Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 3)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

(tiếp theo phần 2)

11/ Đường Tham Tướng Sanh ngay tiệm trồng răng Phục Hưng ngày xưa (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường Tham Tướng Sanh là một trong hai con đường ở hai bên ngôi chợ cũ của Hà Tiên (con đường kia tên Tuần Phủ Đạt). Tính từ bên trái qua bên phải của hình, đầu tiên có căn nhà thấy phân nửa đó là tiệm Hiệp Lợi (nhà của gia đình Trịnh Tố Chinh), kế đến căn nhà có dàn cây xanh phía trên đó là tiệm trồng răng Phục Hưng, nhà của bạn Sện (Tường, và có em trai là Bẻ), ngày xưa mình thường đến chơi nhà bạn Sện), căn kế về phía phải màu xanh dương là tiệm Mỹ Nam, kế đến căn màu tím nhạt là nhà của Bà Năm Quới bán trầu cau ngày xưa, kế đó căn nhà nhỏ màu vàng là nhà chị Đỗ Mùi, bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…v…v…, còn căn nhà lầu ở bìa phải thì mới cất lên sau nầy, ngày xưa nơi đó là con hẻm nhỏ đi thẳng vào là tiệm tạp hóa của Dì Hai Sánh, má của cô Điệp phu nhân của anh Minh Thế., nếu tính về phía phải nữa (không còn thấy trong hình) thì là tiệm cơm Xuân Thạnh rất nổi tiếng và nhiều khách ăn ưu chuộng ngày xưa.

12/ Thành phố Hà Tiên nhìn từ phía cầu phà bắc

(Hình: Hồ Anh Dũng, năm ?)

Đây là một hình ảnh rất quý giá và hiếm…Hình nầy có một giá trị lịch sử rất cao vì bây giờ ta không thể chụp lại cảnh thành phố Hà Tiên từ bến bắc nhìn lên như vầy được nữa. Tấm vách xi măng « Những địa chỉ cần ích » bên trái hình đó, mình nhớ rất rỏ vì ngày xưa lúc người ta đang vẻ viết bảng nầy chính mình có đứng xem, họa sĩ viết bảng nầy hình như là ông Phụng Đài ba của bạn Mạnh học chung với mình ở Tiểu Học. Trong bảng « Những địa chỉ cần ích » nầy có các mục giúp cho du khách tìm các địa chỉ dễ dàng như: Khách Sạn (Đại Tân…), Tiệm Ăn (Xuân Thạnh…), Vật kỹ niệm (Lâm Văn Cao, Phan Văn Thân, Lê Minh…). Còn chiếc cầu bắc đó mình đi lên xuống biết bao nhiêu lần rồi, mỗi lần đi Rạch Giá về đều qua cầu bắc nầy…Có khi thường xuống cầu bắc nầy ngồi chơi. Dảy phố phía xa trong hình đối diện với con đường Trần Hầu. Đầu tiên từ bên phải qua bên trái, đó là tiệm đồi mồi Lê Minh, kế đến là tiệm hớt tóc Trần Kỷ, ngày xưa mình là khách hớt tóc quen thuộc của ông Trần Kỷ, đúng ra là nhà của má Tỷ Tuột (Lào Xiếm) cho Trần Kỷ mướn phía ngoài để hớt tóc thôi. Kế đến là tiệm buôn hải sản hiệu Tân Dũ Hưng, kế nữa là một tiệm tạp hóa Cù Thú rồi đến căn nhà tiệm hình kỷ niệm và có bàn billard của ông Quách Ngọc Bá. Bên bìa trái là tiệm cơm rất nổi tiếng ngày xưa là tiệm Xuân Thạnh, ta còn thấy rỏ nóc có vách màu trắng của ngôi chợ cũ Hà Tiên, cuối cùng thật xa bên trái là một phần căn phố của con đường Tuần Phủ Đạt.

13/ Nhà vệ sinh công cộng hình bát giác trước năm 1958 (Hà Tiên)

(Hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958)

Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

14/ Trẻ em ở Đài Kỷ Niệm 1965 (Hà Tiên)

(Hình: Photo: Cliff Rocheleau, năm 1965)

Đây là một bức hình do một người lính Mỹ chụp vào năm 1965 (Cliff Rocheleau) tại bến tàu Quan Thuế dưới Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên. Theo sự nhận xét của một số bạn Hà Tiên quen biết thì những em bé nầy có thể là con của những gia đình làm nghề đánh cá ở phía Cầu Câu, Pháo Đài. Có điều có thể xem như chắc chắn là hình em bên bìa phải là con trai của Ông Thái Dủ, tên là Hồ (Huỳnh Minh Hà), lúc xưa gia đình của Ông có cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm nầy (cây xăng ở bên trái hình, không thấy trong hình). Phía xa là Đài Kỷ Niêm màu trắng ở về bên trái, xa nữa là mặt hông của chợ cá cũ Hà Tiên. Ở giữa hình cặp mé sông còn có một dãy băng đá mà ngày xưa các bạn trẻ thường hay ra ngồi chơi ngắm sông nước…Có vài ý kiến cho là em bé mặc áo bông rằn màu xanh giống em  » Tuấn cùi » con cô Thìn, Ông Đây. Em bé đưa tay chào theo kiểu nhà binh thì giống em Châu con của Bà Tám Lệ, cháu ông Bảy Kế…Từ phải sang trái em thứ tư (đứng phía sau) thì giống em Phò con Ông chủ lò bánh mì Đồng Xương…

15/ Đường Tuần Phủ Đạt, ngay khúc có các căn nhà lầu bạn Hồ Anh Dũng, Lương Cường và Hồ Thị Kim Hoàn (Hà Tiên)

(Hình: David.B.Crawford, năm 1966)

Đây chính là con đường Tuần Phủ Đạt, phía bên phải gần nhất là nhà Ông Âu Tư (ba của bạn Hồ Anh Dũng), Sanh Hoạt (Lương Cường), và lần lượt là nhà Hồ Thị Kim Hoàn và tiệm Đồi Mồi Phan Văn Thân. Phần đất trống có cỏ xanh sau nầy là rạp hát chiếu bóng Phát Minh.  Phía xa xa đó là đường Lam Sơn với nhà Bác Ba Góp và nhìn thẳng ra bờ sông. Có một thời gian phần đất trống (sau năm 1975) dùng làm địa điểm nhóm chợ tạm bán hàng hóa biên giới, sau đó có xây một kho bạc và hiện nay đã không còn kho bạc đó. Một thời gian sau nầy, khu nầy có người dùng nhà làm nơi nuôi yến. Bên phía trái hình là một dãy phố mười hai căn, đó là các căn nhà Ông Tàu Tắc, Ông Nam Xến,…, và căn biệt thự của gia đình thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…).

Xin bổ túc thêm chi tiết về bức hình nầy: tác giả tên là David. B. Crawford (Dave Crawford) là một người lính Hãi Quân Mỹ ngày xưa, phục vụ trên chiếc tàu USCGC Point Garnet (WPB-82310), tàu nầy có mặt ở VN từ 1965-1969, sau 1969 tàu nầy được trao lại lại cho Hãi Quân VN và đổi tên là Lê Văn Ngà HQ 701.

(Còn tiếp phần 4)

Thầy Hiệu Trưởng (Trương Thị Uyên My)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu ta lập một bảng liệt kê các thành tích và thể loại của môn « phá thầy cô » do các vị được xếp hạng thứ ba sau Quỷ và Ma thực hiện thì chắc không đủ giấy để kể ra hết…và nếu chỉ tính các thành tích do học trò trường Trung Học Hà Tiên thôi thì cũng đã khá dài  rồi…nào là rải « mắt mèo » trên ghế chổ thầy ngồi cho thầy bị ngứa, nào là « giận thầy » nên không chịu vào học giờ thầy phải để cho nhà trường đem việc lên tới ông Quận Trưởng để giải quyết,…., nào là chờ buổi tối thầy đi xuống « Nhà mát » đọc sách thì học trò rình phía trên đường liệng đá xuống sông cho nước văng lên nhát ma thầy,…, nào là kêu gọi tên thầy đang dạy học trên lớp phía bên kia đường để trêu ghẹo…thật là rất có tinh thần sáng tạo về các thể loại « phá thầy cô »….Các đàn anh đàn chị đã thế, thế hệ đàn em đi sau cũng không chịu thua kém,… Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta hôm nay được hân hạnh đăng thêm một bài do cây bút quen thuộc Trương Thị Uyên My đóng góp. Qua bài viết ta thấy cường độ « phá thầy cô » ngày càng nâng cao…Có một điều mà các đàn em tuy đi sau nhưng lại rất cao tay ở chổ là phá thầy cô như thế nào mà không ai khám phá ra được tác giả,…như vậy không có chuyện bị nhà trường phạt hay khuyến cáo gì cả…Vả lại nếu thầy cô nào qua một vụ « phiền hà » như thế mà không biết em nào hành động vi phạm kỷ luật thì cũng đành phải chịu « nín » luôn, nói ra cả trường, cả lớp biết thì cũng không giải quyết được….Tác giả kể lại khung cảnh trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên (trường tại đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên) của chúng ta qua một bối cảnh thời chiến tranh biên giới, học sinh vừa học vừa phải đào hầm hố tự phòng thủ bảo vệ…Rồi lại có cái môn « Lao Động », một môn rất thịnh hành vào thời kỳ ngay những năm sau 1975…Ngoài giờ học lý thuyết, học sinh được khuyến khích tham gia lao động…Lao động thời đó có nhiều hình thức, đào mương, đào đất, trồng lúa, gặt lúa,…Uyên My cũng như tất cả các bạn học sinh trường phổ thông Trung Học Hà Tiên vào thời đó, đã hăng hái tham gia phong trào và đã trải qua một kinh nghiệm lý thú tuy cũng có những nỗi nhọc nhằn trong sinh hoạt di chuyển, ăn uống hằng ngày trong thời gian đi lao động như vậy…Thế rồi học thì cứ học, làm lao động thì cứ làm nhưng các vị học sinh của chúng ta cũng không bao giờ quên được cái thú « phá thầy phá cô »…!! Câu chuyện phá thầy như thế nào mời thầy cô và các bạn đọc bài viết dưới đây để biết nhé,…(TVM 07/2018)

Thầy Hiệu Trưởng

Năm 1977, tình hình ven biên các tỉnh của Việt Nam giáp đường biên giới với Campuchia bắt đầu căng thẳng, ở Hà Tiên các lớp nhỏ thuộc trường Tiểu học (cấp I – lớp 1 đến lớp 5), Trung học cơ sở (cấp II – lớp 6 đến lớp 9) đã được di tản về Thuận Yên, Hòn Heo… các thầy cô giáo cũng sơ tán theo trường. Trường Phổ thông trung học (cấp III – lớp 10 đến lớp 12) không di tản, học sinh được thông báo sẽ học tập ở các phòng mượn tạm của trường tiểu học cũ. Trường cấp III lúc đó chỉ còn ba lớp 10 – 11 – 12 với sĩ số thấp, lớp 10 của tôi năm đó gồm các bạn từ Kiên Lương lên, dồn cả khối Pháp văn, Anh văn (từ lớp 9P & 9A) vào học chung cũng chưa đến 30 người, giờ sinh ngữ tách ra học riêng. Lớp 12 còn ít hơn, chỉ trên mười người. Vì sĩ số mỗi lớp ít, trường lại chỉ có ba lớp, hầu hết là người địa phương nên học sinh các lớp đều quen biết nhau cả. Đi học vào thời chiến có khác, ngoài giờ học chúng tôi phải đào hào trước cửa lớp học và làm hầm chống đạn bằng bao cát trong sân trường. Không lo lắng nghe ngóng tình hình chiến sự như người lớn, chúng tôi thoải mái vừa làm vừa chơi, móc sình bùn ném tung tóe khắp nơi rồi chọc phá trây trét vào nhau, kêu la chí chóe ỏm tỏi, vui quá xá. Chiếc hầm rồi cũng hoàn thành, chỉ có chất lượng và khả năng chống đạn của nó chưa được kiểm chứng. Quá may mắn là chúng tôi không có dịp sử dụng sản phẩm này!
Năm đó thầy Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Phổ thông Trung học Hà Tiên.
Thầy người miền Bắc Trung bộ, dáng cao nho nhã, thường mặc áo kaki màu vàng có nhiều túi.
Mỗi sáng thứ hai đầu tuần sau buổi chào cờ chúng tôi thường có buổi sinh hoạt chung, thầy hiệu trưởng sẽ có những nhắn nhủ, trao đổi với học sinh về kết quả hoạt động của toàn trường trong tuần trước, thông báo kế hoạch cho tuần sau, nhắc nhở học sinh nỗ lực học tập… Thầy cũng tham gia giảng dạy nhưng chỉ dạy môn chính trị. Vào giờ của thầy, học sinh cả ba lớp tập trung vào lớp 10 để học chung. Không biết các anh chị lớp 11 & 12 thế nào, riêng lớp 10 chúng tôi rất ngao ngán môn học khô khan chẳng có gì hấp dẫn này, chúng tôi thường hỏi nhau: “Học chính trị làm chi ha? Nó có ích lợi gì trong cuộc sống?”. Tuy vậy, theo thời khóa biểu đến môn chính trị chúng tôi vẫn vào học nghiêm chỉnh, dù rất ngán ngẩm.
Như một qui luật bất biến, khi học trò không thích môn học nào sẽ kéo theo hệ lụy là nó chán luôn ông thầy dạy môn đó. Mọi việc không có gì đáng nói cho đến một sáng thứ hai, như thường lệ tất cả học sinh vào phòng học của lớp 10 chào cờ và nghe thầy hiệu trưởng trao đổi nội dung sinh hoạt của cả trường trong tuần. Thầy bắt nhịp bài Quốc ca cho học sinh hát theo, dù không hẹn trước mà hôm đó chúng tôi hát được khoảng ba câu đã tắt tịt, tiếp theo là bầu không khí im lặng, im phăng phắc đến nghe được cả tiếng ruồi bay. Mặt thầy đỏ bừng giận dữ.
Dĩ nhiên là chúng tôi mất cả buổi sáng nghe thầy giáo huấn. Trong không gian nặng nề tiếng thầy vang lên sang sảng về trách nhiệm, về vai trò của thanh niên đối với tiền nhân và hậu thế, về những anh hùng liệt nữ đã nằm xuống vì bảo vệ màu cờ, bảo vệ Tổ quốc, về bài Quốc ca là biểu tượng tinh thần bất khuất của cả dân tôc, về việc không ai có thể chấp nhận học sinh cấp III không thuộc Quốc ca (thầy thừa biết chúng nó không thèm hát, làm gì có chuyện cả trường không thuộc Quốc ca). Bài thuyết giảng nghe đau đầu buốt óc, vậy mà khi thầy vừa xách cặp về văn phòng thì đám học trò quay ra tủm tỉm cười với nhau. Lớp 10 mừng rỡ ồn ào như vỡ chợ, đám Bùi Kiệm oang oang: “Ờ, việc gì cũng có cái giá của nó nha, chịu khó nghe thầy hiệu trưởng mắng mỏ mới thoát được 2 tiết toán chớ, toán cũng hắc ám chẳng kém gì môn chính trị mà.”
Tháng 10, lúa chín vàng đồng.
Với mục đích cho học sinh làm quen với lao động và cuộc sống đồng ruộng ở nông thôn, trường Trung học Hà Tiên tổ chức cho tất cả học sinh về Vĩnh Điều (xã Phú Mỹ) gặt lúa cho nông trường. Thời đó chưa có đường nhựa thông thoáng như bây giờ, từ Hà Tiên về Vĩnh Điều chúng tôi đi bằng ghe nhỏ (vỏ vọt loại lớn), sau đó xuống đi bộ theo bờ kênh vào nông trường. Chưa bao giờ chúng tôi được trường cho đi xa như vậy. Lớp 10 đông nhất nên cùng đi trên một ghe, lớp 11 & 12 đi trên ghe thứ hai. Chúng tôi hát hò, gọi nhau í ới. Thật vui.
(Bây giờ nghĩ lại thấy dễ sợ quá, tất cả thầy cô và học sinh đi trên ba chiếc vỏ vọt mong manh mà chẳng hề có chiếc áo phao nào).

Vị trí các xã Thuận Yên, xã Phú Mỹ, Vĩnh Điều so với thị xă Hà Tiên

Kênh Hà Giang, đoạn chảy qua xã Phú Mỹ thuộc huyện Giang Thành. Photo: Bùi Thị Đào Nguyên

Trên đường vào nông trường, đang mò mẫm men theo bờ ruộng dọc con kênh chúng tôi bị một cơn mưa rào làm tất cả ướt loi ngoi. Bờ đất nhỏ, trơn trợt, chúng tôi đi hàng một bám lưng nhau để không bị té, vậy mà thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng “uỵch, uỵch” và những tiếng cười dòn dã rộn lên. Trong lúc bất cẩn tôi ngã trượt luôn xuống con kênh, không biết bơi nên ngay lúc đó tôi đã nghĩ “Mình chết chắc”. Tôi cảm nhận được khoảng trống ghê rợn bên dưới, chân tôi không chạm vào bất cứ vật gì để có thể bám vào, nước xộc vào mặt mũi, chung quanh tối sầm… Chợt mọi vật sáng bừng lên, có ai đó lôi tôi ra khỏi dòng kênh. Sau phút sặc sụa vì ngộp nước tôi hoàn hồn nhìn lên mới biết bạn Lâm Thanh Phong đi ngay sau lưng, thấy tôi rớt xuống kênh đã kịp lao theo nắm lấy mớ tóc còn bồng bềnh trong nước kéo lên.
(Bạn Lâm Thanh Phong là cháu gọi cô Lâm Xuân Cúc, Lâm Xuân Lý bằng cô, nhà đối diện với tiệm Đồng Xương)
Ơn trời! Nhờ mái tóc dài ngang lưng nên tôi còn sống đến giờ, nếu tóc ngắn thì … ôi thôi, hẳn tôi đã thành con ma chết trôi từ dạo ấy! Hú hồn.
Đến nông trường, chúng tôi được phân xuống 2 dãy nhà, nam riêng nữ riêng, mỗi lớp cử người sung vào đội nhà bếp tiếp các cô nấu cơm cho toàn trường, những học sinh khác sẽ cùng thầy cô ra đồng gặt lúa. Lớp 10 cử tôi và bạn Thúy vào đội “anh nuôi” lo việc cơm nước nên mang tiếng đi gặt lúa mà tôi chẳng có ngày nào bước chân xuống ruộng.
Từ 5h sáng, lúc các bạn còn say ngủ thì đội “tổng khậu” gồm 2 cô giáo và 4 nữ sinh đã thức dậy nấu cơm, 7h khi tất cả ăn xong lục tục ra đồng thì đội bếp núc tiếp tục chuẩn bị cho buổi trưa, sau đó lại lục đục nấu cơm cho buổi chiều. Trong lúc các bạn được sinh hoạt chung với nhau tưng bừng náo nhiệt thì chúng tôi ăn, ngủ trong khu vực dành cho giáo viên, làm gì cũng phải rón rén, ý tứ. Bực chưa!
Thầy trò ăn uống kham khổ, chỉ có bí ngô và cá khô, thỉnh thoảng được nông trường tiếp tế rau xanh, vậy mà lúc nào chung quanh cũng rộn rã tiếng cười. Một hôm, nông trường “cải thiện” cho chúng tôi món thịt chuột đồng rô ti, cả trường phấn chấn hẳn lên, đám con gái có phần e dè với món ăn này, phía con trai thì khỏi phải nói, hồ hởi phấn khởi chén sạch những gì được dọn ra. Riêng tôi, buổi cơm hôm đó không dám nhìn những miếng thịt chuột vàng rộm trong dĩa, đành ăn cá khô và canh bí đỏ như mọi khi. Tôi cũng chẳng để ý xem có thầy cô nào không hưởng ứng món rô ti, nhưng sau đó có lời xì xầm rằng thầy hiệu trưởng sợ thịt chuột đồng.
Trước khu vực nhà bếp và phòng nghỉ của các giáo viên có một cây me to tỏa bóng mát rượi, khi không bận bịu chuyện đồng áng thì thầy cô và các học sinh thường tụ tập dưới gốc me trò chuyện, chơi đùa. Sau khi cơm nước và nghỉ trưa xong, thầy hiệu trưởng sẽ hút một điếu thuốc, đứng chơi với các thầy cô và học sinh trước khi cùng nhau ra đồng. Như mọi khi, vừa nói cười vui vẻ, thầy vừa thò tay vào túi áo kaki phía trên bên trái để lấy điếu thuốc, chợt thầy im bặt, sắc mặt đang hồng hào bỗng chuyển sang xanh xám rồi tím tái, thầy vội vàng cởi bỏ cái áo kaki đang mặc, vất sang một bên rồi bước vội vào phòng. Quá bất ngờ, tôi nhìn chung quanh thì lạ thay, dưới bóng me râm mát vừa cách đó ít phút rất đông các nam sinh chuyện trò ồn ào rôm rả thì bây giờ vắng lặng không còn ai, mấy anh “tan hàng” cũng nhanh chóng như cách thầy vội vã bỏ đi. Tôi lo lắng nhìn chiếc áo của thầy nằm trên nền đất, hoang mang không biết việc gì đang xảy ra, tôi cũng không dám nhặt chiếc áo lên, đành ngơ ngác tìm đường rút lui khỏi “hiện trường”, mang theo hàng tá câu hỏi trong đầu.
Sau nhiều ngày nghe ngóng qua những thì thào to nhỏ và dõi theo những lời thì thầm với ánh mắt lấm lét ngó quanh, thì ra kẻ làm thầy hoảng hốt hôm đó là những chú chuột đồng mới đẻ đỏ hỏn được các anh hốt trọn ổ ngoài ruộng mang về, tranh thủ lúc thầy ngủ đã cho cả ổ chuột con lúc nhúc vào túi áo (khi nghỉ trưa thầy thường khoát áo kaki vào lưng ghế tựa, chỉ mặc chiếc áo thun trắng đi nằm). Tôi rùng mình, lạnh cả người khi nghĩ: “Việc gì sẽ xảy ra nếu là mình, bất chợt vô tình chộp vào đám chuột con mềm nhủn loi nhoi trong túi áo?”. Trời ạ, té xỉu tại chỗ chứ chẳng chơi!
Dù rất cố công tìm hiểu mà đến nay tôi vẫn không biết anh nào đã cả gan trêu thầy hiệu trưởng trò đùa tai quái đó. Tưởng thầy sẽ truy tìm thủ phạm và trút cơn thịnh nộ lên đầu bọn nghịch ngợm quái ác nhưng những ngày sau thầy vẫn sinh hoạt, nói cười bình thường, không hề nhắc gì đến chuyện kia. Hẳn thầy quá hiểu “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Chẳng biết sự việc có đúng như những xì xào truyền tai nhau giữa đám học trò hay không, chỉ thấy các nam sinh vẫn tụ tập dưới gốc me đùa giởn vô tư với các thầy cô như không có chuyện gì xảy ra…
Trải qua bao năm tháng, những kỷ niệm của thuở cắp sách đến trường ngày ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi như mới vừa hôm qua, nhắc lại để chúng ta cùng nhớ về một thời áo trắng dưới mái trường Trung học Hà Tiên xưa.

Tác giả bài viết: Trương Thị Uyên My