Hà Tiên và sự yên bình của một vùng đất cổ kính, nên thơ (Thầy Huỳnh Văn Hòa)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một điều chắc chắn là quý thầy cô của chúng ta cả hai bậc Trung và Tiểu học thời 60-70 ở Hà Tiên, ngoài một khả năng sư phạm được đào luyện rất cao cấp, vị nào cũng có một thiên tài về viết văn, làm thơ…Không kể tên ra, thầy cô và các bạn cũng đều biết vì đã có dịp đọc một số bài tuyệt tác đăng trên Blog nầy: thầy Nguyễn Lê Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy Nguyễn Phúc Hậu, cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô Dương Hồng Châu,.v…v… còn nhiều thầy cô nữa, xin phép tạm ngưng kể tên ở đây…Hôm nay mình được dịp nhận một bài viết của thầy Huỳnh Văn Hòa, bài viết rất hay, đặc sắc và có thể nói văn chương hòa trộn giữa hai khuynh hướng hiện thực và phóng khoáng…Hiện thực vì qua bài tự thuật, thầy Hòa đã đưa chúng ta về tận những năm 1960, với một xứ sở Hà Tiên thật là đẹp như thơ, hiện thực vì thầy viết ra không sót một chi tiết nhỏ nào đặc trưng cho cái khoảng không gian và thời gian ngày xưa đó, từng mỗi một giây phút thầy chạm trán với cuộc đời sau khi rời trường Sư Phạm để nhận nhiệm sở ở vùng Hà Tiên xa xôi…Từ nỗi nôn nao khi sắp được nhìn thấy núi xanh, thấy biển rộng, chan hòa cả người dưới làn ánh nắng rực rỡ và ngọn gió mát của vùng biển cho đến nỗi sợ hãi khi phải đương đầu với bóng đêm gần như vô tận mà chỉ có một thân một mình giũa đêm khuya, không một ai đồng bạn và không một ánh sáng, chỉ có tự tin vào mình để chiến thắng với một cái gì đó vô hình bên những bóng chim én bay chặp chờn ngoài lan can của căn phòng ngủ trọ…Phóng khoáng vì thầy đã tạo ra được một cái không khí nên thơ, cơn mộng hải hồ đi đó đây, tự do ngắm trời, mây nước và tận hưởng cái thú đi đường dù chỉ có một mình nhưng đầu óc rất là sảng khoái cho cuộc hành trình của mình…Phóng khoáng cũng vì đã tự nhận ra mình đã là hay đã thành một viên chức, thành một người thanh niên với cái phát triển tột độ của một cơ thể lành mạnh và một đầu óc sáng tỏ để đối mặt với một cuộc sống tự lập, tự làm chủ và tự mình lèo lái cho mình trong con đường mới để thi hành chức năng nhà giáo…

Nếu trong chúng ta, quý thầy cô và các bạn, muốn có một cái nhìn, một hình ảnh về Hà Tiên trong những năm 60, không phim ảnh hay bức hình nào toàn diện hơn là hãy đọc qua bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa, vì qua bài viết, thầy Hòa đã diễn tả và kể lại tất cả, từ cảnh con đường cát, đá với bụi vàng, đến những rừng cây nấm, cây đước, những ruộng muối miền ven biển,…Từ mùi vị tanh khó ăn của món cá kho nghệ đến mùi cá khô, cá chết báo hiệu xe chạy ngang qua chợ cá của Hà Tiên ngày xưa,…đến mùi ẩm mốc của căn phòng trọ trong khách sạn,…Buổi chiều dạo nhẹ nhàng vài bước trên vài con đường để đi thăm người quen, đến một đêm sợ ma quỷ không ngủ được vì chỉ có một mình trong căn phòng tối vắng…Nói tóm lại bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa là một di tích, một nhân chứng cho Hà Tiên ngày xưa, không thể không thán phục đầu tiên là tài viết văn rất có hồn và rất lôi cuốn của thầy, mà còn phải nể cái tài nhớ từng chi tiết nhỏ mà điển hình của thầy, chính lời văn thể hiện qua từng chi tiết nhỏ đó đã đưa chúng ta hay ít nhất là mình, khi đọc qua bài viết của thầy, đã thấm thía và nhớ rất nhiều Hà Tiên của những năm 60-70, khoảng thời gian mà ai trong chúng ta cũng đã sống thật sự một đời sống trai trẻ, nam thanh, nữ tú, vui và rất vô tư (tuy nhiên cũng biết rung động chút ít trước những hình bóng xinh đẹp của các bạn cùng trường lớp…). Xin thầy Huỳnh Văn Hòa nhận nơi đây lời cám ơn chân tình của mình, thầy đã giúp cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » tiếp tục đưa quý thầy cô và các bạn về trường xưa, lớp cũ để mơ mộng và tưởng nhớ …dù chỉ là để cuối cùng cũng phải trở về với hiện tại, nhưng sống có mộng mơ như thế có phải là đẹp không thầy cô và các bạn…(Paris 16/08/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Trước khi chánh thức vào bài của thầy Huỳnh Văn Hòa, mình cũng xin nói thêm là ngày xưa thầy Hòa cũng là người ở trọ cùng căn nhà đường Nhật Tảo, Hà Tiên với thầy Nguyễn Hồng Ẩn, hai thầy là bạn rất thân từ thưở đó và vẫn cho đến ngày hôm nay, thầy Ẩn đã có lời giới thiệu bài viết như sau: « Bạn tôi, Huỳnh Văn Hòa, đang thả hồn về ký ức xa xôi, xa khoảng 56 năm thôi, về một miền nhớ đã « đóng đinh » trong tiềm thức của anh một cách miên viễn. Anh chia sẻ với tôi vì tôi cũng là người bạn một thời đồng hành với anh nơi nầy. Tôi xin mạn phép anh, chuyển phần hoài niệm đầu tiên nầy cùng anh chị em xa gần, nhất là quý bạn đã, đang sống tại vùng đất thân thương nầy: Đất Phương Thành… »  (Nguyễn Hồng Ẩn)

HÀ TIÊN VÀ SỰ YÊN BÌNH CỦA MỘT VÙNG ĐẤT CỔ KÍNH, NÊN THƠ

A-HÀ TIÊN VÀ TÔI

Đến và đi, một thầy Hòa trong ký ức của bè bạn và học trò.
Cũng như ý nghĩ của thầy cô và các em, Hà Tiên xưa với địa danh, con đường góc phố cùng con người và sự kiện đều là dấu kỷ niệm của mỗi người. Nên chi đã cùng nhau làm sống lại một thời của quá khứ đúng là điều tuyệt vời như các “anh em” trong trang blog Hà Tiên Xưa đã làm. Hôm nay, tôi xin góp phần, mong các bạn đón nhận.

Cuộc sống của chúng ta vốn dĩ luôn biến động và đổi thay. Nhưng thật là may mắn, chúng ta còn đây như là chứng nhân và đang sống “người góc bể kẻ chân trời” nhưng nếu cùng hướng về, ta sẽ gặp lại nhau dù chỉ là trên trang giấy, phải không?
Thế nên để mở đầu tôi ghi lại đây đôi dòng về thuở tôi mới đến Hà Tiên, thời gian lưu lại và rời xa cho đến tận bây giờ như Mãnh, Patrice Trần, đã đề nghị để cho “mọi người” có được thông tin về tôi.
Một chút về tôi:
– Đến thị trấn Hà Tiên đúng 12 giờ 05 ngày 17/08/1964 bằng xe đò Rạch Giá-Hà Tiên. Lúc đó trời đang nắng bỗng đổ mưa mây. (Mưa phủ khắp thành phố bên kia bờ sông; đó là hình ảnh đẹp đầu tiên trước mắt tôi).
– Sau vài ngày phép, tôi đến nhận lớp tại trường Sơ cấp Lộc Trĩ Mũi Nai. Lúc đó thầy Thành, người Hà Tiên, làm Trưởng giáo. Đứng lớp hai năm, tôi được thuyên chuyển ra Tiểu Học Thị Trấn Hà Tiên. Lại đứng lớp gần hai năm cho tới cuối đông 1967 tôi rời Hà Tiên và nhập ngũ cùng lúc với thầy Nguyễn Hồng Ẩn.
Trong thời gian đứng lớp tại trường này, tôi có dạy một số giờ gọi là “phụ trội” môn Toán tại Trung Học Hà Tiên. Nhưng sau đó hơn hai tháng, tôi dành hết thời gian cho chương trình học tập mới. Nhân duyên với Trung học Hà Tiên ngắn ngủi thôi, nhưng thật ra tôi cũng có đôi chút kỷ niệm đẹp.

B- CHUYẾN XE KHÁCH VÀO ĐỜI.

Tôi còn nhớ lúc đó là ngày 17/08/1964…..
Xe đò nổ máy, thì ra tôi đã chờ hơn bốn mươi lăm phút chỉ vì muốn được ngồi trên băng ghế ngang bác tài. Hành trang của tôi, ngoài chiếc vali bằng gỗ thông còn có thêm hai bản nhạc mới mua đêm qua tại một hiệu sách. Đó là bản “EM ƠI ĐỪNG ĐẾN NỮA & HAI LỐI MỘNG “ của Khánh Băng.
Rạch Giá là thành phố biển nên hương vị muối mặn và cái lạnh của gió biển thật là ấn tượng.
Sau hơn hai mươi phút rời bến, xe băng qua cánh đồng rộng, hai bên đường thưa thớt những mái nhà lá , nhà tranh. Một con kinh nước không sâu, chạy dài theo lộ xe mà ít thấy ghe tàu qua lại.
Ngồi bên cạnh tài xế, nên tôi có dịp nhìn ngắm khoảng không gian mênh mông trước mặt. Buổi sáng hôm đó, trời rất đẹp, rực nắng vàng. Đường vắng và đôi khi có chỗ gập ghềnh đá, làm xe bị rung lắc kẻo kẹt như khi qua những cây cầu sắt lát ván có từ thời Pháp thuộc. Những cây cầu sắt này được canh giữ cẩn thận bởi lính canh trong đồn có kẽm gai được xây đắp ở hai phía đầu cầu.
Thỉnh thoảng có chiếc xe khách ngược chiều; lúc bấy giờ chưa có xe Honda.
Ngồi trên chiếc xe phon phon chạy, tôi thấy mình vui hẳn lên và bật ra lời ca với bản nhạc trên tay; tôi thì thầm hát , quên cả mọi người xung quanh khiến chú tài xế mỉm cười thông cảm.
Sau đó bác tài vui vẻ hỏi tôi: “Đây là lần đầu thầy đến Hà Tiên, phải không ?” Tôi vui vẻ đáp lời là “phải”, và từ đó tôi có được một hướng dẫn viên rất dễ thương. Chú ấy chắc hơn tôi chừng một con giáp.
Khi qua địa danh tên là Hòn Đất, tôi mới thấy được dáng núi thật xa về phía tây. Chẳng mấy chốc sau, tôi lại thấy dáng mờ sừng sững của ngọn núi Sập về phía phải của con đường. Điều gì tôi hỏi, chú tài xế đều chỉ dẫn hết. Đây là lần đầu tiên tôi thấy núi dù là từ phía xa. Còn biển! Chú tài xế bảo, chút nữa thầy sẽ thấy núi và biển kề bên khi ta qua khỏi Kiên Lương.
Xe vào thị trấn Kiên Lương. Vậy là ta đã vượt qua đoạn đường khoảng 60 km.
Xe dừng lại, có lẽ là ngang chợ. Tôi cũng xuống xe. Hàng cây sao bên lề đường được trồng từ thời Pháp thuộc, có vẻ cằn cỗi vì bám rễ vào lề đá. Đoạn này, mặt đường trải đá cũng từ thời Pháp nay vẫn còn nguyên; cho nên hàng cây sao và đoạn đường này là dấu tích còn lại của một quá khứ khi xứ ta là một thuộc địa.
Nghỉ xả hơi được chừng 10 phút, mọi người lên xe. Băng qua đoạn đường “bụi bậm” chẳng mấy chốc tôi thấy biển và ghe tàu đánh cá neo đậu trong kinh rạch. Mùi cá khô phảng phất trong gió. Đây là cụm dân cư đánh bắt cá biển. Nhà cửa hầu hết là “nhà tranh vách lá“.
Xe lại dừng giây lát rồi tiếp tục lăn bánh. Khi xe rẽ phải, băng qua cây cầu đá là ta trực chỉ Hà Tiên, bỏ lại phía sau là thị trấn Kiên Lương.
Đoạn đường này khá đẹp, bằng phẵng, có rừng cây nấm, cây đước ở phía tây, phía đông là những vuông ruộng muối. Vùng đất này bị ngập mặn và phèn chua nên cỏ trong đồng cũng không được tốt. Qua cánh đồng muối là cánh đồng lúa xanh rờn. Xa hơn nữa là những dãy núi. Cảnh ở đây đẹp như một bức tranh mùa thu.

C-SÓNG VỖ ÀO ÀO, MÕM NÚI GẬP GỀNH, HÀNG DỪA XANH LỘNG GIÓ

Đó là khoảng đường từ xã Dương Hoà đến xã Thuận Yên, một cảnh quan đẹp mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Bởi từ thuở bé tôi sống ở làng quê. Ruộng đồng là nơi ở, là nơi tôi cùng cha mẹ trốn giặc Pháp qua gần hết thời thơ ấu.
Khi được “ra chợ” học là tôi đã 12 tuổi rồi. Kể từ đó tôi đã trải qua 10 năm học để tốt nghiệp trung học và hai năm tiếp theo ở trường Sư Phạm; cho nên tôi nào có dịp đi đó đi đây. Thời của tôi là như thế đó. Chiến tranh và bom đạn, chạy giặc và học hành. Hôm nay chuyến xe này như là chuyến du lịch đầu tiên của tôi. Bởi vậy trong tôi có nhiều thay đổi trước khung trời bao la của núi rừng, của biển cả.
Qua khỏi xã Thuận Yên một đổi, chú tài xế thông báo “Thầy ơi! Sắp tới bến đò Tô Châu, thầy phải xuống xe qua phà, xe này không qua được vì ponton quay đã hư từ lâu rồi“. Qua khỏi xã Thuận Yên, con đường chạy dọc theo chân núi Tô Châu tiến thẳng đến bến phà và tôi thấy thị trấn Hà Tiên bên kia bờ sông mênh mông nước.
Xe dừng lại, tôi xem đồng hồ, vừa đúng 12 giờ 05. Mọi người đều xuống xe và nhận hành lý. Lúc đó tôi mới thấy được những người đồng hành với mình trong chuyến đi, phần đông là thương nhân xuôi ngược, đưa hàng qua lại giữa Hà Tiên – Rạch Giá. Cũng có người ăn mặc chỉnh tề, chừng như họ là cư dân Hà Tiên hay là những viên chức như tôi vậy!
Tôi vừa đở lấy chiếc vali từ mui xe và đưa vào lề đường thì trời bỗng đổ mưa mây, mưa giữa lúc bầu trời hãy còn nắng, thật đẹp nhất là nhìn qua thành phố bên kia mờ ảo trong mưa. Thiên nhiên là như thế đó. Rồi một ý nghĩ chợt đến: đợi một chuyến xe, mất không hơn một giờ mà hành trình thật là thi vị, tuyệt vời: bởi được đứng tại đây và vào giờ này thì mới thấy được hình ảnh đẹp của Hà Tiên trong mưa. Rồi lại thêm một ý nghĩ bất chợt : dòng đời ta đi, thong thả thôi có gì đâu mà vội!

D-BẾN ĐÒ TÔ CHÂU

– Một bữa ăn trưa tại vùng đất mới làm quen.

Tôi ngồi vào bàn một quán cơm bên đường. Tôi chọn món ăn theo lời giới thiệu của bác chủ quán. Khi đó trên đường đã thưa người, tốp xuống phà, tốp lên xe. Nhìn quanh tôi chỉ thấy dăm bảy quán đơn sơ, dọc theo con lộ đá, dẩn ra ponton phà. Một bên là rừng lá bạt ngàn (dọc bờ sông tiếp giáp với cửa biển) một bên là dãy nhà có quán nước và quán ăn mà phía sau là vách núi Tô Châu. Với hàng quán đơn sơ, sự buôn bán ở đây có lẽ chỉ phục vụ cho khách qua đường là chánh. Đang tìm hiểu thì thức ăn được mang ra: canh rong biển, cá biển kho nghệ và món thịt heo xào.
Chú tài xế xe khách giới thiệu quán cơm này và chú đã đi tìm chỗ nghỉ trưa rồi. Trong quán chỉ còn dăm ba thực khách.
Khi ăn xong chén canh rong biển, tôi bới cơm và dẻ cá tiếp tục. Cơm và cá kho nghệ đã vào miệng, thế mà tôi không thể nhai, không thể nuốt mà lại không thể nhả ra liền, thật là kinh khủng! Tôi chỉ biết bụm miệng với hai bàn tay. Cô gái dọn bàn tinh ý nhìn thấy: “Bộ thầy ăn cá không được hả?”
Tôi không còn nghe thấy gì nữa mà chạy qua bên kia đường. Kinh khủng quá! Khi trở lại bàn ăn, tôi thấy có nhiều cái nhìn và cười tội nghiệp. Bác chủ quán nhìn tôi và nói lời đề nghị đổi món cá kho nghệ cho tôi. Tôi cảm nhận sự ân cần của bác ấy và thấy hai món còn lại là đủ rồi nên nói lời cám ơn và tiếp tục bữa ăn. Cầm ly nước trà trên tay, tôi cảm nhận một điều, tất cả món ăn đều mang gia vị (hương vị) của địa phương (nầy) và người phương xa phải dần dần thích nghi mới được!

– Qua phà

Sau bữa cơm, tôi bách bộ trên đường, ngược về phía chân núi, ngắm nhìn, rồi trở lại; chưa thấy có tín hiệu gì của mùa thu ở đây.
Phà cập bến, tôi liền trở lại quán ăn, chú phụ khuân vác cùng chiếc rương đang đứng chờ, chú ấy sẽ mang hành lý qua bên kia bến phà và đưa tôi về khách sạn, như vậy rất thuận tiện cho tôi. Khoảng đường phút chốc đã đông người, kẻ đứng người đi. Đến lượt tôi theo dòng người xuống phà và tôi nhận ra cái ponton quay nhưng đã hư. Đây là phương tiện xe lên xuống phà. Khi mọi người đã tìm được cho mình một chỗ đứng, phà lui ra và vượt sông. Tôi hít thở gió biển và ngắm nhìn. Giờ này thành phố Hà Tiên đang trước mặt tôi và sẽ trong tim tôi, nếu mai này tôi không còn lưu lại nơi đây.
Phà cặp bến, tôi theo dòng người lần lượt lên bờ và kết thúc hành trình 90 km đường dài.
Chú khuân vác đã trở thành người phu xe lôi và chiếc vali của tôi cũng được chú ấy để lên xe rồi. Trên bến đò giờ này rất nhộn nhịp, hàng hóa, khuân vác, mang xách, xe lôi đạp và xe lam. Ai nấy cũng đều hối hả. Tôi cũng thấy thấm mệt, nên như mọi người tôi lên xe, tựa lưng vào nệm, chân gát lên vali. Xe lăn bánh. Tôi hít thở liên tiếp những hơi dài, người khoan khoái cảm nhận những thay đổi trong tâm: tôi đang là một viên chức, tôi được đổi mới và bỏ lại phía sau cái thời học trò của mình. Bất chợt mùi cá chết, mùi cá khô làm tôi nhận ra xe mình vừa tới chợ cá Hà Tiên, sân ngoài bề bộn rác. Dù vui ngắm nhìn bên ngoài, nhưng tôi cũng cảm thấy mình khoẻ hẳn ra; còn “bác tài”, người có dáng gầy nhưng rắn rỏi nên chiếc xe lăn bánh nhẹ nhàng trên đường .

Đường Trần Hầu chạy dọc theo bờ sông rộng, phía bờ bên kia là rừng lá bạt ngàn. Xe qua khách sạn Vân Tiên không xa, “bác tài” vừa cho xe chậm lại vừa nói: « Thầy ơi, tới khách sạn rồi” . Vậy là đi đoạn đường này chỉ mất khoảng 20 phút và bây giờ mới thực sự kết thúc hành trình.

E- ĐÊM TRỌ TẠI KHÁCH SẠN LÂM VĂN CAO

– Khách sạn và bữa cơm chiều đầu tiên tại thị trấn biên cương.

Người quản lý tiếp tôi tại phòng khách bên hông khách sạn. Sau khi làm thủ tục, tôi được hướng dẫn đến một phòng trên dãy lầu phía sau. Đó là một căn phòng khá rộng, một giường đôi và một cái bàn mà trên đó có một cái đèn bão. Quan sát khắp phòng, tôi nói với người quản lý: ”Sao phòng nầy hôi mốc quá vậy, chú?”. Để trả lời tôi, chú ấy diễn giải rằng: ”Vài năm trở lại đây không có khách trọ, thầy ạ. Mấy khách sạn khác cũng vậy. Tối nay thầy dùng cái đèn bão này bởi khách sạn không có điện. Thầy cần hỏi thêm điều gì không?”. Tôi chưa kịp trả lời thì chú ấy nó tiếp: ”Nếu không có gì thì tôi xin kiếu. Chúc thầy có giấc ngủ trưa an lành”. Chú ấy nói một mạch như thế rồi lui ra. Tôi vẫn để cửa mở cho gió thoảng làm bớt mùi mốc và ẩm ướt trong phòng, rồi ngả lưng trên giường đánh một giấc.
Khi chợt tỉnh sau một giấc ngủ thật say, người cảm thấy hưng phấn tôi liền bật dậy với ý nghĩ đi tìm người bạn theo lời chỉ dẫn của chú xe lôi đạp. Thế là sau khi làm vệ sinh thân thể, tôi mặc một bộ đồ mới và xuống đường Nguyễn Thần Hiến cặp bên khách sạn.
Buổi chiều hôm đó có nắng hanh vàng thật đẹp, bầu trời trong xanh cao thẳm và có gió ào ào thổi nhưng chừng như không phải là gió thu.
Vì là khách lạ mới đến nên tôi để mắt quan sát; phía trước khách sạn có hai cây dừa trồng trên mé sông và phía bên kia bên kia bờ sông rộng mênh mông là rừng lá trải dài từ bến đò Tô Châu đến biển. Nhìn về phía tây dọc theo đường Trần Hầu là bến cá Cầu Câu, là nơi ghe thuyền đánh bắt cá neo đậu. Ngược về hướng chợ là khách sạn Vân Tiên kề bên khách sạn Lâm Văn Cao. Đây là cảnh quan tôi nhận ra chiều hôm đó, ngày mai cũng có thể sẽ khác đi.
Tôi nghe trong gió thoảng có mùi cá khô, một mùi hết sức là đặc trưng. Thế rồi tôi rảo bước tìm nhà thầy Châu trên đường Nguyễn Thần Hiến. Dãy nhà hai bên đường đều có hàng rào bằng cây kiểng và mỗi nhà đều có sân phơi trống thoáng. Đây cũng là biễu hiện ý nghĩa cuộc sống ngăn nắp và bình yên của cư dân ở đây.
Đi một khoảng đường không xa, tôi tìm được nhà thầy Châu nhờ có hai cây dừa cặp hàng rào cọ hoa dâm bụt. Cuộc hội ngộ thật là vui dù chủ nhà và khách chưa có lần gặp nhau.
Tôi được anh chị Châu tiếp đón qua sự giới thiệu của anh Dư, bạn đồng khóa với tôi. Câu chuyện hội ngộ được mở đầu bằng sự ngạc nhiên, sau đó chúng tôi nói về trường sở, chỗ ăn ở cho những ngày sắp tới. Tôi cũng được anh chị Châu mời ở lại dùng bữa cơm chiều với gia đình và đề nghị tôi trả lại phòng khách sạn, đến trọ nhà anh chị đêm nay cùng với anh Dư. Tôi có lời cám ơn lòng hiếu khách của anh chị Châu và xin kiếu từ vì giờ này cũng gần sáu giờ chiều rồi.
Trở lại đường Trần Hầu, tôi đi thẳng ra chợ và đến quán cơm có một số thực khách đang ăn. Bửa cơm này rất ngon miệng dù cũng chỉ với các món canh, thịt kho và cá chiên. Có lẽ do tài nấu nướng của đầu bếp và vừa lúc tôi bị đói. Nhìn quanh trong khu chợ, chỉ có vài hàng quán bán cơm và rượu bia; bàn ghế cũng được bày hẳn ra lề đường. Người đi lại, thực khách, đèn đuốc và hàng quán làm cho bến chợ về đêm bớt vắng vẻ. Khi màn đêm xuống, đèn điện cũng không được sáng lắm. Tôi không thấy có người quen nên vừa ăn xong là tôi rời quán, lang thang một chút để biết Hà Tiên về đêm.
Tôi rảo bước mà chưa định hướng được mình đi đâu, cứ đi như là một khách lạ lang thang vậy thôi, bởi tôi chưa biết được đường nào khác ngoài bến đò, sân chợ và đường Trần Hầu. Dưới ánh trăng mờ và gió lạnh, bổng dưng tôi thấy nhớ nhà, nhớ mẹ và anh chị tôi, rồi một niềm bâng khuâng làm thẩn thờ cả bước đi. Nhưng mọi sự rồi cũng trôi qua. Tôi tự nhủ mình phải sống một cuộc đời như thế nào đây? Đã đến lúc mình phải tự lập rồi.
Nhớ lại quá khứ, nhất là giai đoạn học tập ở trường Sư Phạm. Thời gian này tôi có được cơ hội học tập, nghiên cứu âm nhạc, hội họa và cả thi ca từ đó mà phát sinh ra những đam mê và giờ đây trong tôi có đủ mọi thứ hành trang kể cả một tấm thân đạt đ̣ến mức hoàn chỉnh của một thanh niên, trạng thái tâm lý cũng thế nhất là những cảm xúc. Vậy là: “Ta đến một khung trời mới với một con người chừng như mạnh mẽ hơn và dấn thân hơn”!.
Những dòng suy tư này đã chiếm một nửa thời gian của một buổi tối đầu tiên dạo phố. Tôi về đến khách sạn khoảng hai mươi giờ. Sau khi uống một tách trà nóng và trò chuyện xã giao với chú quản lý, tôi trở về phòng nghỉ ngơi.

– Đêm chập chờn với “hình ma bóng quỷ” *

Tôi đóng cửa phòng, nằm hít thở mùi ẩm mốc thoang thoảng. Bởi còn có những ý nghĩ nên giấc ngủ chưa đến. Bây giờ và ở đây tôi đang đối diện với một thực tế cô đơn và âu lo. Hơn một giờ trôi qua, nằm trăn trở trên nệm giường lạnh lẽo mà vẩn chưa ngủ được. Tôi tung chăn, ra khỏi phòng và bước ra hành lang phía trước. Tựa trên thành lan can, tôi nhìn bóng đêm lờ mờ trong ánh trăng lu, nghe gió thổi và tiếng sóng gào. Đặc biệt là tiếng chim én. Chúng bay lượn thành đàn, bay lượn sát cả mái hiên trước mặt tôi, chừng như đưa tay ra là đụng vào chúng. Đêm trở nên bao la hơn cùng với mặt nước mênh mông loang loáng ánh trăng. Đây là một bức tranh về đêm của Hà Tiên, xứ thơ vốn nổi tiếng với Tao Đàn Chiêu Anh Các, với Dì Tự, với Đông Hồ, Tương Phố! Rất đáng tiếc khi tôi đứng ̣đây chỉ có một mình. Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, trời càng về khuya gió càng lạnh nên tôi trở về phòng. Đã gần một giờ khuya rồi.
Nhìn lối đi dẫn đến phòng tôi cảm thấy ớn lạnh. Tất cả chìm trong bóng tối và không có khách trọ thứ hai nào trên cái tầng lầu xa lạ nầy kể cả trong khách sạn. Nhưng dù sao tôi cũng phải trở về phòng ngủ và đóng cửa lại thì ổn hơn là đứng ở đây. Thế là tôi lấy hết can đảm vượt qua vùng bóng tối, mở cửa phòng, vào và đóng sập lại, cài then, móc khoá cẩn thận.
Nằm trên giường, kéo chăn trùm kín người, tôi lắng nghe cái gì đó trong đêm. Tất cả vẫn vắng lặng im lìm. Đắp chăn nhưng tôi thấy lạnh lẽo khác thường; chăn nệm lạnh tanh, tay chân tôi cũng quá lạnh. Bất chợt một nỗi lo sợ làm tôi phát run trước một ảo ảnh chập chờn lấp ló trong phòng. Tôi tung chăn và xách đèn bão xuống cầu thang tìm anh quản lý. Nhưng hởi ơi! Chú ấy không có ở trong phòng, chú đã khóa cửa và rời khách sạn từ lúc nào rồi. Vậy là bây giờ chỉ có mỗi một mình tôi trong cái khách sạn xa lạ này, khiếp thật. Tôi tức tốc vọt lên cầu thang với cái đèn bão trong tay và nhanh chóng chui vào phòng, đóng cửa cài then lại. Nhìn cái đèn bão, tôi thấy dầu chỉ còn một nửa. Nếu tôi vặn đèn sáng lên thì dầu sẽ hết sớm, đèn tắt, còn để mập mờ thì tôi sợ bóng chập chờn cuối phòng. Cho nên tôi quyết định kiểm tra góc phòng, gầm giường, cả dưới cái bàn nữa; tất cả đều trống không.
Tạm yên đôi chút, tôi trở lại giường và kéo chăn đắp kín người. Cả giờ trôi qua mà tôi không ngủ được. Tôi bị một ám ảnh ghê rợn về hình ảnh của một con quỷ cụt đầu, con ma đói với đôi mắt trừng trừng, rồi con quỷ cái xỏa tóc. Tôi cố xua tan tất cả để tìm giấc ngủ nhưng không thể. Tôi tự hỏi bây giờ phải làm sao đây? Chạy ra hành lan kêu cứu chăng? Không thể làm như thế được bởi tôi là khách lạ xuất hiện trong đêm khuya này. Bị dồn vào thế bí, chỉ còn cách tự tin vào mình thôi để có thể đối diện với một sự thật: có quỷ có ma thật không hay chỉ là hình ma bóng quế có từ tâm mình!
Tôi ngồi phắt dậy trên mép giường, một chân chống sàn, hai tay chống trên mép giường trong tư thế sẵn sàng và tôi dõng dạc khiêu khích: Tao đây, tao đã sẵn sàng. Con ma quái nào? Chúng mầy hiện hình trước mặt tao đi để “ta” xem mặt mũi chúng mầy ra sao? Thế nào? Có nghe thấy lời tao không? Chúng mầy có gan thì hiện hình ra đi. Tao thách chúng mầy đấy, có nghe thấy tao nói không?
Mạnh giọng như thế tôi thấy bừng dậy trong lòng một sức mạnh và sẵn sàng đối diện với mọi tình huống. Nhưng tim tôi lại đập thình thịch và nhanh quá. Ánh sáng của cái đèn bão trên bàn có thể giúp tôi quan sát và chờ đợi mọi động tịnh. Thời gian nặng nề trôi qua, mọi sự vẫn im lìm, “lạnh ngắt như tờ”. Tôi tiếp tục thách thức một cách dõng dạc :”Ta chờ ba phút nữa nếu chúng mầy không xuất hiện thì coi như chúng mầy sợ tao hay chúng mầy là hư ảo, chúng mầy không có thật trong khách sạn này”. Tôi lẩm bẩm như thế và đợi chờ: một phút, rồi hai phút, ba phút trôi qua … không có gì cả. Tôi thấy nhẹ nhõm. Thế là tôi quả quyết thực sự không có con ma con quỷ nào cả, chính niềm tin này làm dịu lại sự căng thẳng quá mức trong tôi. Sau một lúc yên lặng là sự bình tỉnh trở lại. Đây là vấn đề liên hệ đến ấn tượng tâm linh. Giờ đây nghĩ lại nếu rơi vào trường hợp tương tự, tôi không thể không sợ hãi.
Tôi ngả lưng xuống giường và thiếp đi trong mệt mỏi.
Sáng dậy rất trễ và hãy còn mệt mỏi, tôi vội xuống chất vấn ông quản lý:
– Hồi hôm sao ông bỏ tôi một mình trong khách sạn này vậy?
– Xin lỗi thầy. Bởi chiều qua vợ tôi bị bịnh, hay tin lúc đưa thầy lên nhận phòng và tôi phải tức tốc trở về nhà. Khi trở lại thì thấy thầy đã ngủ nên tôi lại về nhà.
Nói về “hình ma bóng quế”: đó là ấn tượng mà tôi đã có từ thời thơ ấu qua những lần đi coi « lên đồng”, “múa bóng” để chữa bịnh tà, ma quỷ xuất hiện lúc đó và đó là quyền lực của cõi âm mà gia chủ phải cầu xin.

Huỳnh Văn Hòa
August 1st, 2020
*Phần này được viết sau một chuyến về thăm lại Hà Tiên và đi ngang khách sạn Lâm Văn Cao. Lúc đó sông Hà Tiên được san lấp hai bên bờ và nhà phố cũng đã có xây dựng. Sự đổi thay làm bồi hồi trong dạ nên “khơi lại đóng tro tàn” ghi dấu kỷ niệm xưa của một đêm không ngủ.

Thầy Huỳnh Văn Hòa: hình trái và giữa: chân dung trong những năm dạy học tại Hà Tiên (1964-1967); hình phải: chân dung hiện nay (Cần Thơ)

Quang cảnh thành phố Hà Tiên trong những năm 50-60 nhìn từ cầu bắc bên xóm Tô Châu, có lẽ đây là cảnh chợ Hà Tiên mà thầy Huỳnh Văn Hòa nhìn thấy lần đầu tiên khi sắp sửa qua phà để tới chợ Hà Tiên. Hình: Hieu_Nguyen

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Bên góc phải là khách sạn Vân Tiên. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) trong những năm 70. Quang cảnh đúng như trong câu chuyện tự kể do thầy Huỳnh Văn Hòa viết. Hình: H.L Serra

Bên trái: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, bên phải: Thầy Huỳnh Văn Hòa (những năm 60). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Bên trái là Thầy Châu (người được nhắc đến trong câu chuyện), bên phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, chiếc mini Vespa là của thầy Huỳnh Văn Hòa, phía xa là Thạch Động. (1966). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Học sinh thời Trung Học Hà Tiên (những năm 60) đi chơi cùng với quý thầy ở bãi biển Mũi Nai Hà Tiên. Thầy Huỳnh Văn Hòa đứng bìa trái mang kính đen, thầy Trương Minh Hiển phía trên, đội nón trắng, áo xám đen, trên cùng thầy Nguyễn Hồng Ẩn, áo đen. Hình: TVM

Tái bút: Khi đăng bài viết nầy, ngày mai sẽ là ngày 17/08/2020, nếu tính như trong bài viết thầy Huỳnh Văn Hòa đặt chân đến vùng Hà Tiên ngày 17/08/1964, như vậy là đúng tròn 56 năm…..Có phải là một sự ngẫu nhiên rất đẹp…

Đây là một trong hai bản nhạc mà thầy Huỳnh Văn Hòa đã mua ở một hiệu sách bên Rạch Giá trước khi đi xe đến Hà Tiên. « Em ơi đừng đến nữa », Khánh Băng.

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m)* và Đại Tô Châu (cao 178 m)*, xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m)*, và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m)*. Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Chú Thích: * Theo site bản đồ có tên là MAPNALL thì chiều cao có khác hơn: Tiểu Tô Châu (cao 89 m) và Đại Tô Châu (cao 153 m)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.