Hà Tiên và sự yên bình của một vùng đất cổ kính, nên thơ (Thầy Huỳnh Văn Hòa)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một điều chắc chắn là quý thầy cô của chúng ta cả hai bậc Trung và Tiểu học thời 60-70 ở Hà Tiên, ngoài một khả năng sư phạm được đào luyện rất cao cấp, vị nào cũng có một thiên tài về viết văn, làm thơ…Không kể tên ra, thầy cô và các bạn cũng đều biết vì đã có dịp đọc một số bài tuyệt tác đăng trên Blog nầy: thầy Nguyễn Lê Hùng, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy Nguyễn Phúc Hậu, cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô Dương Hồng Châu,.v…v… còn nhiều thầy cô nữa, xin phép tạm ngưng kể tên ở đây…Hôm nay mình được dịp nhận một bài viết của thầy Huỳnh Văn Hòa, bài viết rất hay, đặc sắc và có thể nói văn chương hòa trộn giữa hai khuynh hướng hiện thực và phóng khoáng…Hiện thực vì qua bài tự thuật, thầy Hòa đã đưa chúng ta về tận những năm 1960, với một xứ sở Hà Tiên thật là đẹp như thơ, hiện thực vì thầy viết ra không sót một chi tiết nhỏ nào đặc trưng cho cái khoảng không gian và thời gian ngày xưa đó, từng mỗi một giây phút thầy chạm trán với cuộc đời sau khi rời trường Sư Phạm để nhận nhiệm sở ở vùng Hà Tiên xa xôi…Từ nỗi nôn nao khi sắp được nhìn thấy núi xanh, thấy biển rộng, chan hòa cả người dưới làn ánh nắng rực rỡ và ngọn gió mát của vùng biển cho đến nỗi sợ hãi khi phải đương đầu với bóng đêm gần như vô tận mà chỉ có một thân một mình giũa đêm khuya, không một ai đồng bạn và không một ánh sáng, chỉ có tự tin vào mình để chiến thắng với một cái gì đó vô hình bên những bóng chim én bay chặp chờn ngoài lan can của căn phòng ngủ trọ…Phóng khoáng vì thầy đã tạo ra được một cái không khí nên thơ, cơn mộng hải hồ đi đó đây, tự do ngắm trời, mây nước và tận hưởng cái thú đi đường dù chỉ có một mình nhưng đầu óc rất là sảng khoái cho cuộc hành trình của mình…Phóng khoáng cũng vì đã tự nhận ra mình đã là hay đã thành một viên chức, thành một người thanh niên với cái phát triển tột độ của một cơ thể lành mạnh và một đầu óc sáng tỏ để đối mặt với một cuộc sống tự lập, tự làm chủ và tự mình lèo lái cho mình trong con đường mới để thi hành chức năng nhà giáo…

Nếu trong chúng ta, quý thầy cô và các bạn, muốn có một cái nhìn, một hình ảnh về Hà Tiên trong những năm 60, không phim ảnh hay bức hình nào toàn diện hơn là hãy đọc qua bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa, vì qua bài viết, thầy Hòa đã diễn tả và kể lại tất cả, từ cảnh con đường cát, đá với bụi vàng, đến những rừng cây nấm, cây đước, những ruộng muối miền ven biển,…Từ mùi vị tanh khó ăn của món cá kho nghệ đến mùi cá khô, cá chết báo hiệu xe chạy ngang qua chợ cá của Hà Tiên ngày xưa,…đến mùi ẩm mốc của căn phòng trọ trong khách sạn,…Buổi chiều dạo nhẹ nhàng vài bước trên vài con đường để đi thăm người quen, đến một đêm sợ ma quỷ không ngủ được vì chỉ có một mình trong căn phòng tối vắng…Nói tóm lại bài tự thuật của thầy Huỳnh Văn Hòa là một di tích, một nhân chứng cho Hà Tiên ngày xưa, không thể không thán phục đầu tiên là tài viết văn rất có hồn và rất lôi cuốn của thầy, mà còn phải nể cái tài nhớ từng chi tiết nhỏ mà điển hình của thầy, chính lời văn thể hiện qua từng chi tiết nhỏ đó đã đưa chúng ta hay ít nhất là mình, khi đọc qua bài viết của thầy, đã thấm thía và nhớ rất nhiều Hà Tiên của những năm 60-70, khoảng thời gian mà ai trong chúng ta cũng đã sống thật sự một đời sống trai trẻ, nam thanh, nữ tú, vui và rất vô tư (tuy nhiên cũng biết rung động chút ít trước những hình bóng xinh đẹp của các bạn cùng trường lớp…). Xin thầy Huỳnh Văn Hòa nhận nơi đây lời cám ơn chân tình của mình, thầy đã giúp cho Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » tiếp tục đưa quý thầy cô và các bạn về trường xưa, lớp cũ để mơ mộng và tưởng nhớ …dù chỉ là để cuối cùng cũng phải trở về với hiện tại, nhưng sống có mộng mơ như thế có phải là đẹp không thầy cô và các bạn…(Paris 16/08/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu).

Trước khi chánh thức vào bài của thầy Huỳnh Văn Hòa, mình cũng xin nói thêm là ngày xưa thầy Hòa cũng là người ở trọ cùng căn nhà đường Nhật Tảo, Hà Tiên với thầy Nguyễn Hồng Ẩn, hai thầy là bạn rất thân từ thưở đó và vẫn cho đến ngày hôm nay, thầy Ẩn đã có lời giới thiệu bài viết như sau: « Bạn tôi, Huỳnh Văn Hòa, đang thả hồn về ký ức xa xôi, xa khoảng 56 năm thôi, về một miền nhớ đã « đóng đinh » trong tiềm thức của anh một cách miên viễn. Anh chia sẻ với tôi vì tôi cũng là người bạn một thời đồng hành với anh nơi nầy. Tôi xin mạn phép anh, chuyển phần hoài niệm đầu tiên nầy cùng anh chị em xa gần, nhất là quý bạn đã, đang sống tại vùng đất thân thương nầy: Đất Phương Thành… »  (Nguyễn Hồng Ẩn)

HÀ TIÊN VÀ SỰ YÊN BÌNH CỦA MỘT VÙNG ĐẤT CỔ KÍNH, NÊN THƠ

A-HÀ TIÊN VÀ TÔI

Đến và đi, một thầy Hòa trong ký ức của bè bạn và học trò.
Cũng như ý nghĩ của thầy cô và các em, Hà Tiên xưa với địa danh, con đường góc phố cùng con người và sự kiện đều là dấu kỷ niệm của mỗi người. Nên chi đã cùng nhau làm sống lại một thời của quá khứ đúng là điều tuyệt vời như các “anh em” trong trang blog Hà Tiên Xưa đã làm. Hôm nay, tôi xin góp phần, mong các bạn đón nhận.

Cuộc sống của chúng ta vốn dĩ luôn biến động và đổi thay. Nhưng thật là may mắn, chúng ta còn đây như là chứng nhân và đang sống “người góc bể kẻ chân trời” nhưng nếu cùng hướng về, ta sẽ gặp lại nhau dù chỉ là trên trang giấy, phải không?
Thế nên để mở đầu tôi ghi lại đây đôi dòng về thuở tôi mới đến Hà Tiên, thời gian lưu lại và rời xa cho đến tận bây giờ như Mãnh, Patrice Trần, đã đề nghị để cho “mọi người” có được thông tin về tôi.
Một chút về tôi:
– Đến thị trấn Hà Tiên đúng 12 giờ 05 ngày 17/08/1964 bằng xe đò Rạch Giá-Hà Tiên. Lúc đó trời đang nắng bỗng đổ mưa mây. (Mưa phủ khắp thành phố bên kia bờ sông; đó là hình ảnh đẹp đầu tiên trước mắt tôi).
– Sau vài ngày phép, tôi đến nhận lớp tại trường Sơ cấp Lộc Trĩ Mũi Nai. Lúc đó thầy Thành, người Hà Tiên, làm Trưởng giáo. Đứng lớp hai năm, tôi được thuyên chuyển ra Tiểu Học Thị Trấn Hà Tiên. Lại đứng lớp gần hai năm cho tới cuối đông 1967 tôi rời Hà Tiên và nhập ngũ cùng lúc với thầy Nguyễn Hồng Ẩn.
Trong thời gian đứng lớp tại trường này, tôi có dạy một số giờ gọi là “phụ trội” môn Toán tại Trung Học Hà Tiên. Nhưng sau đó hơn hai tháng, tôi dành hết thời gian cho chương trình học tập mới. Nhân duyên với Trung học Hà Tiên ngắn ngủi thôi, nhưng thật ra tôi cũng có đôi chút kỷ niệm đẹp.

B- CHUYẾN XE KHÁCH VÀO ĐỜI.

Tôi còn nhớ lúc đó là ngày 17/08/1964…..
Xe đò nổ máy, thì ra tôi đã chờ hơn bốn mươi lăm phút chỉ vì muốn được ngồi trên băng ghế ngang bác tài. Hành trang của tôi, ngoài chiếc vali bằng gỗ thông còn có thêm hai bản nhạc mới mua đêm qua tại một hiệu sách. Đó là bản “EM ƠI ĐỪNG ĐẾN NỮA & HAI LỐI MỘNG “ của Khánh Băng.
Rạch Giá là thành phố biển nên hương vị muối mặn và cái lạnh của gió biển thật là ấn tượng.
Sau hơn hai mươi phút rời bến, xe băng qua cánh đồng rộng, hai bên đường thưa thớt những mái nhà lá , nhà tranh. Một con kinh nước không sâu, chạy dài theo lộ xe mà ít thấy ghe tàu qua lại.
Ngồi bên cạnh tài xế, nên tôi có dịp nhìn ngắm khoảng không gian mênh mông trước mặt. Buổi sáng hôm đó, trời rất đẹp, rực nắng vàng. Đường vắng và đôi khi có chỗ gập ghềnh đá, làm xe bị rung lắc kẻo kẹt như khi qua những cây cầu sắt lát ván có từ thời Pháp thuộc. Những cây cầu sắt này được canh giữ cẩn thận bởi lính canh trong đồn có kẽm gai được xây đắp ở hai phía đầu cầu.
Thỉnh thoảng có chiếc xe khách ngược chiều; lúc bấy giờ chưa có xe Honda.
Ngồi trên chiếc xe phon phon chạy, tôi thấy mình vui hẳn lên và bật ra lời ca với bản nhạc trên tay; tôi thì thầm hát , quên cả mọi người xung quanh khiến chú tài xế mỉm cười thông cảm.
Sau đó bác tài vui vẻ hỏi tôi: “Đây là lần đầu thầy đến Hà Tiên, phải không ?” Tôi vui vẻ đáp lời là “phải”, và từ đó tôi có được một hướng dẫn viên rất dễ thương. Chú ấy chắc hơn tôi chừng một con giáp.
Khi qua địa danh tên là Hòn Đất, tôi mới thấy được dáng núi thật xa về phía tây. Chẳng mấy chốc sau, tôi lại thấy dáng mờ sừng sững của ngọn núi Sập về phía phải của con đường. Điều gì tôi hỏi, chú tài xế đều chỉ dẫn hết. Đây là lần đầu tiên tôi thấy núi dù là từ phía xa. Còn biển! Chú tài xế bảo, chút nữa thầy sẽ thấy núi và biển kề bên khi ta qua khỏi Kiên Lương.
Xe vào thị trấn Kiên Lương. Vậy là ta đã vượt qua đoạn đường khoảng 60 km.
Xe dừng lại, có lẽ là ngang chợ. Tôi cũng xuống xe. Hàng cây sao bên lề đường được trồng từ thời Pháp thuộc, có vẻ cằn cỗi vì bám rễ vào lề đá. Đoạn này, mặt đường trải đá cũng từ thời Pháp nay vẫn còn nguyên; cho nên hàng cây sao và đoạn đường này là dấu tích còn lại của một quá khứ khi xứ ta là một thuộc địa.
Nghỉ xả hơi được chừng 10 phút, mọi người lên xe. Băng qua đoạn đường “bụi bậm” chẳng mấy chốc tôi thấy biển và ghe tàu đánh cá neo đậu trong kinh rạch. Mùi cá khô phảng phất trong gió. Đây là cụm dân cư đánh bắt cá biển. Nhà cửa hầu hết là “nhà tranh vách lá“.
Xe lại dừng giây lát rồi tiếp tục lăn bánh. Khi xe rẽ phải, băng qua cây cầu đá là ta trực chỉ Hà Tiên, bỏ lại phía sau là thị trấn Kiên Lương.
Đoạn đường này khá đẹp, bằng phẵng, có rừng cây nấm, cây đước ở phía tây, phía đông là những vuông ruộng muối. Vùng đất này bị ngập mặn và phèn chua nên cỏ trong đồng cũng không được tốt. Qua cánh đồng muối là cánh đồng lúa xanh rờn. Xa hơn nữa là những dãy núi. Cảnh ở đây đẹp như một bức tranh mùa thu.

C-SÓNG VỖ ÀO ÀO, MÕM NÚI GẬP GỀNH, HÀNG DỪA XANH LỘNG GIÓ

Đó là khoảng đường từ xã Dương Hoà đến xã Thuận Yên, một cảnh quan đẹp mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Bởi từ thuở bé tôi sống ở làng quê. Ruộng đồng là nơi ở, là nơi tôi cùng cha mẹ trốn giặc Pháp qua gần hết thời thơ ấu.
Khi được “ra chợ” học là tôi đã 12 tuổi rồi. Kể từ đó tôi đã trải qua 10 năm học để tốt nghiệp trung học và hai năm tiếp theo ở trường Sư Phạm; cho nên tôi nào có dịp đi đó đi đây. Thời của tôi là như thế đó. Chiến tranh và bom đạn, chạy giặc và học hành. Hôm nay chuyến xe này như là chuyến du lịch đầu tiên của tôi. Bởi vậy trong tôi có nhiều thay đổi trước khung trời bao la của núi rừng, của biển cả.
Qua khỏi xã Thuận Yên một đổi, chú tài xế thông báo “Thầy ơi! Sắp tới bến đò Tô Châu, thầy phải xuống xe qua phà, xe này không qua được vì ponton quay đã hư từ lâu rồi“. Qua khỏi xã Thuận Yên, con đường chạy dọc theo chân núi Tô Châu tiến thẳng đến bến phà và tôi thấy thị trấn Hà Tiên bên kia bờ sông mênh mông nước.
Xe dừng lại, tôi xem đồng hồ, vừa đúng 12 giờ 05. Mọi người đều xuống xe và nhận hành lý. Lúc đó tôi mới thấy được những người đồng hành với mình trong chuyến đi, phần đông là thương nhân xuôi ngược, đưa hàng qua lại giữa Hà Tiên – Rạch Giá. Cũng có người ăn mặc chỉnh tề, chừng như họ là cư dân Hà Tiên hay là những viên chức như tôi vậy!
Tôi vừa đở lấy chiếc vali từ mui xe và đưa vào lề đường thì trời bỗng đổ mưa mây, mưa giữa lúc bầu trời hãy còn nắng, thật đẹp nhất là nhìn qua thành phố bên kia mờ ảo trong mưa. Thiên nhiên là như thế đó. Rồi một ý nghĩ chợt đến: đợi một chuyến xe, mất không hơn một giờ mà hành trình thật là thi vị, tuyệt vời: bởi được đứng tại đây và vào giờ này thì mới thấy được hình ảnh đẹp của Hà Tiên trong mưa. Rồi lại thêm một ý nghĩ bất chợt : dòng đời ta đi, thong thả thôi có gì đâu mà vội!

D-BẾN ĐÒ TÔ CHÂU

– Một bữa ăn trưa tại vùng đất mới làm quen.

Tôi ngồi vào bàn một quán cơm bên đường. Tôi chọn món ăn theo lời giới thiệu của bác chủ quán. Khi đó trên đường đã thưa người, tốp xuống phà, tốp lên xe. Nhìn quanh tôi chỉ thấy dăm bảy quán đơn sơ, dọc theo con lộ đá, dẩn ra ponton phà. Một bên là rừng lá bạt ngàn (dọc bờ sông tiếp giáp với cửa biển) một bên là dãy nhà có quán nước và quán ăn mà phía sau là vách núi Tô Châu. Với hàng quán đơn sơ, sự buôn bán ở đây có lẽ chỉ phục vụ cho khách qua đường là chánh. Đang tìm hiểu thì thức ăn được mang ra: canh rong biển, cá biển kho nghệ và món thịt heo xào.
Chú tài xế xe khách giới thiệu quán cơm này và chú đã đi tìm chỗ nghỉ trưa rồi. Trong quán chỉ còn dăm ba thực khách.
Khi ăn xong chén canh rong biển, tôi bới cơm và dẻ cá tiếp tục. Cơm và cá kho nghệ đã vào miệng, thế mà tôi không thể nhai, không thể nuốt mà lại không thể nhả ra liền, thật là kinh khủng! Tôi chỉ biết bụm miệng với hai bàn tay. Cô gái dọn bàn tinh ý nhìn thấy: “Bộ thầy ăn cá không được hả?”
Tôi không còn nghe thấy gì nữa mà chạy qua bên kia đường. Kinh khủng quá! Khi trở lại bàn ăn, tôi thấy có nhiều cái nhìn và cười tội nghiệp. Bác chủ quán nhìn tôi và nói lời đề nghị đổi món cá kho nghệ cho tôi. Tôi cảm nhận sự ân cần của bác ấy và thấy hai món còn lại là đủ rồi nên nói lời cám ơn và tiếp tục bữa ăn. Cầm ly nước trà trên tay, tôi cảm nhận một điều, tất cả món ăn đều mang gia vị (hương vị) của địa phương (nầy) và người phương xa phải dần dần thích nghi mới được!

– Qua phà

Sau bữa cơm, tôi bách bộ trên đường, ngược về phía chân núi, ngắm nhìn, rồi trở lại; chưa thấy có tín hiệu gì của mùa thu ở đây.
Phà cập bến, tôi liền trở lại quán ăn, chú phụ khuân vác cùng chiếc rương đang đứng chờ, chú ấy sẽ mang hành lý qua bên kia bến phà và đưa tôi về khách sạn, như vậy rất thuận tiện cho tôi. Khoảng đường phút chốc đã đông người, kẻ đứng người đi. Đến lượt tôi theo dòng người xuống phà và tôi nhận ra cái ponton quay nhưng đã hư. Đây là phương tiện xe lên xuống phà. Khi mọi người đã tìm được cho mình một chỗ đứng, phà lui ra và vượt sông. Tôi hít thở gió biển và ngắm nhìn. Giờ này thành phố Hà Tiên đang trước mặt tôi và sẽ trong tim tôi, nếu mai này tôi không còn lưu lại nơi đây.
Phà cặp bến, tôi theo dòng người lần lượt lên bờ và kết thúc hành trình 90 km đường dài.
Chú khuân vác đã trở thành người phu xe lôi và chiếc vali của tôi cũng được chú ấy để lên xe rồi. Trên bến đò giờ này rất nhộn nhịp, hàng hóa, khuân vác, mang xách, xe lôi đạp và xe lam. Ai nấy cũng đều hối hả. Tôi cũng thấy thấm mệt, nên như mọi người tôi lên xe, tựa lưng vào nệm, chân gát lên vali. Xe lăn bánh. Tôi hít thở liên tiếp những hơi dài, người khoan khoái cảm nhận những thay đổi trong tâm: tôi đang là một viên chức, tôi được đổi mới và bỏ lại phía sau cái thời học trò của mình. Bất chợt mùi cá chết, mùi cá khô làm tôi nhận ra xe mình vừa tới chợ cá Hà Tiên, sân ngoài bề bộn rác. Dù vui ngắm nhìn bên ngoài, nhưng tôi cũng cảm thấy mình khoẻ hẳn ra; còn “bác tài”, người có dáng gầy nhưng rắn rỏi nên chiếc xe lăn bánh nhẹ nhàng trên đường .

Đường Trần Hầu chạy dọc theo bờ sông rộng, phía bờ bên kia là rừng lá bạt ngàn. Xe qua khách sạn Vân Tiên không xa, “bác tài” vừa cho xe chậm lại vừa nói: « Thầy ơi, tới khách sạn rồi” . Vậy là đi đoạn đường này chỉ mất khoảng 20 phút và bây giờ mới thực sự kết thúc hành trình.

E- ĐÊM TRỌ TẠI KHÁCH SẠN LÂM VĂN CAO

– Khách sạn và bữa cơm chiều đầu tiên tại thị trấn biên cương.

Người quản lý tiếp tôi tại phòng khách bên hông khách sạn. Sau khi làm thủ tục, tôi được hướng dẫn đến một phòng trên dãy lầu phía sau. Đó là một căn phòng khá rộng, một giường đôi và một cái bàn mà trên đó có một cái đèn bão. Quan sát khắp phòng, tôi nói với người quản lý: ”Sao phòng nầy hôi mốc quá vậy, chú?”. Để trả lời tôi, chú ấy diễn giải rằng: ”Vài năm trở lại đây không có khách trọ, thầy ạ. Mấy khách sạn khác cũng vậy. Tối nay thầy dùng cái đèn bão này bởi khách sạn không có điện. Thầy cần hỏi thêm điều gì không?”. Tôi chưa kịp trả lời thì chú ấy nó tiếp: ”Nếu không có gì thì tôi xin kiếu. Chúc thầy có giấc ngủ trưa an lành”. Chú ấy nói một mạch như thế rồi lui ra. Tôi vẫn để cửa mở cho gió thoảng làm bớt mùi mốc và ẩm ướt trong phòng, rồi ngả lưng trên giường đánh một giấc.
Khi chợt tỉnh sau một giấc ngủ thật say, người cảm thấy hưng phấn tôi liền bật dậy với ý nghĩ đi tìm người bạn theo lời chỉ dẫn của chú xe lôi đạp. Thế là sau khi làm vệ sinh thân thể, tôi mặc một bộ đồ mới và xuống đường Nguyễn Thần Hiến cặp bên khách sạn.
Buổi chiều hôm đó có nắng hanh vàng thật đẹp, bầu trời trong xanh cao thẳm và có gió ào ào thổi nhưng chừng như không phải là gió thu.
Vì là khách lạ mới đến nên tôi để mắt quan sát; phía trước khách sạn có hai cây dừa trồng trên mé sông và phía bên kia bên kia bờ sông rộng mênh mông là rừng lá trải dài từ bến đò Tô Châu đến biển. Nhìn về phía tây dọc theo đường Trần Hầu là bến cá Cầu Câu, là nơi ghe thuyền đánh bắt cá neo đậu. Ngược về hướng chợ là khách sạn Vân Tiên kề bên khách sạn Lâm Văn Cao. Đây là cảnh quan tôi nhận ra chiều hôm đó, ngày mai cũng có thể sẽ khác đi.
Tôi nghe trong gió thoảng có mùi cá khô, một mùi hết sức là đặc trưng. Thế rồi tôi rảo bước tìm nhà thầy Châu trên đường Nguyễn Thần Hiến. Dãy nhà hai bên đường đều có hàng rào bằng cây kiểng và mỗi nhà đều có sân phơi trống thoáng. Đây cũng là biễu hiện ý nghĩa cuộc sống ngăn nắp và bình yên của cư dân ở đây.
Đi một khoảng đường không xa, tôi tìm được nhà thầy Châu nhờ có hai cây dừa cặp hàng rào cọ hoa dâm bụt. Cuộc hội ngộ thật là vui dù chủ nhà và khách chưa có lần gặp nhau.
Tôi được anh chị Châu tiếp đón qua sự giới thiệu của anh Dư, bạn đồng khóa với tôi. Câu chuyện hội ngộ được mở đầu bằng sự ngạc nhiên, sau đó chúng tôi nói về trường sở, chỗ ăn ở cho những ngày sắp tới. Tôi cũng được anh chị Châu mời ở lại dùng bữa cơm chiều với gia đình và đề nghị tôi trả lại phòng khách sạn, đến trọ nhà anh chị đêm nay cùng với anh Dư. Tôi có lời cám ơn lòng hiếu khách của anh chị Châu và xin kiếu từ vì giờ này cũng gần sáu giờ chiều rồi.
Trở lại đường Trần Hầu, tôi đi thẳng ra chợ và đến quán cơm có một số thực khách đang ăn. Bửa cơm này rất ngon miệng dù cũng chỉ với các món canh, thịt kho và cá chiên. Có lẽ do tài nấu nướng của đầu bếp và vừa lúc tôi bị đói. Nhìn quanh trong khu chợ, chỉ có vài hàng quán bán cơm và rượu bia; bàn ghế cũng được bày hẳn ra lề đường. Người đi lại, thực khách, đèn đuốc và hàng quán làm cho bến chợ về đêm bớt vắng vẻ. Khi màn đêm xuống, đèn điện cũng không được sáng lắm. Tôi không thấy có người quen nên vừa ăn xong là tôi rời quán, lang thang một chút để biết Hà Tiên về đêm.
Tôi rảo bước mà chưa định hướng được mình đi đâu, cứ đi như là một khách lạ lang thang vậy thôi, bởi tôi chưa biết được đường nào khác ngoài bến đò, sân chợ và đường Trần Hầu. Dưới ánh trăng mờ và gió lạnh, bổng dưng tôi thấy nhớ nhà, nhớ mẹ và anh chị tôi, rồi một niềm bâng khuâng làm thẩn thờ cả bước đi. Nhưng mọi sự rồi cũng trôi qua. Tôi tự nhủ mình phải sống một cuộc đời như thế nào đây? Đã đến lúc mình phải tự lập rồi.
Nhớ lại quá khứ, nhất là giai đoạn học tập ở trường Sư Phạm. Thời gian này tôi có được cơ hội học tập, nghiên cứu âm nhạc, hội họa và cả thi ca từ đó mà phát sinh ra những đam mê và giờ đây trong tôi có đủ mọi thứ hành trang kể cả một tấm thân đạt đ̣ến mức hoàn chỉnh của một thanh niên, trạng thái tâm lý cũng thế nhất là những cảm xúc. Vậy là: “Ta đến một khung trời mới với một con người chừng như mạnh mẽ hơn và dấn thân hơn”!.
Những dòng suy tư này đã chiếm một nửa thời gian của một buổi tối đầu tiên dạo phố. Tôi về đến khách sạn khoảng hai mươi giờ. Sau khi uống một tách trà nóng và trò chuyện xã giao với chú quản lý, tôi trở về phòng nghỉ ngơi.

– Đêm chập chờn với “hình ma bóng quỷ” *

Tôi đóng cửa phòng, nằm hít thở mùi ẩm mốc thoang thoảng. Bởi còn có những ý nghĩ nên giấc ngủ chưa đến. Bây giờ và ở đây tôi đang đối diện với một thực tế cô đơn và âu lo. Hơn một giờ trôi qua, nằm trăn trở trên nệm giường lạnh lẽo mà vẩn chưa ngủ được. Tôi tung chăn, ra khỏi phòng và bước ra hành lang phía trước. Tựa trên thành lan can, tôi nhìn bóng đêm lờ mờ trong ánh trăng lu, nghe gió thổi và tiếng sóng gào. Đặc biệt là tiếng chim én. Chúng bay lượn thành đàn, bay lượn sát cả mái hiên trước mặt tôi, chừng như đưa tay ra là đụng vào chúng. Đêm trở nên bao la hơn cùng với mặt nước mênh mông loang loáng ánh trăng. Đây là một bức tranh về đêm của Hà Tiên, xứ thơ vốn nổi tiếng với Tao Đàn Chiêu Anh Các, với Dì Tự, với Đông Hồ, Tương Phố! Rất đáng tiếc khi tôi đứng ̣đây chỉ có một mình. Nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, trời càng về khuya gió càng lạnh nên tôi trở về phòng. Đã gần một giờ khuya rồi.
Nhìn lối đi dẫn đến phòng tôi cảm thấy ớn lạnh. Tất cả chìm trong bóng tối và không có khách trọ thứ hai nào trên cái tầng lầu xa lạ nầy kể cả trong khách sạn. Nhưng dù sao tôi cũng phải trở về phòng ngủ và đóng cửa lại thì ổn hơn là đứng ở đây. Thế là tôi lấy hết can đảm vượt qua vùng bóng tối, mở cửa phòng, vào và đóng sập lại, cài then, móc khoá cẩn thận.
Nằm trên giường, kéo chăn trùm kín người, tôi lắng nghe cái gì đó trong đêm. Tất cả vẫn vắng lặng im lìm. Đắp chăn nhưng tôi thấy lạnh lẽo khác thường; chăn nệm lạnh tanh, tay chân tôi cũng quá lạnh. Bất chợt một nỗi lo sợ làm tôi phát run trước một ảo ảnh chập chờn lấp ló trong phòng. Tôi tung chăn và xách đèn bão xuống cầu thang tìm anh quản lý. Nhưng hởi ơi! Chú ấy không có ở trong phòng, chú đã khóa cửa và rời khách sạn từ lúc nào rồi. Vậy là bây giờ chỉ có mỗi một mình tôi trong cái khách sạn xa lạ này, khiếp thật. Tôi tức tốc vọt lên cầu thang với cái đèn bão trong tay và nhanh chóng chui vào phòng, đóng cửa cài then lại. Nhìn cái đèn bão, tôi thấy dầu chỉ còn một nửa. Nếu tôi vặn đèn sáng lên thì dầu sẽ hết sớm, đèn tắt, còn để mập mờ thì tôi sợ bóng chập chờn cuối phòng. Cho nên tôi quyết định kiểm tra góc phòng, gầm giường, cả dưới cái bàn nữa; tất cả đều trống không.
Tạm yên đôi chút, tôi trở lại giường và kéo chăn đắp kín người. Cả giờ trôi qua mà tôi không ngủ được. Tôi bị một ám ảnh ghê rợn về hình ảnh của một con quỷ cụt đầu, con ma đói với đôi mắt trừng trừng, rồi con quỷ cái xỏa tóc. Tôi cố xua tan tất cả để tìm giấc ngủ nhưng không thể. Tôi tự hỏi bây giờ phải làm sao đây? Chạy ra hành lan kêu cứu chăng? Không thể làm như thế được bởi tôi là khách lạ xuất hiện trong đêm khuya này. Bị dồn vào thế bí, chỉ còn cách tự tin vào mình thôi để có thể đối diện với một sự thật: có quỷ có ma thật không hay chỉ là hình ma bóng quế có từ tâm mình!
Tôi ngồi phắt dậy trên mép giường, một chân chống sàn, hai tay chống trên mép giường trong tư thế sẵn sàng và tôi dõng dạc khiêu khích: Tao đây, tao đã sẵn sàng. Con ma quái nào? Chúng mầy hiện hình trước mặt tao đi để “ta” xem mặt mũi chúng mầy ra sao? Thế nào? Có nghe thấy lời tao không? Chúng mầy có gan thì hiện hình ra đi. Tao thách chúng mầy đấy, có nghe thấy tao nói không?
Mạnh giọng như thế tôi thấy bừng dậy trong lòng một sức mạnh và sẵn sàng đối diện với mọi tình huống. Nhưng tim tôi lại đập thình thịch và nhanh quá. Ánh sáng của cái đèn bão trên bàn có thể giúp tôi quan sát và chờ đợi mọi động tịnh. Thời gian nặng nề trôi qua, mọi sự vẫn im lìm, “lạnh ngắt như tờ”. Tôi tiếp tục thách thức một cách dõng dạc :”Ta chờ ba phút nữa nếu chúng mầy không xuất hiện thì coi như chúng mầy sợ tao hay chúng mầy là hư ảo, chúng mầy không có thật trong khách sạn này”. Tôi lẩm bẩm như thế và đợi chờ: một phút, rồi hai phút, ba phút trôi qua … không có gì cả. Tôi thấy nhẹ nhõm. Thế là tôi quả quyết thực sự không có con ma con quỷ nào cả, chính niềm tin này làm dịu lại sự căng thẳng quá mức trong tôi. Sau một lúc yên lặng là sự bình tỉnh trở lại. Đây là vấn đề liên hệ đến ấn tượng tâm linh. Giờ đây nghĩ lại nếu rơi vào trường hợp tương tự, tôi không thể không sợ hãi.
Tôi ngả lưng xuống giường và thiếp đi trong mệt mỏi.
Sáng dậy rất trễ và hãy còn mệt mỏi, tôi vội xuống chất vấn ông quản lý:
– Hồi hôm sao ông bỏ tôi một mình trong khách sạn này vậy?
– Xin lỗi thầy. Bởi chiều qua vợ tôi bị bịnh, hay tin lúc đưa thầy lên nhận phòng và tôi phải tức tốc trở về nhà. Khi trở lại thì thấy thầy đã ngủ nên tôi lại về nhà.
Nói về “hình ma bóng quế”: đó là ấn tượng mà tôi đã có từ thời thơ ấu qua những lần đi coi « lên đồng”, “múa bóng” để chữa bịnh tà, ma quỷ xuất hiện lúc đó và đó là quyền lực của cõi âm mà gia chủ phải cầu xin.

Huỳnh Văn Hòa
August 1st, 2020
*Phần này được viết sau một chuyến về thăm lại Hà Tiên và đi ngang khách sạn Lâm Văn Cao. Lúc đó sông Hà Tiên được san lấp hai bên bờ và nhà phố cũng đã có xây dựng. Sự đổi thay làm bồi hồi trong dạ nên “khơi lại đóng tro tàn” ghi dấu kỷ niệm xưa của một đêm không ngủ.

Thầy Huỳnh Văn Hòa: hình trái và giữa: chân dung trong những năm dạy học tại Hà Tiên (1964-1967); hình phải: chân dung hiện nay (Cần Thơ)

Quang cảnh thành phố Hà Tiên trong những năm 50-60 nhìn từ cầu bắc bên xóm Tô Châu, có lẽ đây là cảnh chợ Hà Tiên mà thầy Huỳnh Văn Hòa nhìn thấy lần đầu tiên khi sắp sửa qua phà để tới chợ Hà Tiên. Hình: Hieu_Nguyen

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Bên góc phải là khách sạn Vân Tiên. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) trong những năm 70. Quang cảnh đúng như trong câu chuyện tự kể do thầy Huỳnh Văn Hòa viết. Hình: H.L Serra

Bên trái: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, bên phải: Thầy Huỳnh Văn Hòa (những năm 60). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Bên trái là Thầy Châu (người được nhắc đến trong câu chuyện), bên phải là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, chiếc mini Vespa là của thầy Huỳnh Văn Hòa, phía xa là Thạch Động. (1966). Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn.

Học sinh thời Trung Học Hà Tiên (những năm 60) đi chơi cùng với quý thầy ở bãi biển Mũi Nai Hà Tiên. Thầy Huỳnh Văn Hòa đứng bìa trái mang kính đen, thầy Trương Minh Hiển phía trên, đội nón trắng, áo xám đen, trên cùng thầy Nguyễn Hồng Ẩn, áo đen. Hình: TVM

Tái bút: Khi đăng bài viết nầy, ngày mai sẽ là ngày 17/08/2020, nếu tính như trong bài viết thầy Huỳnh Văn Hòa đặt chân đến vùng Hà Tiên ngày 17/08/1964, như vậy là đúng tròn 56 năm…..Có phải là một sự ngẫu nhiên rất đẹp…

Đây là một trong hai bản nhạc mà thầy Huỳnh Văn Hòa đã mua ở một hiệu sách bên Rạch Giá trước khi đi xe đến Hà Tiên. « Em ơi đừng đến nữa », Khánh Băng.

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Khách Sạn Lâm Văn Cao qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Khách Sạn Lâm Văn Cao xây dựng vào năm nào ta không biết rỏ, nhưng theo một bức ảnh do một người Trưởng Ty Khí Tượng chụp từ phía Bungalow Pháo Đài về hướng chợ Hà Tiên vào năm 1943 thì ta thấy đã có khách sạn Lâm Văn Cao. Khách sạn nằm trên góc đường Phương Thành và đường Bến Trần Hầu, đối diện với khách sạn Vân Tiên. Hai khách sạn Lâm Văn Cao và Vân Tiên chiếm một vị trí rất tốt đẹp, hướng ra mặt biển Hà Tiên.

Toàn diện mặt tiền Hà Tiên (1943), ảnh chụp từ phía Bungalow Pháo Đài về Hà Tiên. Photo: AAVH Jean Cousso AP5268

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Photo: AAVH Jean Cousso AP5268

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) vào những năm 1970. Photo: HL Serra

Sau 1975, khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) đổi tên là khách sạn Phương Thành. Photo: HungCuongPC

Sau 1975, khách sạn Lâm Văn Cao (Hà Tiên) đổi tên là khách sạn Phương Thành. Photo: HungCuongPC

Một góc (bên phải) của khách sạn Phương Thành (Hà Tiên). Hình chụp sau 1975

Một góc (bên phải) của khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: Fred Abery 2012

Một góc (bên trái) của khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: Trần Văn Mãnh 2012

Toàn cảnh khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: Du Duong (2014)

Toàn cảnh khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: VerrassendVietNam (2015)

Toàn cảnh khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: Du Duong (2016)

Toàn cảnh khách sạn Phương Thành (Hà Tiên), đổi thành quán cafe nhạc. Photo: Du Duong (2016)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)