Chùa Quảng Tế Phật Đường (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu trong Blog về mục « Hà Tiên phố xưa » đã có bài về ngôi chùa xưa « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » mà không viết về ngôi chùa « Quảng Tế Phật Đường » là một thiếu sót lớn. Thật vậy ngoài vị trí rất quan trọng và chủ yếu của ngôi chùa Tam Bảo đối với Hà Tiên chúng ta, ngôi chùa Phật Đường cũng không kém phần quan trọng. Nếu tính theo nguồn gốc và thời gian xây cất thì ta có thể xếp ngôi chùa Phật Đường vào thứ bậc một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của Hà Tiên chúng ta. Theo thứ tự thời gian, ta có thể xem thang bậc xuất hiện những ngôi chùa hay ngôi đình miếu ở Hà Tiên như sau:

Chùa Tam Bảo: khoảng thời gian 1708-1718
Đình Thần Thành Hoàng Mỹ Đức: 1820
Chùa Phù Dung (núi Bình San): 1845
Đền Thờ Mạc Cửu (núi Bình San): 1846
Chùa Quảng Tế Phật Đường: 1863
Chùa Bà Mã Châu: 1869
Chùa Phật Đà (chùa Lò gạch): 1945

Ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường chiếm một vai trò tinh thần và tôn giáo rất to lớn đối với những gia đình theo đạo Phật ở Hà Tiên, nhất là đối với những gia đình người gốc Hoa. Thật vậy, đối với gia đình của mình ở Hà Tiên, chính ngôi chùa Phật Đường là nơi gặp gở của ông và bà ngoại của mình ngày xưa. Bà ngoại của mình vốn là một trong những chị em dòng dỏi người tu ở Nhà Bàng, Châu Đốc, khi bà ngoại mình vào Hà Tiên đi hành hương ở chùa Phật Đường thì gặp ông ngoại mình ở nơi đây và sau đó hai người kết hợp với nhau. Mỗi năm cứ sau ba ngày Tết Nguyên Đán thì bà ngoại bắt đầu một chuyến đi cúng chùa, ngôi chùa đầu tiên chính là chùa Phật Đường. Đó là vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch, đúng là ngày cúng sao mỗi năm cả nhà chuẩn bị đi chùa Phật Đường để cúng sao. Đầu tiên là phải ghi rỏ tên họ tất cả mọi người trong nhà không phân biệt lớn nhỏ gởi cho quý vị trụ trì trong chùa và kèm theo tiền cúng chùa. Mình còn nhớ thời gian đó có ông Sáu ở chùa thường hay chạy chiếc xe đạp « đòn dong » ra chợ và ghé nhà mình để nhận giấy viết tên họ cúng sao và tiền cúng chùa, ngoài ra ông cũng thường ghé nhà mình thăm ông bà ngoại. Đến ngày cúng sao, bà ngoại dẫn ba anh em mình đi chùa, vào buổi tối…Khi vào chùa, bà ngoại thường kêu ba đứa cháu đến chào một hai bà cụ rất cao tuổi, đều là người quen biết với bà ngoại mình, cả ba anh em mình đến ngay tại căn phòng của quý cụ bà nầy, khoanh tay chào rất kính cẩn, quý bà cụ rất vui vẻ, hỏi thăm việc học hành và thường hay xoa đầu anh em mình…mà lúc đó mình lại cũng hay sợ quý bà cụ nầy, có lẻ vì thấy quý cụ bà rất cao tuổi…(lúc đó mình còn nhớ là có cô Tư Thọ, quen rất nhiều với bà ngoại mình, cô Tư thường hay kêu đem chè khi cúng xong cho mấy anh em mình ăn…)

Rồi đến lúc vào xếp hàng quỳ ở chánh điện để làm lễ cúng Phật và nghe thầy đọc tên mọi người trong gia đình. Mình vẫn còn nhớ là lần nào cũng nghe rỏ tiếng thầy đọc tên ông, bà ngoại, vú và tên các anh em mình. Sau thời gian cúng và đọc tên mọi người, đến lúc bà ngoại thả cho mấy anh em mình đi quanh quẩn dạo chơi trong và ngoài sân chùa. Bên ngoài sân chùa chung quanh đều có sân trồng cây cảnh, cây xanh rất xinh đẹp, hồi trước người dân thường đi vào chùa bằng lối đi phía bên hông chùa, cạnh đường Mạc Thiên Tích vì gần cổng chánh phía trước thường có bụi cây cỏ rậm rạp nên ít người dùng lối nầy để vào chùa. Gần cổng chánh phía trước chùa có một miệng giếng tròn to, thành giếng cẩn đá hộc, anh em mình hay đứng đó nhìn vào giếng..Đêm tối trong sân chùa có ánh đèn điện chiếu sáng, ánh sáng xuyên qua các cành lá tạo ra một khung cảnh rất thanh tịnh và cũng không kém phần huyền bí, không gian im lặng và có chen lẫn tiếng dế kêu nho nhỏ……Vì lúc đó mình vẫn còn rất nhỏ tuổi, ở tuổi trẻ thơ, nên nhìn thấy sân chùa có vẻ rất huyền bí và rất rộng…Mấy anh em chạy chậm chậm chung quanh ngôi chùa, mình còn nhớ lần nào cũng gặp một cô bạn tuy không học cùng lớp nhưng cùng trường Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Phan Kim Chi, cháu của Ông Ký Phan Kim Tố (có một thời gian ông chính là một nghị sĩ Quốc Hội của nền Đệ Nhất Cộng Hòa nước Việt Nam 1955-1963). Vì đều là trẻ con nên khi chạy quanh chùa và nhiều lần đụng mặt nhau,  mình và Kim Chi cũng chỉ cười bẻn lẻn, không ai dám nói chuyện với ai cả, rất ngượng ngùng mắc cở, không ai nói chuyện gì với nhau cả tuy đã quen biết nhau. Kim Chi cũng có một người em trai tên là Phan Kim Quang, sau nầy mình cũng có nhiều dịp đi chơi chung với Quang, vì Quang học cùng lớp với các bạn cùng đi chơi với mình như Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh…Nhà của hai chị em Phan Kim Chi và Phan Kim Quang ở phía dưới Cầu Câu, đường Nguyễn Thần Hiến, mình cũng thường đi chơi lúc đạp xe đạp hoặc thả bộ đi trên con đường đó mỗi buổi chiều, lần nào đi ngang cũng ghé mắt nhìn xem có ai trong nhà không …!! Mãi sau nầy đến khi quen biết kết bạn bè trên mạng face book, mình quen được với cô bạn tên Therese Tran (tên Việt là Trần Thị Nhung) mình mới hiểu rỏ nhiều hơn về gia đình và gốc gác của Kim Chi và Kim Quang, rốt cuộc hai bạn đều là cháu ruột của cô Chín Phan Thị Triệu, ngày xưa cô Chín Triệu có thời gian làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên và cũng có lúc cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, Kim Chi và Kim Quang đều là anh chị em vai cô cậu với Therese Tran.

Bên trong chùa Phật Đường, phía sau chánh điện là một căn phòng rộng lớn, mình còn nhớ rất rỏ là ngay sau vách tường của chánh điện, mặt trước là bàn thờ Phật, và mặt sau vách tường nầy trong căn phòng giữa phía trên cao có treo một bức tranh vẻ một cảnh xưa của nước Pháp, loại tranh to lớn và hình thức như những bức tranh của Viện Bảo Tàng nước Pháp. Phía bên trái có một cái bàn mà ngày xưa đó là nơi bàn học của một người bạn tên Ngọc, ở Rạch Giá sang theo học ở Trung Học Hà Tiên (Ngọc học cùng lớp với anh Trần Văn Dõng, người rất đẹp trai và rất có dáng thư sinh). Vì chùa Phật Đường ngày xưa cũng rất hay giúp học sinh nghèo nên chùa có chấp nhận cho một vài học sinh trú ngụ trong thời gian theo học ở Hà Tiên.  Mình còn nhớ, ngoài bạn Ngọc ra, còn có một người bạn khác cũng theo ở trọ trong chùa để theo học ở Trung Học Hà Tiên, người nầy là bạn của Trần Tiên, có lúc Trần Tiên dẫn mình vào chùa Phật Đường để thăm người bạn nầy, rất tiếc là mình không còn nhớ tên của người bạn nầy, lúc đó người bạn nầy còn lén mấy vị trụ trì trong chùa, mua một chai rượu trắng nhỏ và rũ mình và Trần Tiên uống rượu…

Trở lại buổi tối cúng sao ở chùa Phật Đường, sau khi cúng Phật, đọc tên cầu an, mọi người giúp ban quản trị của chùa dọn các món cúng trên các bàn thờ, cúng sao thì chùa có nấu chè và xôi để dâng cúng Phật, có rất nhiều cô bác quen biết chung quanh chợ Hà Tiên lên chùa trong buổi cúng sao nầy nên mình cũng gặp rất nhiều vị, trong đó có má của người bạn tên Sện (tên chánh là Tường, con của ông bà chủ tiệm Trồng Răng Phục Hưng ở đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên), Đến lúc nầy thì mấy nhóc trẻ con bắt đầu nhốn nháo phía sau hậu liêu của chùa vì đã đến lúc được ông bà, cha mẹ cho phép ăn chè,…Ba anh em của mình cũng được phân phát cho mỗi đứa một chén chè, có xôi trộn vào, ăn rất ngon,…có lẻ đó là động cơ chánh trong những lý do phải theo bà ngoại đi chùa ngày cúng sao…

Bây giờ mình nói đến vị trí của ngôi chùa Phật Đường nầy. Ngôi chùa Phật Đường nằm trong khuôn viên của một tứ giác do bốn con đường thành lập. Phía trước mặt chánh của chùa là đường Chi Lăng, bên phải ngôi chùa (nếu đứng trước mặt chùa ở đường Chi Lăng nhìn vào) là đường Mạc Thiên Tích, sau lưng ngôi chùa cách một khoảng đất rộng là đường Mạc Cửu và bên trái ngôi chùa phía xa ra là một con đường nhỏ không tên…Ngoài cửa chánh để vào chùa trên con đường Chi Lăng, bên đường Mạc Thiên Tích cũng có một cửa phụ để vào ngay phía nhà hậu liêu của ngôi chùa, ngày xưa khi mình có dịp đi chùa Phật Đường, mình thường vào chùa bằng cửa nầy. Trong khu vực tứ giác nói trên, trên đường Mạc Thiên Tích, phía sau chùa Phật Đường là Miếu Quan Thánh (người Hà Tiên thường gọi là chùa Năm Ông). Ở ngay góc nhọn nơi giao nhau của hai con đường Mạc Thiên Tích và Mạc Cửu ngày xưa là Nhà Đèn, nơi có những máy đèn cung cấp nguồn điện cho toàn khu vực Hà Tiên, ngày nay chính là trụ sở của Công Ty Điện lực Kiên Giang – Điện lực Hà Tiên.  Ngay gần phía sau chùa Phật Đường, hơi lùi vào bên trong, có một miếng đất rộng, nơi có một căn nhà ngói rất to lớn, đó là ngôi nhà của gia đình chị Mỹ Dung, chị có người chị bán bánh xôi vị rất ngon  trong nhà lồng chợ cũ Hà Tiên ngày xưa, chị Mỹ Dung học trường Trung Học Hà Tiên trước mình rất nhiều lớp, chị rất hiền, nhu mì, nói năng nhỏ nhẹ và cũng là một cô gái rất đẹp.

Cổng chánh chùa Quảng Tế Phật Đường ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Hình TVM 2012

Sơ đồ chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên: 1= Chùa Phật Đường, 2= Quan Thánh Miếu, 3= Công ty Điện lực Kiên Giang-Điện lực Hà Tiên, 4= Ngôi nhà ngói lớn của gia đình chị Mỹ Dung.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phật Đường:

Góc nhìn khác của ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, 2018

Ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên được thành lập vào năm Quý Hợi 1863 và thuộc hệ phái Minh Sư Đạo (tên đầy đủ là Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo). Môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo có nguồn gốc Phật Giáo Thiền Tông bên Trung Quốc từ đời Tổ Sư thứ sáu Huệ Năng (638-713).Sau rất nhiều thế kỷ thăng trầm, lúc bị đàn áp, lúc hưng thịnh, cho đến cuối thế kỷ thứ 19, được sự phân công của vị truyền thừa thứ 16, ngài Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879) sang Việt Nam truyền đạo vào lúc đời Tự Đức thứ 16. Đầu tiên ngài lập ra một ngôi chùa lấy tên Chiếu Minh Phật Đường tại địa điểm Cầu Kho (Chợ Lớn). Sau đó khi ngài sang Thái Lan khai đạo, trên đường trở lại Việt Nam, vì có trở ngại thời Pháp chiếm ba tỉnh miền đông, ngài ghé lại Hà Tiên và thành lập một ngôi chùa thứ hai của hệ phái Phật Đường, đặt tên ngôi chùa là Quảng Tế Phật Đường, đó là ngôi chùa Phật Đường hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Điều nầy đủ chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị lịch sử của ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên, vì đó là ngôi chùa đầu tiên thứ hai (sau chùa Chiếu Minh Phật Đường ở Chợ Lớn) của môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo trên đất nước Việt Nam. Lúc nầy ngôi chùa chỉ lợp lá đơn sơ và được sự đóng góp, giúp đở nhân lực, tài chánh của những người Minh Hương và các vị thân hào nhân sĩ kỳ cựu ở Hà Tiên. Từ đó quý nhân sĩ, trí thức Hà Tiên tìm đến quy y cầu đạo, số tín đồ ngày càng phát triển, việc truyền giáo gặp thuận lợi và cảnh chùa ngày càng thêm sung túc.

Đến năm 1937 tu sĩ Trần Văn Tiền, pháp danh Xuân Hòa với chức vụ Giáo phẩm Thiên Ân được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Công lao của ngài là đã chỉnh trang lại ngôi Phật Đường bằng gạch ngói kiên cố, tổ chức ban quản trị trụ trì việc hành chánh trong chùa và lại tạo bộ phận làm kinh tế gây quỹ cho chùa bằng việc làm tương chao, nấu đậu hủ, nuôi dấm, trong công việc kinh tế nầy có rất người người địa phương giúp đở và công quả cho chùa. Thời gian nầy còn có tu sĩ Nguyễn Thị Thu (Mỹ Hương), cô Bảy, cô Tám cùng hành đạo ở chùa. Ngài làm việc liên tục 25 năm thì ngả bệnh qua đời tại chùa (1937-1962), mộ phần được tôn tại ở Hà Tiên.

Tiếp theo đó, Lão Sư Trần Vận Hưng ở chùa Nam Nhã (Cần Thơ) được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên (dân địa phương Hà Tiên gọi ông là Ông Sáu Thợ Mộc), trong thời gian nầy có Bà Trần Thị Thọ, pháp danh Nghiêm Kỉnh, vốn là con gái của tu sĩ Xuân Hòa, khi ông mất đi, bà ở lại chùa nối tiếp đường tu, hộ đạo công quả. Đến năm 1968 trong lần về thăm chùa Nam Nhã, Lão Sư lâm bệnh đột ngột và qua đời tại chùa Nam Nhã Phật Đường.

Trong thời gian cùng năm nầy Minh Sư Đạo được chánh phủ công nhận và giáo hội trung ương được thành lập, Đức Tổ Vương Đạo Thâm cử hai vị về chùa trụ trì: Cô Thái Trần Ngọc Liêng (thường gọi là Cô Thái Bảy) và thầy Nguyễn Xương Thành (thế danh Nguyễn Văn Chùng). Vì hoàn cảnh có trách nhiệm ở chùa Phước Tế Vĩnh Long nên cô Thái Bảy thỉnh thoảng tới lui hoạt động ở chùa Phật Đường Hà Tiên, chỉ có thầy Xương Thành thì thường trực tại chùa. Ban trị sự chùa trong thời gian nầy gồm quý vị: thầy Trần Văn Hương (trưởng ban), cô Phan Thị Triệu (phó ban), quý vị Phạm Đình Khương, Phạm Thị Thìn và Trần Mỹ Hương là ủy viên, cùng trông lo Phật sự còn có cô Tư Thọ. Thầy Xương Thành tổ chức khám bệnh, châm cứu giúp dân địa phương rất nhiều. Từ đó được dân tình tín nhiệm và ủng hộ, thầy mở mang xây dựng thêm nhà kho, tậu mua thêm nhiều vật dụng cho chùa. Đến năm 1977 hoàn cảnh chiến tranh biên giới gây khó khăn, cô Thái bảy và thầy đều trở về quê, Phật tử cũng ít tới lui chùa, ban quản trị cũng tự giải tán. Đến năm 1979, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại, được chánh quyền địa phương giúp đở thuận lợi, chùa Quảng Tế Phật Đường hoạt động trở lại, bà Trần Thị Thọ cùng một số Phật Tử hộ đạo trở về chùa khôi phục việc cúng kiến, tu hành. Công việc chùa được ổn định và có nấu nướng thức ăn chay để gây quỹ tự túc. Cô Thái Bảy thỉnh thoảng trở lại Hà Tiên thăm viếng và hành đạo.

Năm 1989 bà Trần Thị Thọ qua đời tại chùa. Cô Thái Trần Ngọc Liêng trở về chùa khởi công tu sửa nhà hậu tổ và xin gia nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đồng thời cô Thái Bảy đề cử ông Nguyễn Văn Tường đạo danh Thiện Phú cư sĩ cấp nhị bộ ở chùa Phước Tế Vĩnh Long về công quả ở chùa Phật Đường Hà Tiên. Sau đó cô Thái Bảy cũng dặn dò, gởi gắm mọi đạo sự của chùa Phật Đường Hà Tiên cho Ban Hộ Trì trong những khi cô vắng mặt. Cô trở về chùa Phước Tế và do tuổi cao, sức yếu nên không đi lại được nữa.

Năm 1997, sau khi công quả tại chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên được 8 năm, tu sĩ Thiện Phú trở về chùa Phước Tế, cô Thái Bảy ủy quyền việc trọng nhậm tạm thời chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cho hai vị thượng nhân: Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí, trụ trì chùa Tế Sanh Phật Đường ở Vĩnh Long và Cô Thái Phạm Ngọc Anh, trụ trì chùa Huệ Nam Phật Đường ở Cần Thơ. Hai vị hoan hỉ nhận việc và cùng với công đức bá tánh, các đạo hữu tại Hà Tiên, Vĩnh Long, Cần Thơ, chùa Phật Đường Hà Tiên được hoàn công sau một tháng tu bổ. Trong ngày diễn ra buổi lễ bàn giao tiếp nhận chùa, hai vị thượng nhân trọng nhậm đã cử hai vị Thiên Ân lãnh trách nhiệm trụ trì chánh thức chùa Phật Đường Hà Tiên kể từ thời gian nầy. Đó là hai vị: Cô Lê Thị Kim Anh, pháp danh Ngọc Chi, tu tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ làm Chánh trụ trì, Thầy Lê Văn Sách, pháp danh Hữu Hạnh, tu tại chùa Nam Nhã Phật Đường Cần Thơ làm phó trụ trì. Sau lần cũng cố nhân sự nầy, đạo sự ở chùa Quảng Tế Phật Đường đi vào nề nếp, người dân Hà Tiên tới lui đông đảo và ủng hộ chùa về mọi mặt.

Đến ngày mùng một tháng 8 Âm lịch (năm 2006), Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí sau nhiều tháng ngả bệnh nặng, đã quy tiên. Ngày mùng 9 tháng 11 Âm lịch (năm 2009) Cô Thái Phạm Ngọc Anh quy tiên tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ sau nhiều thời gian lâm trọng bệnh. Đó là sự mất mát to lớn của toàn môn phái Minh Sư Đạo và đặc biệt là đối với chùa Quảng Tế Phật Đường vì hai vị, nhất là Đại Lão Sư đã quan tâm rất nhiều đến việc đạo sự của chùa, cho đến hiện nay chùa vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm và ấn tượng khó phai đối với Đại lão Sư.

Nhân dịp đại hội toàn phái Minh Sư Đạo (năm 2008), ban giáo hội trung ương đã chỉ thị các Phật Đường hoàn chỉnh ban trị sự, trong đó chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cũng thực hiện bầu cử ban trị sự của nhiệm kỳ 2008-2013, ban trị sự đã được thành lập và ra mắt gồm 7 vị:

Cô Thái Lê Ngọc Chi: trưởng ban
Cô Phan Thị Triệu và Ông Phan Văn Đây: phó ban
Cô Huỳnh Nghiêm Trang: thư ký
Cô Lâm Xuân Mỹ: thủ quỹ
Cô Huỳnh Thị Xuân Phượng và cô Huỳnh Thị Xuân Đào: ủy viên.

Từ năm 1997 đến năm 2007 ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên đã được tu sửa như sau: lợp mới khu chánh điện, lót gạch nhà hậu tổ. Xây dựng nhà khói, xây dựng hàng rào kiên cố vành đai chùa. Tu sửa nhà kho, tất cả đều do công lao, vật chất, tiền bạc của chư Phật Tử, đạo hữu xa gần và nhất là có phần đóng góp không nhỏ của Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí. Ngoài công việc đạo sự ở chùa, ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên còn góp phần vào công tác từ thiện xã hội, phân phối lương thực, sách vở, tập viết cho dân và học sinh nghèo, tích cực ủng hộ và tham gia ở địa phương qua các phong trào xóa đói, giảm nghèo, cứu dân trong thiên tai, bảo lụt, bảo trợ bệnh nhân nghèo.

Hình trái: Chân dung Đức Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879), người sáng lập chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên và truyền Minh Sư Đạo tại Việt Nam. Hình phải: Ông Đốc Lý Văn Nhơn. Hình thờ tại chùa Phật Đường Hà Tiên. Hình: Therese Tran

Tóm lại ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên là một trong những ngôi cổ tự ở Hà Tiên, chùa mang đậm nét lịch sử của thời khai đạo mà chính Đức Đông Sơ Tổ Sư từ bên Trung Hoa sang đặt nền móng « dựng chùa, khai đạo, truyền giáo ». Cho đến ngày nay qua xuyên suốt hơn 150 năm qua, so với các chùa đồng môn đã và đang hành đạo rải rác ở khắp nơi trên ba miền đất nước, chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên có một vị trí rất quan trọng, tiêu biểu cho toàn phái đạo, xứng đáng được tôn vinh, là con cháu dòng dõi người Hà Tiên, tất cả chúng ta đều có bổn phận gìn giữ tốt đẹp ngôi cổ tự Quảng Tế Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo tại Hà Tiên được vĩnh viễn trường tồn.

C/ Vài nét về hệ phái Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo:

Thời kỷ bên Trung Hoa: Phật Đường Minh Sư là một hệ phái Phật Giáo mang tính cứu thế, phổ độ, kính thờ Đức Phật, tu tiên và sinh hoạt theo Nho Giáo. Trong số 17 đời Đức Tổ, ngài Hoàng Nhẫn là Đức Tổ thứ 5 có nhiều môn đệ, trong đó có hai ngài là Thần Tú và Huệ Năng (Đời Đường 638-713). Khi Đức Tổ Hoàng Nhẫn liễu đạo, ngài truyền thừa cho ngài Huệ Năng (lục tổ). Phật giáo lúc đó chia thành hai nhánh: một do ngài Thần Tú mở đạo, Bắc Tông, một do ngài Huệ Năng dẫn dắt, Nam Tông. Sau khi ngài Huệ Năng liễu đạo, 70 năm đạo pháp bị đình đốn, đến năm 783 có thiền sư Mẫu Công Đạo Nhất và cư sĩ Bạch Ngọc (tỉnh Tây Giang) song thừa kế vị Đức Tổ thứ 7 cùng chấn hưng đạo pháp. Sau đó ngài La Công Húy đắc pháp thành đời tổ thứ 8 và được vua nhà Đường kính trọng. Đến đời vua Thế Tôn nhà Hậu Chu (năm 955), Phật giáo bị pháp nạn vì phong trào « phá hủy Phật tự »…Sau đó hơn 800 năm đến cuối nhà Minh, tông phái Phật Đường mới được phục hưng, năm 1623 ngài Hoàng Công Đức Huy đắc pháp thành Đức Tổ thứ 9, sau đó là ngài Ngô Công Tinh Lâm, Đức Tổ thứ 10 và ngài Hà Lão Huệ Minh, Đức Tổ thứ 11. Ngài Viên Thốn An được truyền trao Pháp đạo thành Đức Tổ thứ 12.  Đến đời Đức Tổ thứ 13 là song hành hai vị: ngài Vương Công Hườn Hư hành đạo về phía bắc và ngài Từ Hườn Vô mở đạo về hướng nam. Đến khi nhà Thanh tiếp nối nhà Minh (năm 1863, cùng thời vua Tự Đức thứ 16 bên nước Việt Nam ta), ngài Đông Sơ Tổ Sư được cử đi đưa sự nghiệp đạo pháp đến các nước Thái Lan và Việt Nam, từ đó hệ phái Phật Đường Nam Tông được truyền đến nước Việt Nam: thành lập ngôi chùa đầu tiên là Chiếu Minh Phật Đường tại Cầu Kho Chợ Lớn và ngôi chùa thứ hai là Quảng Tế Phật Đường tại Hà Tiên.

Thời kỳ bên Việt Nam: Hệ phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo sau khi lập hai chùa Phật Đường ở Chợ Lớn và Hà Tiên, bắt đầu phát triển với số bổn đạo ngày càng đông. Ngài Lão Sư Ngô Cẩm Tuyền xây ngôi chùa Ngọc Hoàng tại Đa Kao, quận 1 Sài Gòn, năm 1900, sau đó chùa được chuyển sang chùa Phật, sau đó ngài cũng xây một ngôi chùa Phật Đường khác cũng tại quận 1, Sài Gòn vào năm 1920, đặt tên là Quang Nam Phật Đường. Lúc nầy với những ngôi chùa Minh Sư Đạo đầu tiên chỉ để thu hút người mộ đạo Minh Hương, dần dần đã có hơn 50 Phật Đường trên toàn nước Việt Nam. Về thờ phượng, chùa Phật Đường Minh Sư Đạo tôn thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Tử và Đức Thái Thượng Lão Quân. 

Hiện nay Minh Sư Đạo có hơn 50 Phật Đường hoạt động ở khắp 18 tỉnh, thành phố, với 300 chức sắc, hơn 1262 chức việc và trên 11000 tu sĩ, tín đồ. Tổ Đình Minh Sư Đạo đặt tại chùa Quang Nam Phật Đường, quận 1 TP HCM.

D/ Chú thích:

1/ Phần một:  Người dân Hà Tiên chúng ta rất hâm mộ đạo dù cho theo khuynh hướng nào cũng vậy. Ở Hà Tiên có đủ các tôn giáo cùng hòa đồng sinh hoạt với nhau: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Cao Đài,…Tất cả các tôn giáo nầy đều có rất nhiều tín đồ,, đa số đều có thực hành các quy lễ như đi chùa, đi nhà thờ cúng  lễ đều đặn. Đối với hệ phái Phật Đường Minh Sư Đạo, ngay từ khi Đức Trưởng Lão Đông Sơ ghé Hà Tiên thành lập ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường vào năm 1863, đã có sự tiếp đón, ủng hộ, góp công sức của người mộ đạo Hà Tiên, nhất là những người Minh Hương sinh sống tại Hà Tiên. Vào những năm cuối của thập niên đó (cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ thứ 20) sau khi Trưởng Lão liễu đạo thì có nhiều gia đình kỳ cựu ở chung quanh chợ Hà Tiên đã đóng góp rất nhiều trong việc củng cố, trị sự và phát triển ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường. Ta có thể kể ra vài gia đình tiêu biểu như: gia đình ông Huỳnh Đăng Khoa và phu nhân là bà Trần Thanh Tùng (Ông bà Cố của bạn Therese Tran), rồi đến đời ông Phan Kim Tố (Nghị sĩ Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, Ông ngoại của bạn Therese Tran), sau đó đến đời quý vị ái nữ của ông, trong đó có cô Chín Phan Thị Triệu (Dì Chín của bạn Therese Tran), từ đời ông bà cho đến đời sau, gia đình của cô Chín Triệu đã không ngừng tham gia vào việc xây cất, chỉnh tu, và quản trị trong ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, đó là một việc làm rất đáng được người dân Hà Tiên chúng ta khâm phục và ghi nhớ. Ngoài ra còn có gia đình của ông Đốc Hà Văn Điền (thân phụ của cô Ba Hà Thị Bích Thủy và cô giáo Hà Thị Hồng Loan), gia đình của Thầy Trần Văn Hương (Ông từng là Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Hà Tiên), gia đình ông Đốc Lý Văn Nhơn,…Những gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên nầy đã có công góp sức và thời giờ rất nhiều trong công việc tạo dựng và quản trị ngôi chùa, mình nêu sự việc lên đây mong người Hà Tiên chúng ta luôn nhắc nhở và ghi nhớ để em cháu về sau còn biết được và theo gương sinh hoạt đó. Đặc biệt trước khi viết bài về ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường nầy, mình đã nhờ đến sự giúp đở của bạn Therese Tran rất nhiều, nhờ bạn đã chuyển giao cho mình nhiều hình ảnh, thông tin tư liệu về nguồn gốc ngôi chùa do cô Chín Phan Thị Triệu còn lưu giữ và thảo ra nên mình mới có được những chi tiết, tên họ chính xác trong bài viết. Xin qua những dòng chữ nầy kính gởi đến cô Chín Phan Thị Triệu và bạn Therese Tran lời cám ơn trân trọng về sự giúp đở quý báu nầy.

Từ trái qua phải: Cô Chín Phan Thị Triệu, cô Lý Ánh Nguyệt và cô Ba Hà Thị Bích Thủy. Hà Tiên, 1950-1960, Hình Lâm Xuân Mỹ

Từ trái qua phải: Thân mẫu của bạn Therese Tran, cô Ba Hà Thị Bích Thủy, cô Chín Phan Thị Triệu và Thầy Trần Văn Hương. Hình: Therese Tran, 1991

Cô Chín Phan Thị Triệu (một trong những ái nữ của ngài Nghị Sĩ Phan Kim Tố, gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên). Cô Chín từng làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên trong những năm 50-60, sau 1975 Cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, đồng thời Cô cũng giữ nhiều vai trò trong ban quản trị chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Hiện nay Cô Chín đã 87 tuổi, vẫn sinh sống tại quê hương Hà Tiên. Hình: Therese Tran, 2019

Vài nét nhắc nhở về bạn Therese Tran, bạn Therese Tran tên Việt Nam là Trần Thị Nhung, là người gốc gác ở Hà Tiên, trong một gia đình kỳ cựu, đứng với vai Therese Tran: ông Cố Ngoại là ông Huỳnh Đăng Khoa, ông Ngoại là ông Phan Kim Tố, thân phụ là ông Trần Văn Thuận, dì Chín là Cô Phan Thị Triệu. Therese Tran cũng là một cựu học sinh Trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, hai người chị của Therese Tran là chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi, bạn học Trung Học Hà Tiên cùng thời với quý anh chị Đoàn Kim Minh, Lý Thị Lắc, Nguyễn Thị Sồ, Hà Thị Hồng Loan, Vương Văn Quý, Trần Đại Hải,…Gia đình bạn Therese Tran chuyển về Cần Thơ trong giữa thập niên 60 và sau đó trong những năm sau 1975, bạn định cư ở nước Úc. Bạn Therese Tran và hai bạn Phan Kim Quang và Phan Kim Chi cũng là anh chị em cô cậu vì thân phụ của Kim Quang và Kim Chi là anh của thân mẫu của Therese Tran.

Bạn Therese Tran (Trần Thị Nhung), trái : 1968, phải: Hình chụp trước sân chùa Quảng Tế Phật Đường năm 2019. Hình: Therese Tran

Hình trái: Phan Kim Quang, bạn học chung Trường Trung Học Hà Tiên (cùng lớp với các bạn Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh). Kim Quang ra trường Bộ Binh Thủ Đức, về Rach Giá mang cấp bậc Thiếu Úy và tử trận năm 1974. Hình phải: Phan Kim Chi, hiện sinh sống với gia đình tại Vĩnh Long.  Hai chị em Kim Quang và Kim Chi là anh chị em cô cậu với bạn Therese Tran.

2/ Phần hai: Bài viết trên đây (các phần B, C và D) đều dựa trên các tài liệu nghiên cứu trên mạng, riêng phần nguồn gốc thành lập chùa Quảng Tế Phật Đường thì viết theo bài kể lại quá trình thành hình và quản trị ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường do cô Chín Phan Thị Triệu, thay mặt Ban Trị Sự chùa, đã viết ra năm 2011 và có chữ ký của Cô Thái Lê Ngọc Chi. Mình vẫn còn giữ tài liệu nầy, bạn nào cần tham khảo xin cho địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chia sẻ tài liệu gốc.

Tài liệu nghiên cứu:

a/ Quảng Tế Phật Đường (Phan Thị Triệu, 2011)
b/ Vài nét về Phật Đường Nam Tông (Trần Tiến Thành, nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2009)
c/ Chùa Quảng Tế Phật Đường (2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt)
d/ Giới thiệu về Ngũ chi Minh đạo và Minh sư đạo tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Huấn)

Các tài liệu nầy mình đều có bài dưới dang file, bạn nào cần tham khảo xin viết tin nhắn cho mình với địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chuyển cho. Các tài liệu đánh dấu b, c và d thì có đường link, các bạn bấm vào link sẽ có bài hiện ra nhé.

Paris, 16/12/2019  Trần Văn Mãnh

Nguyễn Hồ Hải tự Hồ Hải

Giới thiệu anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng có dịp trở lại ngược thời gian rất xa xưa với các bài viết của anh Đoàn Kim Minh và chị Lý Thị Lắc,…Đó là các đàn anh, đàn chị đã từng chứng kiến sự ra đời của ngôi trường Trung Học Hà Tiên và đã theo học từ các lớp ngay từ những năm đầu của trường. Thời gian đó là những niên học của những năm đầu thập niên 50. Bước qua thập niên 60, những niên học đầu của thập niên 60 ở trường Trung Học Hà Tiên cũng có rất nhiều anh chị học sinh đã in lại dấu ấn sâu đậm cho sinh hoạt trường lớp ở Hà Tiên…Một trong những anh học sinh của trường Trung Học Hà Tiên rất nổi bậc bấy giờ là anh Nguyễn Hồ Hải, Anh Nguyễn Hồ Hải nổi tiếng ở Hà Tiên về lãnh vực âm nhạc vì anh là một tay đàn guitare rất hay…Anh Nguyễn Hồ Hải lấy biệt hiệu là Hồ Hải, ở Hà Tiên, thầy cô và bạn bè đều gọi anh là Hồ Hải. Chính bản thân mình cũng được hân hạnh biết anh và đã có một thời gian được may mắn thường xuyên nghe tiếng đàn của anh.

Anh Hồ Hải là người quê ở Châu Đốc, tuy nhiên có cơ duyên đưa anh về Hà Tiên theo học bậc Trung Học. Anh Hồ Hải vào học trường Trung Học Hà Tiên từ niên khóa lớp Đệ Tứ 1961-1962, và anh theo học tại trường Hà Tiên cho đến hết các lớp Đệ Tam, Đệ Nhị. Anh Hồ Hải học cùng lớp với anh Mao Xuân Kia, chị Chín Hương (chị của chị Lâm Xuân Cúc). Vì anh không phải là người gốc gác Hà Tiên nên trong thời gian anh theo học ở Hà Tiên, anh ở trọ ở nhà của người quen biết, đó là nhà của chị Lê Thủ Điệp, cháu của thầy Hứa Văn Vàng và là chị của Lê Thị Việt Nga, anh vừa ở trọ và vừa ăn cơm tháng tai đây luôn, lúc đó là căn nhà trên đường Chi Lăng, phía sau chùa Phước Thiện, gần nhà Lâm Cẩm Nhung.

Anh Nguyễn Hồ Hải

Trong thời gian nầy, có quý thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…ở trong căn biệt thự của Chú Hai Bày*, đường Bạch Đằng, xéo xéo nhà mình, khoảng ngay đối diện với nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khanh, Trần Thị Thu Oanh. Vì thế anh Hồ Hải rất thường tới lui căn biệt thự nầy để thăm viếng quý thầy và cũng đến đó để sinh hoạt văn nghệ, đàn ca…Lúc đó theo mình nhớ thì trong căn biệt thự quý thầy ở có một bộ gồm một cây đàn điện Fender và ampli, anh Hồ Hải mỗi lần đến chơi với quý thầy, anh thường dợt đàn, dợt ca cho các anh bạn học cùng nhóm và cũng là học sinh đến chơi với quý thầy, như các anh Phù Thọ Phương (biệt hiệu Tùng Phương), anh Hoàng Tùng, anh Phù Thọ An (biệt hiệu Tùng Trang),…Có nhiều đêm, anh Hồ Hải còn ở lại căn biệt thự để đàn, rất khuya, lúc đó bên nầy con đường Bạch Đằng, mình đã lên giường ngủ rồi và thường nghe tiếng đàn điện của anh, mình rất thích , nhất là anh thường chơi đàn bài Hàn Mặc Tử.  Cũng xin nói thêm là khi anh đến Hà Tiên vào học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1961-1962) thì mình mới ở lớp Nhì trường Tiểu Học Hà Tiên, hai niên khóa sau, đến niên khóa 1963-1964 thì lúc đó anh Trần Văn Dõng của mình vào lớp Đệ Thất bậc Trung Học còn mình thì đang theo học lớp Tiếp Liên ở trường Tiểu Học Hà Tiên với thầy Hà Phương Linh vì mình thi hỏng vào lớp Đệ Thất lần đó, năm sau thì mới vào Đệ Thất.

Như vậy trong thời gian niên khóa 1963-1964 anh Hồ Hải đang theo học lớp Đệ Nhị của trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy hoạt động văn nghệ của mấy anh rất sôi động, sôi động đến độ là tại căn biệt thự đường Bạch Đằng của quý thầy đang ở, có tổ chức Đại Nhạc Hội, chương trình do các anh Hồ Hải, Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng Trang,…phụ trách, lúc đó có cả anh Bảy Kế là công chức đang làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên cũng tham gia vào tổ chức Đại Nhạc Hội này với tính cách là kỹ thuật viên phụ trách về âm thanh, máy móc…Trong đầu óc mình vẫn còn nhớ rỏ cái áp phích quảng cáo cho chương trình Đại Nhạc Hội nầy dựng trước căn biệt thự đường Bạch Đằng, có ghi rỏ tên các anh chị ca sĩ và tên anh Bảy Kế, lúc đó anh không ghi là Bảy Kế mà ghi là Văn Kế….Còn về giá tiền vào cửa và giá các thức uống trong đó thì mình quên rồi, nhưng vẫn còn nhớ là lúc đó buổi chiều anh Trần Văn Dõng đi học về có nói là « Mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng »…(vì là đi uống nước và có văn nghệ phục vụ… ». Thời đó nói đến nước ngọt tức là loại chai nước như: xá xị, nước cam, bạc hà, mỏ nách (Limonade),…và nếu là « người lớn » thì dĩ nhiên có quyền uống bia 33 con cọp… Trong các buổi Đại Nhạc Hội nầy mình còn nhỏ nên đâu có phương tiện để vào xem, chỉ ở bên nhà bên đường nghe tiếng đàn hát và thấy khách đi xem ra vào rất đông…Lúc đó mình không biết có nữ ca sĩ không mình chỉ nhớ các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng,Tùng Trang mà thôi, quý thầy cô, anh chị hay quý bậc cao niên còn nhớ các chi tiết về thời hoạt động văn nghệ nầy, nhất là thầy Võ Thành Tường nếu còn nhớ xin thầy góp ý, cho thêm thông tin chi tiết nhé, rất cám ơn quý thầy cô, anh chị và các bạn.

Anh Nguyễn Hồ Hải

Có thể nói anh Hồ Hải là một trong những người đi tiên phong trong nền âm nhạc ở Hà Tiên, dĩ nhiên là trước anh, Hà Tiên vẫn có tổ chức văn nghệ đàn ca, kịch, múa,…Nhưng nếu nói thời vàng son của phong trào ca nhạc ở Hà Tiên thì phải nói là vào những năm có mặt anh Hồ Hải..Thật vậy, lúc đó anh Hồ Hải rất nổi tiếng, chẳng những anh được biết qua tài đàn rất hay của anh, mà mọi người đều ái mộ anh về dáng vóc thanh nhã, đẹp trai và nét lãng tử của anh. Chính mình ngày xưa tuy không phải là bạn của anh (vì sự chênh lệch tuổi tác và không sinh hoạt trong cùng một môi trường) nhưng mình cũng biết anh, có lần mình cũng có qua chơi trong căn biệt thự của quý thầy ở đường Bạch Đằng và cũng có gặp anh, cười nói, tiếp xúc….mình rất ái mộ anh ngay cả về cách ăn mặc rất mode và đẹp của anh…Vì thế từ lâu rồi trong đầu óc mình đã có ý nghĩ phải cố gắng viết một bài về anh, để giới thiệu anh Hồ Hải với tư cách là một người « bạn » học cùng trường…Trong Blog Trung Học Hà Tiên Xưa nầy có một mục « Bạn Học Cùng Trường », mình đã cố gắng và cùng với sự đóng góp bài vở, hình ảnh của quý thầy cô, các bạn mà mình đã giới thiệu được rất nhiều bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên, chỉ có một cái tiêu chuẩn không phải là tuyệt đối lắm để có mặt trong mục nầy là có được một (hay vài) tấm hình ngày xưa, để thầy cô và các bạn nhìn lại người bạn được giới thiệu đó mặt mày ra sao ngày xưa…Dĩ nhiên là tên của tiết mục là « Bạn Học Cùng Trường » nhưng người bạn đó có thể là một bậc đàn anh, đàn chị, đàn em hay bạn cùng một lứa tuổi…Như vậy thì trong mục nầy không thể thiếu anh Nguyễn Hồ Hải vì anh cũng là một người đàn anh từng theo học trường Trung Học Hà Tiên, hơn nữa mình muốn viết về anh để thứ nhất cho quý anh chị cùng thời với anh Hồ Hải có dịp nhớ lại anh, thấy lại, nghe lại những mẫu chuyện thời anh ở Hà Tiên, thứ hai cũng không kém phần quan trọng là phải viết về anh để bậc đàn em đi sau biết được về anh, về một thời Hà Tiên có sinh hoạt văn nghệ rất là hay, rất sâu đậm…và biết được tài năng của anh về môn chơi đàn guitare, tất cả những lý do đó khiến mình bắt đầu đi vào sự tìm hiểu về anh, tìm thông tin, tìm hình ảnh để viết bài…

Anh Nguyễn Hồ Hải

Thầy cô, quý anh chị và các bạn sẽ đặt câu hỏi là người tài năng, tài tử, lãng tử như anh Hồ Hải vậy được người ta mến mộ đã đành, nhưng về phía « fan » thuộc phái nữ thì sao ?? Không nói ra nhiều thì ta cũng hiểu là không thiếu những tình cảm của phái nữ dành cho anh vào thời đó,…Các bạn gái cùng thời với anh, các nữ ca sĩ, hay các nữ sinh học sau anh vài lớp chắc hẳn cũng rất ái mộ anh về mọi phương diện…Mặc dù vào thời gian đó mình vẫn còn ở bậc Tiểu Học, nhưng mình cũng rất chú ý đến sinh hoạt ở bậc Trung Học qua lời kể của anh Trần Văn Dõng và người chị bạn dì của mình là chị Huỳnh Thị Kim về quý thầy cô và các anh chị ở Trung Học…Chị Huỳnh Thị Kim có nhiều bạn cùng chung lớp chị như chị Lê Thủ Điệp, Trịnh Ngọc Lệ, chị Liên (chị của bạn Trương Trung Cang), chị Ngọc Hằng, chị Mỹ Dung,…Nghe các chị kể lại là thường ngày các chị chơi đánh vũ cầu (cầu lông) trên con đường Bạch Đằng, và từ cơ hội đó cũng có quen biết anh Hồ Hải và cũng rất ái mộ anh Hồ Hải…!!

Khi anh Hồ Hải học xong bậc Trung Học ở Hà Tiên vào giữa thập niên 60, tình hình chiến tranh đã phát triển nhiều, anh quay trở về quê anh ở Châu Đốc..Một thời gain nữa anh trở lại Kiên Lương để làm việc ở nhà máy Xi măng Hà Tiên…Thời gian sau anh đi vào đơn vị Tâm Lý Chiến để phục vụ đúng với khả năng của anh. Tại đây anh gặp được người bạn đời của anh và anh lập gia đình. Sau khi rời khỏi đơn vị Tâm Lý Chiến, anh và gia đình chọn Kiên Lương làm nơi định cư sinh sống. Gia đinh ngày càng đông vui vì anh chị có nhiều con, một trong những người con trai của anh có vợ là người Hà Tiên và lập nghiệp ở Hà Tiên. Một người con trai khác của anh chính là ca sĩ, nhạc sĩ Chi Dân (tên thật là Nguyễn Trung Hiếu), tiếp nối truyền thống của anh, chính Chi Dân sáng tác bài hát « Anh Muốn Em Sống Sao » rất nổi tiếng giúp cho ca sĩ Bảo Anh trở thành ngôi sao ca nhạc…

Vào ngày 24/10/1997 tại Kiên Lương, anh Nguyễn Hồ Hải lúc đó 52 tuổi, đã đặt cây đàn guitare xuống vĩnh viễn, và vì anh vẫn còn luyến tiếc khung trời thơ mộng của Hà Tiên mà ngày xưa anh đã từng trải qua một thời tuổi trẻ, anh được chôn cất tại Hà Tiên, mộ của anh ở gần khu mộ của Bà Cô Năm..

Anh Nguyễn Hồ Hải

Cho đến ngày hôm nay mình vẫn còn ái mộ anh Hồ Hải và mong rằng qua bài viết ngắn ngủi và nhiều thiếu sót nầy, mong quý thầy cô, anh chị và các bạn hãy tưởng nhớ lại một tài năng ngày xưa, một người học trò, một người anh, một người quen biết mà trong những năm tháng của thập niên 60 ở Hà Tiên, không ai là không biết đến tên tuổi của anh Hồ Hải.

Trần Văn Mãnh Paris, 28/04/2019

Một trong những người con trai của anh Nguyễn Hồ Hải, ca sĩ Chi Dân (Nguyễn Trung Hiếu)

Đặc biệt xin trân trọng cám ơn chị Hồ Hải đã giúp và chia sẻ cho mình thông tin, hình ảnh, cũng như xin cám ơn cô Dương Hồng Châu, chị Huỳnh Thị Kim và chị Trịnh Ngọc Lệ, không quên cám ơn Lê Ngọc Ngân, Lê Thị Việt Nga  đã chia sẽ thông tin, hình ảnh

* (Về căn biệt thự của chú Hai Bày nầy, mình có nói nhiều trong bài viết về bạn học Lê Văn Đông, mời thầy cô và các bạn có thể xem thêm qua link nầy).

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2019/03/29/gioi-thieu-le-van-dong/

Gửi bạn Đoàn Kim Minh (Lý Thị Lắc)

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng sống lại nhiều hơn với quá khứ và ký ức của Trường Trung Học Hà Tiên xưa….Thật vậy, mới hai ba hôm nay anh cả của Trường (tạm gọi như vậy nhé…) Trung Học Hà Tiên ngày xưa, anh Đoàn Kim Minh vừa xuất hiện với chúng ta qua sự khám phá và đọc bài trên Blog nầy, anh đã đem đến cho chúng ta nhiều kỷ niệm rất xa xưa, xa xưa đến nổi ngoại trừ những anh chị cao cấp không ai trong chúng ta có thể nhớ lại những câu chuyện do anh Minh kể trong bài viết…May mắn thay, tiếng kêu gọi của Trung Học Hà Tiên xưa đã vang đi khắp nơi, và hôm nay chúng ta hân hạnh đón tiếp một cách thật vui, thật trịnh trọng một cây bút mới, mới với Blog nhưng rất quen thuộc với khung trời Trung Học Hà Tiên ngày xưa…Đó là bài viết của chị Lý Thị Lắc, một người học trò của thời khai sanh ngôi trường Trung Học Hà Tiên,…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay chẳng những để gửi đến người bạn cùng trường lớp năm xưa với chị là anh Đoàn Kim Minh, mà còn viết bài để cho tất cả chúng ta, trước hay sau, cao tuổi hay vẫn còn « tươi trẻ »…biết được những kỷ niệm xa xưa mà chị và quý anh chị ngày xưa đã từng trải nghiệm qua…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay vì chị đã đọc qua bài viết của anh Minh và không thể không viết lên vài hàng chia sẻ cảm xúc. Một trong những người cô đã dạy mình thời Trung Học Hà Tiên, cô Tiền Ngọc Thanh, khi đọc bài của anh Minh viết cũng bồi hồi xúc động, vì hơn ai cả cô Thanh đã thấy trong bài anh Minh có nhắc đến người bạn đời thân yêu của cô năm xưa, cô đã viết nhận xét như sau:

« Cám ơn anh Đoàn Kim Mình. Tôi rất bùi ngùi khì anh nhắc đến Vương Mình Quí người yêu đầu tiên cũng là người chồng của tôi Tiền Ngọc Thanh. Khì ấy tôi còn rất nhỏ nên không biết các bậc đàn anh nhiều. Anh Quí mất rất sớm lúc chưa đầy 30 tuổi. » !! 

Hôm nay, trong bài viết nầy, chị Lý Thị Lắc cũng có nhắc đến thầy Vương Minh Quí, với một tính chất luôn cười vui nên được các bạn đặt cho danh hiệu, mình hoàn toàn không hiểu danh hiệu nầy và cũng không biết Ô.B.K ở gần chùa Năm Ông ngày xưa, mong rằng đó một danh hiệu vui, minh họa được tánh cách yêu đời, hay cười của thầy Quí…, hay cười, yêu đời cho dù thầy Vương Minh Quí đã rời xa cuộc sống một cách quá sớm…

Rồi thời gian cứ trôi qua, trường lớp có còn đó, vẫn « trơ gan cùng tuế nguyệt », cho dù dấu hằn của năm tháng, dấu tàn phá của chiến tranh biên giới, dấu hao mòn của bao nhiêu thế hệ học sinh sinh hoạt ở trường lớp từ lúc các bậc đàn anh, đàn chị rời xa trường mãi mãi,…Các anh chị người thì đi thật xa, người thì còn ở lại Hà Tiên, nhưng dù ở phương trời nào, ta cũng có cái tâm gần nhau, có một khung trời chung trong con tim, đó là khung trời kỷ niệm của Hà Tiên,…và dù cho ta chắc chắn sẽ rời xa trường lớp một lần nữa, lần nầy là vĩnh viễn, hãy tâm đắc với cái triết lý sống « đi về không hứa hẹn, không từ giả, hãy im lặng với vui buồn là đủ…. »  . (TVM viết vài hàng giới thiệu, Paris, 27/04/2019)

GỬI BẠN ĐOÀN KIM MINH (Lý Thị Lắc)

Tôi phải đặt bút viết ngay những dòng cảm xúc khi đọc bài của bạn. Rất cảm ơn đã cho tôi và những bạn học cùng lớp ngày xưa trở lại bao kỷ niệm vàng ngọc thuở ấu thơ. Thương yêu biết mấy tuổi học trò. Nếu không có Patrice Trần sáng lập trang “Trung học Hà Tiên xưa và nay” thì bao kỷ niệm ngày xưa… “tự mình ôm lấy”.

Đọc bài của bạn tôi phục sát đất, bạn nhớ kỹ quá, tài quá. Tôi nghĩ những ai là diễn viên múa trong bài “Gấm vàng” khi đọc những dòng của bạn chắc phải rưng rưng…

Tôi vẫn nhớ bạn rất thân với Vương Minh Quí. Quí lúc nào cũng cười cười, cười cười… Trong lớp mình, Nguyễn Văn Thu (ông xã của Huỳnh Thị Lành, nay đã mất) thường đặt cho mỗi người một “hỗn danh”, thấy Quí cười cười hoài Thu đặt Quí là “Ô.B.K” (Minh có nhớ ở chùa Năm Ông gần nhà máy đèn có Ô.B.K không?). Nói sao cho hết những kỷ niệm thuở học trò.

Còn một chuyện vui này nữa, tôi không biết bạn có bị “cồng sin” trong vụ án ăn cắp dừa nước ở mương đào gần lò vôi trên đường đi Thạch Động không? Hôm đó vào ngày chúa nhật, từ 7h – 9h chúng tôi bị thầy Giám thị Trịnh Học Ký bắt vào lớp “cấm túc” vì người chủ dừa nước thưa lũ học trò phá phách. Đến 9h, hết giờ “ở tù” thầy Giám thị nhỏ nhẹ: “Mấy em được về”. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh thầy Ký há mồm kinh ngạc khi “bọn tù” nhao nhao:

– “Không về! không về! Ai biểu thầy phạt tụi em…”

Chân dung thầy Trịnh Học Ký, dạy môn Thể Dục và là Giám Thị Trường Trung Học Hà Tiên

Ôi, cha mẹ ơi! có bọn tù nào không chịu về khi được thả??? Đúng là “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bạn ạ, sau này chúng tôi thường đi đám giỗ thầy Trịnh Học Ký ở Sóc Trăng, khi cầm nén hương trước thầy tôi thường khấn: “Thầy ơi, xin tha tội cho lũ học trò quỉ quái ngày xưa”.

Bạn Minh ơi,

Thời gian qua nhanh quá, ngày nào chúng ta còn là những cậu bé, cô bé tuổi học trò, vui đùa vô tư trong sân trường Trung Học Hà Tiên mà nay đã là những lão niên tuổi cao sức yếu. Bây giờ, mỗi sáng chúng tôi thường tập dưỡng sinh trước sân nhà thầy Trương Minh Đạt. Trên đường đến sân tập, tôi thường tâm đắc với hai câu thơ:

“… Đi không từ giã, về không hẹn
Câm nín, vui buồn, ai biết đâu…”

Lý Thị Lắc, Hà Tiên, 27.4.2019

Cuộc hội ngộ giữa thầy, cô, học trò Trung Học Hà Tiên vào năm 2016. Hàng ngồi: Thầy cô Võ Thành Tường và thầy Nguyễn Văn Nén. Hàng đứng gữa: bìa trái chị Lý Thị Lắc và cô Nguyễn Thị Sồ, thầy Phan Văn Xuân và anh Đạng Văn Thơm. Phía sau: anh Lập (Hình: Nguyễn Bích Thủy)

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, Nguyễn Bích Thủy

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn chị Lý Thị Lắc đã đóng góp cho chúng ta một bài viết thật hay, đầy kỷ niệm những năm xưa, hy vọng là chị sẽ tiếp tục cho chúng ta đọc những bài viết đầy ký ức của một thời trường Trung Học Hà Tiên.

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…