Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Publicités

Giới thiệu Lý Thị Thúy Hà

Thầy cô và các bạn thân mến, tên tuổi thầy cô và các bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên còn rất nhiều, mình sẽ cố gắng lần lượt tìm hiểu, động viên các cây bút cộng tác với Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » để tiếp tục viết bài giới thiệu cho ngày càng đầy đủ hơn nữa. Blog đã có nhận được một bài tự thuật của một bạn vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, mà cũng rất quý là bạn nầy lại cũng có liên hệ mật thiết với quê hương Hà Tiên chúng ta. Bài viết gởi đã lâu, lâu đến hơn cả một năm, nhưng mình xin « nhận tội » ở đây là vì đã để quên trong dòng « tin nhắn » (messenger) nên chưa cho lên trang để ra mắt thầy cô và các bạn, mong rằng tác giả bài viết, không ai xa lạ với chúng ta, đó là bạn Lý Thị Thúy Hà, thông cảm cho « chủ bút » mà xóa lỗi cho nhé,..Hôm nay xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn, bạn Lý Thị Thúy Hà, một người con của đất Hà Tiên, bạn Thúy Hà vốn là người gốc gác ở Hòn Heo, thuộc xã Dương Hòa (nay thuộc vầ Kiên Lương). Hiện trong gia đình vẫn còn ngôi nhà xưa tai đây. Thúy Hà vốn là cháu của Ông Mai Thọ Truyền, một nhà chánh khách đã có thời làm chức Quốc Vụ Khanh phụ trách Văn Hóa, và cũng là một nhà Phật Tử có tên tuổi trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Ba của Thúy Hà cũng có thời làm việc ở Quận Đường Hà Tiên.  Lý Thị Thúy Hà cùng gia đình lập nghiệp ở Sài Gòn và đã có quá trình theo học tại Sài Gòn. Sau 1975, theo gia đình về Hà Tiên nên Thúy Hà trở thành học trò của Trường Trung Học Hà Tiên, lớp học Thúy Hà thường gắn liền với các sinh hoạt của cô giáo chủ nhiệm, là cô Nguyễn Thúy Vân, vì thế ngoài giờ học tập, cô trò thường hay sinh hoạt chung với nhau như tập dợt văn nghệ, hoạt động trong phong trào xóa mù chữ, …v…v…

Riêng đối với mình thì mình chưa có dịp biết bạn Lý Thị Thúy Hà, vì trong lúc Thúy Hà học tập tại Hà Tiên trong những năm sau 1975 thì mình cũng trong hoạt động phấn trắng bảng đen tại những miền An Phú, Hồng Ngự, Mỹ Luông….(Châu Đốc, An Giang…).

Lý Thị Thúy Hà học chung lớp với các bạn:

Tiền Ngọc Ánh, Ong Tấn Bình, Lại Bình Minh, Mai Thu Thủy, Lục Minh Lạc, Quách Kim Hoàng, Trinh Xuân Mai, Lâm Thu Cúc, Giang Bạch Tuyết, La Kim Hồng, Lâm Văn Chiêu, Trịnh Kim Anh, Huỳnh Anh, Giang Văn Dũng, Lâm Văn Nam..v..v…..

Hiện nay trong gia đình thân thuộc của bạn Lý Thị Thúy Hà có tham gia việc quản lý Khách Sạn Pháo Đài (Hà Tiên), công việc kinh doanh tiến hành được hơn một năm rồi: tu hoạch, sửa chữa, bổ túc để toàn cảnh khu du lịch Pháo Đài được tốt đẹp và thu hút khách đến nghỉ ngơi trong thời gian thăm viếng Hà Tiên. Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin cám ơn bạn Lý Thị Thúy Hà đã vui vẻ đóng gớp cho Blog của chúng ta thêm phong phú bài vở và hình ảnh.

Bạn Lý Thị Thúy Hà cũng là một thành viên trong nhóm bạn học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa: Cô Nguyễn Ngọc Mai, ngày 14/06/2018 tại Long Thành (Đồng Nai).

(TVM viết lời giới thiệu, 24/01/2019)

Những kỷ niệm thời học sinh Trường Trung Học Hà Tiên

Quay về kỷ niệm lúc còn học sinh
Tà áo trinh nguyên tô thắm sân trường…

(Tuổi Học Trò; Minh Kỳ & Dạ Cầm)

Hình ảnh cô học trò Trường Trung Học Hà Tiên: Lý Thị Thúy Hà vào năm 1975

Mỗi khi nghe bài hát này tôi lại nhớ đến thời học sinh dưới mái trường Trung Học Hà Tiên sau năm 1975. Tôi vốn sinh ra tại Hà Tiên nhưng gia đình lên Sài Gòn lập nghiệp đến năm 1975 mới trở về quê. Thời còn học bậc Tiểu Học tôi học ở Trường Tiểu Học Chí Hòa Nữ. Khi vào bậc Trung Học, niên khóa lớp Đệ Thất thì học ở Trường Trung Học Gia Long hiện giờ là trường Nguyễn Thị Minh Khai. Ngày xưa ở Sài Gòn, học sinh nam nữ học riêng. Đến tháng 9/1975 tôi chuyển về Trường Trung Học Hà Tiên. Sáng ngày khai giảng hai chị em vào trường mặc đồng phục áo dài trắng quần trắng gây chú ý cho các học sinh trong trường vì các bạn nữ mặc áo dài trắng quần đen và chị em tôi cũng bất ngờ khi học chung với các bạn nam sinh. Những bỡ ngỡ ban đầu rồi cũng qua đi, tôi quen dần mau chóng và hoà đồng cùng các bạn. Tôi được vào lớp 7A do cô Nguyễn Thuý Vân dạy Văn làm chủ nhiệm. Đây là danh sách học sinh lớp 7A cô viết thành vần cho dễ nhớ:

Ánh Bình Minh Vân Sơn Thủy Hà Tiên
Nhàn Lạc Hoàng Mai Hoa Cúc Huệ Tuyết
Hồng Chiêu Tài Anh Tuấn Dư Quang Ảnh
Dũng Sĩ Tương Nam Hải Phúc Hùng Liệt

Chính vì tên bạn Liệt cô để cuối bài thơ như tên tác giả nhờ vậy mà chúng tôi vẫn nhớ tên nhau dù xa cách đã lâu. Cuối năm học trường tổ chức thi văn nghệ, buổi tối chúng tôi tập múa tại nhà cô Thúy Vân. Hồi xưa trước nhà Cô có trồng mận và xoài, các bạn nam phá lắm không biết bạn nào khắc tên 1 bạn nam + 1 bạn nữ lên các trái xoài làm cho ba của cô Thúy Vân rầy la quá, vì thế không bạn nào dám nhận. Đến năm học lớp 8 sau khi thi học kỳ 1 xong nhà trường cho học sinh nghỉ một tháng để đi tham gia phong trào xóa nạn mù chữ cho đồng bào Khmer, họ không biết tiếng Việt nhưng rất giỏi tiếng Pháp. Lớp chúng tôi dạy ở Thuận Án, từ Hà Tiên phải đi đò mới đến được. Không chịu ở nhà dân vì phải chia ra mỗi đứa ở một nhà, thầy trò chúng tôi lại tập trung ở trại chăn nuôi bò bỏ hoang, thầy trò phải ra tay cùng nhau dọn dẹp. Vì nền đất không bằng phẳng phải lấy rơm phủ cho bằng để tối trải đệm ra ngủ. Ôi một thời tuổi trẻ lúc đó chẳng thấy cực mà rất vui. Ban ngày chúng tôi đi tát mương bắt cá để cải thiện bữa ăn. Vui nhất là bắt được cá thác lác Thầy trò đem đi kho vì không biết rành loại cá nầy nên rốt cuộc cá kho có  xương nhiều quá ăn không được. Sau này lớn lên tôi mới biết cá đó đem nạo ra làm chả rất ngon. Buổi chiều chúng tôi phải ăn cơm sớm trước 3 giờ vì ở đây nhà đân ở cách xa nhau lắm, Cô và các bạn nam dạy ở điểm xa nhất nên khi dạy xong Cô phải đến từng nhà đón chúng tôi về. Ở Thuận Án mùa khô không có nước ngọt nên mỗi tuần cử các bạn trai về Hà Tiên mang đến nước ngọt và thức ăn do gia đình gửi cho cả nhóm. Ở đây các ao nước đều bị nhiễm phèn. Các bạn trai đi rất xa tìm những bụi cây mọc xanh tốt là dấu hiệu nơi đó ao nước ít bị nhiễm phèn.

Những kỷ niệm không quên nếu nói đến ao bò thì chỉ có học sinh lớp tôi và cô Thúy Vân biết thôi xin giữ bí mật nhé. Thầy Mạnh Thường dạy Anh Văn và dạy hát, tôi còn nhớ mãi buổi sáng có tiết học Anh Văn, Thầy vào lớp báo tin vui cô Mai vợ thầy Cường vừa sinh được một bé trai. Cả lớp mừng vui ồn ào như cái chợ nhưng chẳng bị Thầy la. Nhớ nhất những lần tập văn nghệ cùng Thầy để trình diễn ở rạp Phát Minh có bán vé gây quỹ cho trường. Thầy Lý Mạnh Thường là người Thầy hát bài Hà Tiên hay nhất, nay Thầy không còn nữa nhưng với tôi Thầy vẫn còn mãi trong ký ức của học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975 Trường Trung Học Hà Tiên có nhiều giáo viên từ Sài Gòn về dạy. Trong đó có cô Phan Thị Tuyết Mai và thầy Trương Tự Cường. Thầy Cường dạy môn toán rất hay và dễ hiểu. Hôm ấy đầu giờ Thầy cho kiểm tra 15 phút. Tôi nhớ đã làm đúng mà Thầy lại cho 0 điểm!! Thế là ấm ức không học được, Thầy bảo tôi làm ẩu kết quả đúng mà sai dấu. Trong giờ Thầy đang dạy nên tôi không dám nói gì, sau tiết học tôi chạy theo Thầy và khiếu nại: « Thưa Thầy! Em làm đúng mà nhờ Thầy xét lại… ». Thầy xem bài làm của tôi lại và cho thêm số 1 trước số 0 và thêm chữ rất giỏi. Thầy nói Thầy rất thích học trò như vậy. Không biết lúc đó Thầy nhầm lẫn hay cố tình thử tôi? Còn cô Mai vợ Thầy Cường, dạy môn Hóa. Lúc đó Trường Trung Học Hà Tiên chưa có lệnh sơ tán nhưng tình hình ở Hà Tiên đã bắt đầu bất an. Sáng hôm đó khi đến Trường tôi thấy học sinh nghỉ học rất nhiều. Thầy Hiệu Trưởng Lê Thanh Chương thông báo là nếu Trường còn một học sinh đến học thì thầy cô vẫn dạy. Lớp 8 A chỉ có mình tôi mà cô Mai vẫn dạy. Một thầy một trò, có lớp học nào đặc biệt như vậy không? Còn nhiều nhiều nữa những kỷ niệm về Thầy Cô, nhưng đây là những kỷ niệm tôi nhớ nhất khi còn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên.

Nếu là ngày tôi cho ngày dài mãi
Nếu là thời gian tôi sẽ ngừng trôi
Để giữ mãi trong tôi kỷ niệm
Tuổi thần tiên ở ngưỡng cửa học đường

Sau cùng tôi còn nhớ một kỷ niệm vui về Thầy Nguyễn Văn Tiêu và Cô Nguyễn Thị Bình, kỷ niệm mà riêng tôi cũng không dám kể ra đây, nhưng với tinh thần vô tư, nhớ Trường lớp, nhớ Thầy Cô, tôi cũng viết ra mong thầy cô và các bạn thông cảm nhé,…Ngày xưa ở gần nhà tập thể của quý Thầy Cô là căn nhà « vệ sinh »! mỗi khi tan học thì mỗi lớp học có trách nhiệm dọn dẹp cho sạch sẽ, mỗi lớp thực hiện công tác một lần…Hôm đó chính lớp 8A của tôi trực việc dọn dẹp nhà « vệ sinh ». Vì biết là Cô Bình và Thầy Tiêu quen với nhau, nên thừa lúc sau giờ dạy Cô thường xuống ngôi nhà tập thể để hàn huyên với Thầy, chúng tôi núp sau bức tường để xem…!! Không may bị phát hiện, cả bọn bỏ chạy tứ phía và lại còn đẩy tôi vào để giải thích với Thầy…Thầy hỏi: « Em đi đâu đây, có việc gì? », Vì sợ quá tôi đáp theo phản ứng tự nhiên: « Dạ em xin Thầy cho mượn hộp quẹt để đốt rác ạ…! ». Thầy cười và đưa hộp quẹt cho tôi…Hú hồn, sau đó khi về tự thấy giận các bạn chơi xấu, bỏ chạy và đẩy mình ra chịu trận…Đúng là một kỷ niệm của bọn học trò mà trong xếp hạng đứng hàng thứ ba…(« Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò… »). Không biết bây giờ Thầy Cô có đến với nhau không, tụi em xin Thầy Cô thứ lỗi nhé,..(Sau nầy lại có nghe tin là Thầy Tiêu và Cô Bình kết hôn với nhau, vậy xin chúc mừng Thầy Cô nhé…)

08/11/2017, Lý Thị Thúy Hà, học sinh ngày xưa của Trường Trung Học Hà Tiên

Hình chân dung và sổ học bạn Lý Thị Thúy Hà (Trung Học Hà Tiên năm 1975)

Một trang điểm thi kỳ 1 và 2 và kết quả cuối năm trong sổ học bạ của Lý Thị Thúy Hà, kết quả cho thấy bạn Thúy Hà là một học sinh rất xuất sắc trong tất cả các môn học, bravo bạn Thúy Hà nhé,…(Trung Học Hà Tiên 1975)

Bạn Lý Thị Thúy Hà hiện nay sinh sống tại Sài Gòn với gia đình.

Lý Thị Thúy Hà tham gia nhóm học trò Hà Tiên đến thăm cô giáo Mai từng dạy học tại Hà Tiên (1961 – 1968). Hàng đứng: Trần Quý Nương, Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Người ngồi là cô Nguyễn Ngọc Mai. (ngày 14/06/2018 tại Long Thành, Đồng Nai)

Hình ảnh: Lý Thị Thúy Hà, Trần Văn Dõng, Trương Thanh Hùng, Trần Quý Nương

 

Thầy Hiệu Trưởng (Trương Thị Uyên My)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu ta lập một bảng liệt kê các thành tích và thể loại của môn « phá thầy cô » do các vị được xếp hạng thứ ba sau Quỷ và Ma thực hiện thì chắc không đủ giấy để kể ra hết…và nếu chỉ tính các thành tích do học trò trường Trung Học Hà Tiên thôi thì cũng đã khá dài  rồi…nào là rải « mắt mèo » trên ghế chổ thầy ngồi cho thầy bị ngứa, nào là « giận thầy » nên không chịu vào học giờ thầy phải để cho nhà trường đem việc lên tới ông Quận Trưởng để giải quyết,…., nào là chờ buổi tối thầy đi xuống « Nhà mát » đọc sách thì học trò rình phía trên đường liệng đá xuống sông cho nước văng lên nhát ma thầy,…, nào là kêu gọi tên thầy đang dạy học trên lớp phía bên kia đường để trêu ghẹo…thật là rất có tinh thần sáng tạo về các thể loại « phá thầy cô »….Các đàn anh đàn chị đã thế, thế hệ đàn em đi sau cũng không chịu thua kém,… Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta hôm nay được hân hạnh đăng thêm một bài do cây bút quen thuộc Trương Thị Uyên My đóng góp. Qua bài viết ta thấy cường độ « phá thầy cô » ngày càng nâng cao…Có một điều mà các đàn em tuy đi sau nhưng lại rất cao tay ở chổ là phá thầy cô như thế nào mà không ai khám phá ra được tác giả,…như vậy không có chuyện bị nhà trường phạt hay khuyến cáo gì cả…Vả lại nếu thầy cô nào qua một vụ « phiền hà » như thế mà không biết em nào hành động vi phạm kỷ luật thì cũng đành phải chịu « nín » luôn, nói ra cả trường, cả lớp biết thì cũng không giải quyết được….Tác giả kể lại khung cảnh trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên (trường tại đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên) của chúng ta qua một bối cảnh thời chiến tranh biên giới, học sinh vừa học vừa phải đào hầm hố tự phòng thủ bảo vệ…Rồi lại có cái môn « Lao Động », một môn rất thịnh hành vào thời kỳ ngay những năm sau 1975…Ngoài giờ học lý thuyết, học sinh được khuyến khích tham gia lao động…Lao động thời đó có nhiều hình thức, đào mương, đào đất, trồng lúa, gặt lúa,…Uyên My cũng như tất cả các bạn học sinh trường phổ thông Trung Học Hà Tiên vào thời đó, đã hăng hái tham gia phong trào và đã trải qua một kinh nghiệm lý thú tuy cũng có những nỗi nhọc nhằn trong sinh hoạt di chuyển, ăn uống hằng ngày trong thời gian đi lao động như vậy…Thế rồi học thì cứ học, làm lao động thì cứ làm nhưng các vị học sinh của chúng ta cũng không bao giờ quên được cái thú « phá thầy phá cô »…!! Câu chuyện phá thầy như thế nào mời thầy cô và các bạn đọc bài viết dưới đây để biết nhé,…(TVM 07/2018)

Thầy Hiệu Trưởng

Năm 1977, tình hình ven biên các tỉnh của Việt Nam giáp đường biên giới với Campuchia bắt đầu căng thẳng, ở Hà Tiên các lớp nhỏ thuộc trường Tiểu học (cấp I – lớp 1 đến lớp 5), Trung học cơ sở (cấp II – lớp 6 đến lớp 9) đã được di tản về Thuận Yên, Hòn Heo… các thầy cô giáo cũng sơ tán theo trường. Trường Phổ thông trung học (cấp III – lớp 10 đến lớp 12) không di tản, học sinh được thông báo sẽ học tập ở các phòng mượn tạm của trường tiểu học cũ. Trường cấp III lúc đó chỉ còn ba lớp 10 – 11 – 12 với sĩ số thấp, lớp 10 của tôi năm đó gồm các bạn từ Kiên Lương lên, dồn cả khối Pháp văn, Anh văn (từ lớp 9P & 9A) vào học chung cũng chưa đến 30 người, giờ sinh ngữ tách ra học riêng. Lớp 12 còn ít hơn, chỉ trên mười người. Vì sĩ số mỗi lớp ít, trường lại chỉ có ba lớp, hầu hết là người địa phương nên học sinh các lớp đều quen biết nhau cả. Đi học vào thời chiến có khác, ngoài giờ học chúng tôi phải đào hào trước cửa lớp học và làm hầm chống đạn bằng bao cát trong sân trường. Không lo lắng nghe ngóng tình hình chiến sự như người lớn, chúng tôi thoải mái vừa làm vừa chơi, móc sình bùn ném tung tóe khắp nơi rồi chọc phá trây trét vào nhau, kêu la chí chóe ỏm tỏi, vui quá xá. Chiếc hầm rồi cũng hoàn thành, chỉ có chất lượng và khả năng chống đạn của nó chưa được kiểm chứng. Quá may mắn là chúng tôi không có dịp sử dụng sản phẩm này!
Năm đó thầy Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Phổ thông Trung học Hà Tiên.
Thầy người miền Bắc Trung bộ, dáng cao nho nhã, thường mặc áo kaki màu vàng có nhiều túi.
Mỗi sáng thứ hai đầu tuần sau buổi chào cờ chúng tôi thường có buổi sinh hoạt chung, thầy hiệu trưởng sẽ có những nhắn nhủ, trao đổi với học sinh về kết quả hoạt động của toàn trường trong tuần trước, thông báo kế hoạch cho tuần sau, nhắc nhở học sinh nỗ lực học tập… Thầy cũng tham gia giảng dạy nhưng chỉ dạy môn chính trị. Vào giờ của thầy, học sinh cả ba lớp tập trung vào lớp 10 để học chung. Không biết các anh chị lớp 11 & 12 thế nào, riêng lớp 10 chúng tôi rất ngao ngán môn học khô khan chẳng có gì hấp dẫn này, chúng tôi thường hỏi nhau: “Học chính trị làm chi ha? Nó có ích lợi gì trong cuộc sống?”. Tuy vậy, theo thời khóa biểu đến môn chính trị chúng tôi vẫn vào học nghiêm chỉnh, dù rất ngán ngẩm.
Như một qui luật bất biến, khi học trò không thích môn học nào sẽ kéo theo hệ lụy là nó chán luôn ông thầy dạy môn đó. Mọi việc không có gì đáng nói cho đến một sáng thứ hai, như thường lệ tất cả học sinh vào phòng học của lớp 10 chào cờ và nghe thầy hiệu trưởng trao đổi nội dung sinh hoạt của cả trường trong tuần. Thầy bắt nhịp bài Quốc ca cho học sinh hát theo, dù không hẹn trước mà hôm đó chúng tôi hát được khoảng ba câu đã tắt tịt, tiếp theo là bầu không khí im lặng, im phăng phắc đến nghe được cả tiếng ruồi bay. Mặt thầy đỏ bừng giận dữ.
Dĩ nhiên là chúng tôi mất cả buổi sáng nghe thầy giáo huấn. Trong không gian nặng nề tiếng thầy vang lên sang sảng về trách nhiệm, về vai trò của thanh niên đối với tiền nhân và hậu thế, về những anh hùng liệt nữ đã nằm xuống vì bảo vệ màu cờ, bảo vệ Tổ quốc, về bài Quốc ca là biểu tượng tinh thần bất khuất của cả dân tôc, về việc không ai có thể chấp nhận học sinh cấp III không thuộc Quốc ca (thầy thừa biết chúng nó không thèm hát, làm gì có chuyện cả trường không thuộc Quốc ca). Bài thuyết giảng nghe đau đầu buốt óc, vậy mà khi thầy vừa xách cặp về văn phòng thì đám học trò quay ra tủm tỉm cười với nhau. Lớp 10 mừng rỡ ồn ào như vỡ chợ, đám Bùi Kiệm oang oang: “Ờ, việc gì cũng có cái giá của nó nha, chịu khó nghe thầy hiệu trưởng mắng mỏ mới thoát được 2 tiết toán chớ, toán cũng hắc ám chẳng kém gì môn chính trị mà.”
Tháng 10, lúa chín vàng đồng.
Với mục đích cho học sinh làm quen với lao động và cuộc sống đồng ruộng ở nông thôn, trường Trung học Hà Tiên tổ chức cho tất cả học sinh về Vĩnh Điều (xã Phú Mỹ) gặt lúa cho nông trường. Thời đó chưa có đường nhựa thông thoáng như bây giờ, từ Hà Tiên về Vĩnh Điều chúng tôi đi bằng ghe nhỏ (vỏ vọt loại lớn), sau đó xuống đi bộ theo bờ kênh vào nông trường. Chưa bao giờ chúng tôi được trường cho đi xa như vậy. Lớp 10 đông nhất nên cùng đi trên một ghe, lớp 11 & 12 đi trên ghe thứ hai. Chúng tôi hát hò, gọi nhau í ới. Thật vui.
(Bây giờ nghĩ lại thấy dễ sợ quá, tất cả thầy cô và học sinh đi trên ba chiếc vỏ vọt mong manh mà chẳng hề có chiếc áo phao nào).

Vị trí các xã Thuận Yên, xã Phú Mỹ, Vĩnh Điều so với thị xă Hà Tiên

Kênh Hà Giang, đoạn chảy qua xã Phú Mỹ thuộc huyện Giang Thành. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên

Trên đường vào nông trường, đang mò mẫm men theo bờ ruộng dọc con kênh chúng tôi bị một cơn mưa rào làm tất cả ướt loi ngoi. Bờ đất nhỏ, trơn trợt, chúng tôi đi hàng một bám lưng nhau để không bị té, vậy mà thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng “uỵch, uỵch” và những tiếng cười dòn dã rộn lên. Trong lúc bất cẩn tôi ngã trượt luôn xuống con kênh, không biết bơi nên ngay lúc đó tôi đã nghĩ “Mình chết chắc”. Tôi cảm nhận được khoảng trống ghê rợn bên dưới, chân tôi không chạm vào bất cứ vật gì để có thể bám vào, nước xộc vào mặt mũi, chung quanh tối sầm… Chợt mọi vật sáng bừng lên, có ai đó lôi tôi ra khỏi dòng kênh. Sau phút sặc sụa vì ngộp nước tôi hoàn hồn nhìn lên mới biết bạn Lâm Thanh Phong đi ngay sau lưng, thấy tôi rớt xuống kênh đã kịp lao theo nắm lấy mớ tóc còn bồng bềnh trong nước kéo lên.
(Bạn Lâm Thanh Phong là cháu gọi cô Lâm Xuân Cúc, Lâm Xuân Lý bằng cô, nhà đối diện với tiệm Đồng Xương)
Ơn trời! Nhờ mái tóc dài ngang lưng nên tôi còn sống đến giờ, nếu tóc ngắn thì … ôi thôi, hẳn tôi đã thành con ma chết trôi từ dạo ấy! Hú hồn.
Đến nông trường, chúng tôi được phân xuống 2 dãy nhà, nam riêng nữ riêng, mỗi lớp cử người sung vào đội nhà bếp tiếp các cô nấu cơm cho toàn trường, những học sinh khác sẽ cùng thầy cô ra đồng gặt lúa. Lớp 10 cử tôi và bạn Thúy vào đội “anh nuôi” lo việc cơm nước nên mang tiếng đi gặt lúa mà tôi chẳng có ngày nào bước chân xuống ruộng.
Từ 5h sáng, lúc các bạn còn say ngủ thì đội “tổng khậu” gồm 2 cô giáo và 4 nữ sinh đã thức dậy nấu cơm, 7h khi tất cả ăn xong lục tục ra đồng thì đội bếp núc tiếp tục chuẩn bị cho buổi trưa, sau đó lại lục đục nấu cơm cho buổi chiều. Trong lúc các bạn được sinh hoạt chung với nhau tưng bừng náo nhiệt thì chúng tôi ăn, ngủ trong khu vực dành cho giáo viên, làm gì cũng phải rón rén, ý tứ. Bực chưa!
Thầy trò ăn uống kham khổ, chỉ có bí ngô và cá khô, thỉnh thoảng được nông trường tiếp tế rau xanh, vậy mà lúc nào chung quanh cũng rộn rã tiếng cười. Một hôm, nông trường “cải thiện” cho chúng tôi món thịt chuột đồng rô ti, cả trường phấn chấn hẳn lên, đám con gái có phần e dè với món ăn này, phía con trai thì khỏi phải nói, hồ hởi phấn khởi chén sạch những gì được dọn ra. Riêng tôi, buổi cơm hôm đó không dám nhìn những miếng thịt chuột vàng rộm trong dĩa, đành ăn cá khô và canh bí đỏ như mọi khi. Tôi cũng chẳng để ý xem có thầy cô nào không hưởng ứng món rô ti, nhưng sau đó có lời xì xầm rằng thầy hiệu trưởng sợ thịt chuột đồng.
Trước khu vực nhà bếp và phòng nghỉ của các giáo viên có một cây me to tỏa bóng mát rượi, khi không bận bịu chuyện đồng áng thì thầy cô và các học sinh thường tụ tập dưới gốc me trò chuyện, chơi đùa. Sau khi cơm nước và nghỉ trưa xong, thầy hiệu trưởng sẽ hút một điếu thuốc, đứng chơi với các thầy cô và học sinh trước khi cùng nhau ra đồng. Như mọi khi, vừa nói cười vui vẻ, thầy vừa thò tay vào túi áo kaki phía trên bên trái để lấy điếu thuốc, chợt thầy im bặt, sắc mặt đang hồng hào bỗng chuyển sang xanh xám rồi tím tái, thầy vội vàng cởi bỏ cái áo kaki đang mặc, vất sang một bên rồi bước vội vào phòng. Quá bất ngờ, tôi nhìn chung quanh thì lạ thay, dưới bóng me râm mát vừa cách đó ít phút rất đông các nam sinh chuyện trò ồn ào rôm rả thì bây giờ vắng lặng không còn ai, mấy anh “tan hàng” cũng nhanh chóng như cách thầy vội vã bỏ đi. Tôi lo lắng nhìn chiếc áo của thầy nằm trên nền đất, hoang mang không biết việc gì đang xảy ra, tôi cũng không dám nhặt chiếc áo lên, đành ngơ ngác tìm đường rút lui khỏi “hiện trường”, mang theo hàng tá câu hỏi trong đầu.
Sau nhiều ngày nghe ngóng qua những thì thào to nhỏ và dõi theo những lời thì thầm với ánh mắt lấm lét ngó quanh, thì ra kẻ làm thầy hoảng hốt hôm đó là những chú chuột đồng mới đẻ đỏ hỏn được các anh hốt trọn ổ ngoài ruộng mang về, tranh thủ lúc thầy ngủ đã cho cả ổ chuột con lúc nhúc vào túi áo (khi nghỉ trưa thầy thường khoát áo kaki vào lưng ghế tựa, chỉ mặc chiếc áo thun trắng đi nằm). Tôi rùng mình, lạnh cả người khi nghĩ: “Việc gì sẽ xảy ra nếu là mình, bất chợt vô tình chộp vào đám chuột con mềm nhủn loi nhoi trong túi áo?”. Trời ạ, té xỉu tại chỗ chứ chẳng chơi!
Dù rất cố công tìm hiểu mà đến nay tôi vẫn không biết anh nào đã cả gan trêu thầy hiệu trưởng trò đùa tai quái đó. Tưởng thầy sẽ truy tìm thủ phạm và trút cơn thịnh nộ lên đầu bọn nghịch ngợm quái ác nhưng những ngày sau thầy vẫn sinh hoạt, nói cười bình thường, không hề nhắc gì đến chuyện kia. Hẳn thầy quá hiểu “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Chẳng biết sự việc có đúng như những xì xào truyền tai nhau giữa đám học trò hay không, chỉ thấy các nam sinh vẫn tụ tập dưới gốc me đùa giởn vô tư với các thầy cô như không có chuyện gì xảy ra…
Trải qua bao năm tháng, những kỷ niệm của thuở cắp sách đến trường ngày ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi như mới vừa hôm qua, nhắc lại để chúng ta cùng nhớ về một thời áo trắng dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa.

Tác giả bài viết: Trương Thị Uyên My

Giới thiệu Dương Văn Hiến

Dương Văn Hiến

Thầy Cô và các bạn cho phép tôi được dài dòng đôi chút để được biết rỏ về tôi, cũng giống như bài viết  « Tự bạch của Trương thanh Hùng » đã được đăng vào Blog nầy. Vào khoảng năm 1962 tôi từ Hòn Heo, Bãi Ớt lên Hà Tiên, ba tôi là ông Dương Công Huỳnh làm y tá ở bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, lúc đó tôi học lớp nhất với thầy Lê Đức Nguyên (chung với Lý Mạnh Thường).  Vì thi trượt vào lớp Đệ Thất nên tôi học lớp Bán Công chung với Trần Tiên, Tiền Công Thành… Tôi đậu vào lớp Đệ Thất « sau lưng » Trương Thanh Hùng ( Trương Thanh Hào đậu hạng 46/50, Trương Thanh Hùng đậu hạng 47/50 và tôi  Dương Văn Hiến đậu hạng 48/50, còn bạn Trương Minh Huệ đậu hạng 49/50). Không may, học lớp Đệ Thất năm đó (niên khóa 1965-1966) vận đen đến với tôi: ngay cái ngày thi Đệ nhị lục cá nguyệt tôi lại kẹt đi lưới chưa về được nên bỏ cuộc thi, tôi khóc và khóc thật nhiều, năm đó ở lại và học chung lớp với Lê Phước Dương, Trần Tuấn Kiệt…(niên khóa 1966-1967). Hết năm đó tôi vừa lên lớp Đệ Lục đươc 2 tháng thì trong nhà có nhiều chuyện xảy ra, tôi buồn tình bỏ học và đi hoang (đi Phú Quốc làm việc, khi thì đi biển khi thì đi tàu chở hàng hóa lênh đênh trên sông biển cho đến năm 18 tuổi thì trở về Hà Tiên đi lính Địa Phương Quân đóng ở Đá Dưng. Trong khi các bạn ngày xưa đứa có Tú Tài, đứa vào trường Sư Phạm, người nhập ngủ vô Thủ Đức,  người thì còn vui với đèn sách, còn tôi nếu có nhớ về trường về bạn về kỹ niệm học trò thì thật là không có gì để được nhớ và nói đến. Tôi không thể có khung thời thơ mộng nào của tuổi học trò để đóng góp trong Blog của thầy cô và các bạn, chỉ mong thầy cô và các bạn nhận ở tôi đôi dòng tâm sự nầy coi như tôi chia sẽ chút vui buồn về tôi đến thầy cô và các bạn. Vậy xin cám ơn anh Trần Văn Mãnh chủ Blog đã bỏ chút thời gian đọc thư của tôi. Xin kính chúc gia dình anh có được mùa xuân hạnh phúc và dồ dào sức khỏe. 

Tạm bút 12/2016: Dương Văn Hiếu  (ngày xưa tôi tên Dương Văn Hiến còn tên hiện dùng là Dương Văn Hiếu)

Dương Văn Hiếu

Dương Văn Hiến, người bạn khá đặc biệt của tôi (Trương Thanh Hùng)

Trong số bạn bè hồi còn học Đệ Thất, Đệ Lục (1965-1966), có lẽ Dương Văn Hiến là một trong những người bạn đã để lại ấn tượng trong tôi đậm nét nhất, bởi Hiến là học trò học lớp luyện thi vào Đệ Thất của ba tôi. Tôi quen Hiến và chơi thân với Hiến từ lúc đó. Kỷ niệm về Hiến hơi nhiều, xin kể lại các bạn nghe một vài mẫu chuyện vui vui về người bạn khá đặc biệt này.

Chuyện ở Núi Lăng

Tôi không nhớ đó là năm học Đệ Thất hay Đệ Lục, có một giờ trống, tôi cùng Dương Văn Hiến, Trần Phước An, Trương Thanh Hào (anh tôi) lên núi Lăng chơi. Mà hình như thời gian đó học trò hay đi núi Lăng phá phách vào những giờ trống (thầy cô có việc không dạy). Mấy anh em đến gần mộ Mạc Thiên Tích ăn cắp dừa. Trần Phước An là người leo dừa giỏi nên leo lên một cây dừa xiêm không cao lắm. Hiến là dân lao động, tháo vác nên phụ trách chụp dừa không cho rớt xuống đất, bởi nếu dừa rớt xuống đất gây tiếng động thì ông Từ Nguơn nghe lên bắt thì hư bột hư đường hết. Khi An leo lên cây thì Hiến đứng dưới gốc dừa mở nút quần ra tè. Lúc đó, vào ngày thứ hai học trò phải mặc quần trắng, mà quần còn gài nút chứ chưa có « phẹc mơ tuya ». Hiến tè vừa xong, còn đang lui cui gài nút thì ở trên, An hỏi “Rồi chưa?”. Hiến đáp “Rồi!”, An thả trái dừa xuống vừa lúc Hiến ngữa mặt lên, trái dừa rớt ngay miệng của Hiến một cái như trời giáng, cái mỏ lập tức sưng vù lên. Tuy đau, nhưng Hiến cũng ráng chụp thêm mấy trái nữa. Anh em đem dừa đến mộ Mạc Thiên Tích đập lột võ uống. Xong xuôi, Hiến mang cái mỏ sưng vù về trường, vô lớp bị bạn gái Lâm Thị Lan hỏi “Bộ bị vợ khẻ đũa vô mỏ sao mà sưng vù vậy?”. Hiến mắc cỡ không trả lời…!!

Bán cà rem

Tôi thương, quý Hiến cũng vì chuyện này. Nhà tôi nghèo, mà nhà Hiến cũng không khá, hai anh em lãnh cà rem ở hảng nước đá Triều Quang đi bán dạo. Lúc đầu tôi còn ngỡ ngàng nên rao “Ai mua cà rem hôn?”. Hiến dạy tôi: “Mầy phải rao Cà rem đây, chớ ai mà rao như mầy”. Vậy là tôi học được một chiêu. Hôm đó, bán cà rem ở khu nội ô hơi ế, Hiến rũ tôi qua Tô Châu bán. Hai anh em qua đò đi vòng núi Tô Châu rao bán. Khi có người kêu mua, Hiến hay nhường tôi bán trước. Hiến còn hỏi: “Nếu người ta trả giá 3 đồng 5 cây mầy bán không?”. Tôi chưa trả lời thì Hiến nói tiếp: “Mầy bán 4 đồng 5 cây rồi mầy ăn 1 cây, bây giờ mầy bán 3 đồng 5 cây thì coi như mầy ăn 1 cây chớ đâu có gì mà lo”. Vậy là tôi học thêm được một chiêu nữa.

Đi xuồng trên Đông Hồ

Hiến nghỉ học khá sớm, một thời gian rất dài tôi không gặp Hiến. Đến năm 1974 mới gặp lại khi Hiến làm lính đóng trên Đá Dựng. Đến năm 1976, lúc tôi đi dạy học ở Hà Tiên, có lần tôi đến nhà Hiến (ở mé sông gần Cầu Đá), hình như hai anh em có làm vài xị, sau đó Hiến rũ tôi xuống xuồng chèo vào Đông Hồ thả lưới. Hiến chèo chỉ có 1 chèo mà xuồng đi rất nhanh, Hiến giảng cho tôi biết về kỹ thuật chèo xuồng của người dân biển. Khi vào trong Đông Hồ Hiến nói: “Tao chỉ muốn có một chiếc ghe nhỏ, có mui để khi nào trời mưa vô ngồi trong mui nhậu là được rồi”. Vậy mà cho đến bây giờ Hiến không thực hiện được ước muốn đó cho dù điều kiện hiện nay của Hiến không còn nghèo khổ như trước nữa.

Cuộc gặp ở Vàm Rầy và nửa con khô cá bè.

Năm 1977, tôi đi dạy học ở Vàm Rầy (xã Bình Sơn), tình cờ gặp Hiến tại đây, tôi rũ Hiến về chỗ các thầy cô giáo ở để ăn với nhau một buỗi cơm. Hồi đó thầy giáo rất nghèo, khi tôi nói với mấy cô giáo nhà có khách, các cô khá băn khoăn vì bạn của thầy Hùng tới mà không có gì ăn. Khi Hiến ra phía sau đi vệ sinh thì nghe các cô nói với nhau: “Bạn thầy Hùng tới mà thức ăn không còn gì, mình phải đi mua vài cái trứng vịt chiên để đãi khách”. Hiến nghe nói cảm động quá. Khi các cô ra nhà trước để đi mua thức ăn thì Hiến ngăn lại nói: “Mấy cô đi mua thêm thức ăn phải không, thôi, mấy cô đi chi cho mất công, tui còn con khô cá bè, để tui cắt phân nửa chiên ăn là xong chớ gì”. Nói xong, Hiến vội lấy con khô cá bè gói trong tờ giấy nhật trình xuống bếp cắt phân nửa (phần đầu), còn khúc đuôi có dây cột thì gói lại treo lên vách. Hôm ấy mấy thầy cô có bữa ăn cơm với khô cá bè chiên thật ngon. Đến sau này tôi mới biết còn nửa con khô, Hiến xách đi qua Ba Chúc thăm bạn. Thật là cái tình của bạn nghèo cảm động biết bao nhiêu.

Chuyện của Hiến với tôi còn dài, nhưng chỉ kể vài chuyện để Thầy Cô và các bạn nghe cho vui.

Hiện nay Hiến có tên là Dương Văn Hiếu, đang sinh sống ở tiểu bang Floride Mỹ.

Trương Thanh Hùng Ngày 28 tháng 10 năm 2017

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi giữa: Lê Thị Việt Nga, Trần Quý Nương, Trần Quý Nữ)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bìa trái: Lê Thị Việt Nga và Trần Quý Nương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi bài trái: Lê Phước Dương)

Bạn Dương Văn Hiếu về Hà Tiên thăm các bạn cùng trường Trung Học Hà Tiên (ngồi ở giữa: Sĩ, Trang Việt Thánh, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương)

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

Nhân một chuyến ngao du nước Mỹ, Trương Thanh Hào ghé thăm bạn Dương Văn Hiến tại tiểu bang Floride

 

Kể về người bạn ở trời Tây (Lâm Thị Lan)

Nữ kê tác quái,gà mái đá gà cồ.
Đây là 2 nhân vật chính nè các bạn ơi!
Nữ kê đây. Gà cồ đây

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình trái: « Nữ kê »: Lâm Thị Lan, hình phải: Gà cồ: Dương Văn Hiếu

Sau gần 40 năm gặp lại bạn Dương Văn Hiếu trên Face book. Hiếu hỏi Lâm Lan có còn nhớ lúc còn là học sinh năm học ở lớp Đệ Thất trường Hà Tiên không?

          – Nhớ cái gì bạn Hiếu?

          – Nhớ cái tuổi 13 lắm chiêu, nhiều trò này. Lớn không lớn, mà nhỏ không nhỏ hay trêu hay ghẹo với nhau.

Nữ sinh với chiếc áo dài thướt tha thường hay bị cái anh chàng « lí lắc » này rình cột cái đuôi áo dài. Khi mình phát hiện ra thì anh chàng này mặt phớt tỉnh như không có sự việc gì xẩy ra.

Ấm ức trong bụng không biết làm sao trả đũa cái anh chàng « lí lắc » này. Có một lần Lâm Lan chờ giờ vào lớp khi chàng Hiếu đi qua (vì Hiếu xếp hàng sau Lâm Lan nên phải đi vào sau), Lâm Lan đưa cái chân cho anh chàng này té chảy máu mũi chơi.

Hihihi!

Nghĩ thế thì làm. Khi anh chàng « lí lắc » vừa trờ tới Lan liền đưa chân ra. Úi giời ơi! Sợ quá rút chân về nhanh các bạn ạ (sợ gặp thầy Giám Thị là con chết lớn). Thôi rồi tha cho bạn lần này thôi. Không thì cho bạn nhảy cò cò một phen cho chừa cái tật hay ghẹo bạn gái.

Hihihi! Hihihi!

Cái tuổi 13 lắm chiêu trò.
Nhớ mãi trò vui nghịch ở trường.
Làm cho bạn té chảy mũi chơi.
Hay đùa hay nghịch với bạn gái.
Bây giờ gặp lại bạn ngày xưa.
Hiếu ơi! Lúc đó có gì không?
Không Lan ơi! Làm sao tui té được.
Đến bây giờ kẻ bắc, người nam.
Kể nhau nghe cái tuổi học trò.

Nhờ có Blog THHTX mình nhớ lại cái tuổi con nít có biết bao là kỷ niệm. Đúng là học sinh đứng hàng thứ 3 nhỉ.!!!

Lâm Thị Lan tự thuật (10/2016)

Tái bút: Bài « Tạm bút » của bạn Dương Văn Hiếu và bài « Tự thuật » vui nhộn của Lâm Lan đã được viết lâu rồi (năm 2016), nhưng vì chờ nhiều thông tin bài vở về bạn Dương Văn Hiếu nên hôm nay sẳn có bài của Trương Thanh Hùng kể chuyện về Hiếu ngày xưa nên mình cho vào chung một bộ…

Hình ảnh: Dương Văn Hiếu, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào