ để cố gắng học hành thôi,…các bạn tôi chắc phải thắc mắc lắm vì câu chuyện không có phần kết thúc… »Rồi sao Lan, Lan không cắt nghĩa được hiện tượng khúc xạ ánh sáng thì thầy cho Lan mấy điểm, có bị phạt gì không, thầy có rầy la Lan không ??!! Các bạn ơi thôi cho mình xin khỏi kể ra phần cuối câu chuyện đi nhé,…Có một điều là tôi vẫn nhớ và tôn kính người thầy có tên chữ lót như màu hoa phượng đỏ rực, mỗi khi hè lại về phượng nở đầy sân trường, ve kêu vang vang ngoài cửa sổ thì học trò áo trắng vẫn luôn nhớ về người thầy với cái hiện tượng khó hiểu là « hiện tượng khúc xạ ánh sáng »….

Phải kết luận bằng thơ thôi các bạn ơi:

Thầy ơi! 😍😍😍😍
Lúc đó trong đầu đâu còn nhớ nữa.
Hihihiiiiiii!
Nữ áo dài ngồi cửa sổ hái hoa.
Tôi “lí lắc” xin chừa từ ngày đó.
Đi đến trường cố gắng học hành thôi.
Nhớ về người Thầy có tên chữ lót: CHÙM HOA PHƯỢNG ĐỎ
Hoa lại về cho tàn cây cháy đỏ.
Cánh phượng hồng trên lối nhỏ rơi rơi.
Ngày xưa ơi năm tháng đã xa rồi.
Bao ký ức của một thời áo trắng.
Học trò Trung Học Hà Tiên Xưa nhớ về Thầy😍😍
TEACHER NHA

Tác giả: Lâm Thị Lan ‘thành viên lớp Đệ Tứ Quốc Tế » trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa…(04/2018)

Thầy Vật Lý N.H.A đứng trước cổng chính trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968

Thầy Vật Lý N.H.A ở cổng sau trường Trung Học Hà Tiên xưa phía dãy cửa sổ các lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng (1968)

Hình ảnh: Lâm Thị Lan, Nguyễn Hồng Ẩn, clip: Trần Văn Mãnh