Vài nét về địa danh Giang Thành

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi mình còn là một học sinh trung học ở Hà Tiên, thường thì chỉ biết lo học, đi chơi với các bạn và cũng biết … »thương yêu » chút chút kiểu « tình yêu học trò »…chứ chưa biết suy nghĩ, tìm hiểu về những cái hay cái đẹp của quê hương… Thật vậy ngày nay nhờ có những quyển sách nghiên cứu sâu đậm về mảnh đất Hà Tiên và họ Mạc của nhà Hà Tiên học thầy Trương Minh Đạt, mình mới bắt đầu chú ý đến tất cả những gì có liên quan đến Hà Tiên…Hồi xưa mình cũng không biết đến cái tên núi Phù Dung, không nghe ai nói núi Phù Dung cả, chỉ biết có một ngôi chùa tên là Phù Dung mà thôi, mà lại cũng không biết có đến hai ngôi chùa Phù Dung, một chùa xưa (ở núi Phù Dung, tức núi Đề Liêm, đã mất) và một chùa nay (ở núi Bình San, còn hiện tại), hoàn toàn không biết gì về ngôi chùa Phù Dung xưa. Còn về cuộc đời và sự nghiệp của các quan tướng đời họ Mạc: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích,…v..v…mình chỉ biết mơ hồ, mông lung, chỉ biết nghe những câu chuyện truyền thuyết mà thôi. Về các danh từ chỉ địa danh như: Cừ Đứt, Trà Phô, Phú Mỹ, Giang Thành,…v..v..thì lại càng mông lung hơn nữa, chỉ biết tất cả những địa danh đó là ở phía xa xa về hướng Đông Hồ trở vô sâu theo con sông về phía kênh Vĩnh Tế…Hồi xưa cũng thường nghe nói những vùng mang tên đó đều không được an ninh lắm, thỉnh thoảng nghe nói có « đụng độ » với « mấy ảnh »…và thường có ghe tàu Hải Quân PCF, Hải Thuyền thường hành quân về phía các sông rạch đó…nên cả một quảng đời mình sống ở Hà Tiên không có lúc nào dám phiêu lưu mạo hiểm đi về phía các vùng đó…Hồi đó chỉ biết là vào buổi sáng thường có ghe đò từ trong Cừ Đứt, Trà Phô chở hành khách ra chợ Hà Tiên, người dân trong vùng đó thường ra chợ Hà Tiên mua sắm hay đem các máy móc radio, truyền hình ra sửa chữa…

Bây giờ tuổi đã hơn lục tuần, nơi ở thì cách xa quê hương Hà Tiên hơn 10000 km, muốn tìm hiểu nơi chốn địa phương thực tế cũng không còn thuận tiện như xưa, chỉ có cách tìm tòi, lục lạo trong sách vở và trên mạng…Tuy thế, nhưng lại được cái đam mê tìm hiểu, do đó mình rất thích viết về những gì liên quan đến Hà Tiên, về kỷ niệm bạn bè, thầy cô xưa, về hình ảnh địa danh cũ,…v..v…Tuy nhiên vì không được mắt thấy tai nghe tận chỗ nên các bài viết chắc chắn sẽ có nhiều sai lầm, thiếu sót…mong thầy cô và các bạn thông cảm, mình chỉ mong được quý độc giả góp ý và chỉnh sửa, bổ sung thêm, đó là điều mình rất hoan nghinh và rất cảm ơn quý vị.

Bây giờ nói về địa danh Giang Thành và con sông Giang Thành. Ngay cả tên sông Giang Thành, hồi xưa mình cũng không có dùng, chỉ nói là sông Hà Tiên mà thôi,…con sông chảy ngay qua phố thị Hà Tiên mà không ngày nào là mình không nhìn thấy…Trước khi vào phần phát triển bài viết, mình cũng xin đính chánh là đây không phải là một bài khảo cứu khoa học có tính chất Địa Lý về địa danh Giang Thành, đây chỉ là những góp nhặt các tài liệu, các thông tin tuy phần lớn từ các nguồn đúng đắn và giá trị những cũng còn cần phải truy cứu, so sánh và kiểm tra lại dưới con mắt của quý độc giả, mục đich chỉ để phổ biến phần nào các kiến thức thông dụng trong chúng ta mà thôi, hoàn toàn không có tính chất cao cấp của một bài viết trong giới nghiên cứu.

A/ HUYỆN GIANG THÀNH:

Thời Pháp thuộc Giang Thành là một quận thuộc tỉnh Hà Tiên, tuy nhiên dần dần vì chiến tranh, dân cư thưa thớt, quận Giang Thành bị giải thể, tỉnh Hà Tiên cũng xuống bậc trở thành quận, Giang Thành lại thuộc về quận Hà Tiên. Cho đến năm 2009, Giang Thành được chính thức lập thành huyện, thuộc tỉnh Kiên Giang và có 5 xã như sau:

1/Phú Mỹ
2/ Phú Lợi
3/ Tân Khánh Hòa
4/ Vĩnh Điều
5/ Vĩnh Phú

1/ Xã Phú Mỹ: gần Hà Tiên nhất vì giáp với phường Đông Hồ, phường Tô Châu và xã Thuận Yên. xã Phú Mỹ gồm có các ấp: Kinh Mới, Rạch Dừa, Thuận Án, Trần Thệ, Trà Phô, Trà Phọt. (Như vậy khi đọc đến đây thầy cô và các bạn xác định được ngôi thứ của các từ Trà Phô, Phú Mỹ (Trà Phô là một ẤP thuộc xã Phú Mỹ và Phú Mỹ là một XÃ thuộc HUYỆN Giang Thành). Riêng danh từ « Trà Phọt » hồi xưa mình không nghe nói tới…

2/ Xã Phú Lợi: Giáp với xã Phú Mỹ về hướng nam, giáp biên giới Cambodge về hướng tây bắc,  gồm có các ấp: Cả Ngay, Cỏ Quen, Giồng Kè, Rạch Gỗ, Tà Teng (ta lại thấy xuất hiện từ « Tà Teng », đó là tên gọi một ấp cư dân cổ, người Khmer gọi là « Tà Teng », người Việt sau đó gọi là « Trà Tiên », Trà Tiên có thời là một xã nhưng sau đó lại trở thành ấp, tên hiện tại là « Tà Teng »).

3/ Xã Tân Khánh Hòa: Giáp với xã Phú Lợi về hướng tây nam, giáp biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Hòa Khánh, Khánh Hòa, Tân Thạnh, Tiên Khánh, (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tân Tiến và Khánh Tân, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào). Chính trong xã Tân Khánh Hòa nầy là chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau tại ấp Hòa Khánh. Địa danh « Đầm Chít » nằm trong xã Tân Khánh Hòa.

4/ Xã Vĩnh Điều: Giáp với xã Tân Khánh Hòa về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Cống Cả, Đồng Cừ, Nha Sáp, Vĩnh Lợi. (có tài liệu khác ghi thêm hai tên ấp: Tà Êm và Tràm Trổi, nhưng không biết là trùng tên với ấp nào).

5/ Xã Vĩnh Phú: Giáp với xã Vĩnh Điều về hướng tây, giáp với biên giới Cambodge về hướng bắc, gồm các ấp: Đồng Cơ, Mẹt Lung, Ấp Mới, Ấp T4, Ấp T5.

Trong lãnh thổ ba xã: Tân Khánh Hòa, Vĩnh Điều và Vĩnh Phú đều có con kênh Vĩnh Tế chạy qua.

Vị trí huyện Giang Thành và 5 xã:1/ Phú Mỹ, 2/ Phú Lợi, 3/ Tân Khánh Hòa, 4/ Vĩnh Điều và 5/ Vĩnh Phú.

B/ SÔNG GIANG THÀNH:

Nói đến tên sông Giang Thành ta thường nghe nhắc đến tựa bài thơ « Giang Thành dạ cổ » của nhà thơ Mạc Thiên Tích (là bài thứ tư trong 10 bài thơ « Hà Tiên Thập Vịnh »).  Chính từ bài thơ nầy ta hiểu là Mạc Thiên Tích đã đặt tên cho con sông là sông Giang Thành, trước đó người Khmer gọi con sông nầy là Prêk Ten. Sông Giang Thành bắt nguồn từ nước Cambodge, ở tỉnh Kampot (tỉnh Kampot rất rộng lớn), tại đây có hai nguồn nước chảy về phía sông Giang Thành Việt Nam.

1/ Ở hữu ngạn sông (tức phía bên phải của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là cao nguyên Banteay Meas, có một nhánh sông tên Touk Meas River, sông nầy chảy vào sông Prêk Tonhon Chas (tức là tên của sông Giang Thành phần còn trong lãnh vực của nước Cambodge hiện nay).

2/ Ở tả ngạn sông (tức phía bên trái của con sông tính từ đầu nguồn trở xuống) là khu có núi Linh Quỳnh (một cụm núi bên nước Cambodge), có một nhánh sông chảy vào phần sông sông Prêk Tonhon Chas.

Hai nhánh sông nầy cùng chảy vào sông Prêk Tonhon Chas và chảy vào khu vực nước Việt Nam, từ đây con sông mang tên là sông Giang Thành, toàn bộ khúc sông Giang Thành trên lãnh thổ Việt Nam dài 23 km và chảy ra cửa biển Hà Tiên sau khi đổ vào đầm Đông Hồ ở ngay Hà Tiên, tại đây chiều rộng cửa sông có trên 200 m.

Vào năm 1824 khi kênh Vĩnh Tế được hoàn thành dưới thời vua Minh Mạng, kênh Vĩnh Tế được nối liền với sông Giang Thành, chỗ giáp nối giữa kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành gọi là ngả ba Giang Thành, thuộc ấp Hòa Khánh, xã Tân Khánh Hòa. Trên lãnh thổ xã Tân Khánh Hòa của huyện Giang Thành, có một phần kênh Vĩnh Tế nằm rất sát biên giới, chạy từ ấp Khánh Hòa (Đầm Chít) về phía ấp Hòa Khánh để đổ vào sông Giang Thành, đoạn kênh nầy dài 5,4 km, và cặp rất sát biên giới, chỉ cách có 300 m. Còn khúc kênh Vĩnh Tế từ Đầm Chít trở đi về phía Châu Đốc thì con kênh cặp theo con đường Quốc lộ N1 chạy cho đến Nhà Bàng thuộc Châu Đốc, trên đoạn nầy con kênh Vĩnh Tế cách biên giới khoảng hơn 1 km.

Sông Giang Thành bắt nguồn từ hai nơi: cao nguyên Banteay Meas và khu núi Linh Quỳnh trong tỉnh Kampot, nước Cambodge. Kể từ năm 1824, sông Giang Thành có thêm một nguồn nước thứ ba là kênh Vĩnh Tế, kênh đổ vào sông tại điểm A. Đoạn kênh Vĩnh Tế AB là đoạn gần sát biên giới Cambodge-Việt Nam nhất, đoạn nầy dài 5,4 km và chỉ cách biên giới dưới 300m. Từ điểm B trở đi về phía phải hình (về phía Châu Đốc, kênh Vĩnh Tế cách hơi xa biên giới, khoảng trên 1 km và cặp theo con đường Quốc lộ N1.

C/ SÔNG GIANG THÀNH TRÊN ĐỊA PHẬN HÀ TIÊN:

Sông Giang Thành chảy vào địa phận Hà Tiên và trước khi đổ ra cửa biển, sông chảy ngay vào đầm Đông Hồ (một đầm nước mặn đã thành hình từ trên 6000 năm về trước…). Vì tính chất phù sa mỗi năm tụ động nên dòng sông Giang Thành ngay tại khúc trước khi vào Đông Hồ, khúc sông nầy thường có nhiều cồn cát. Ngày xưa người Pháp đóng cừ thành hai hàng để tạo lối di chuyển cho tàu bè trong thời gian nạo vét lòng sông, có chỗ cừ đóng không chắc, gặp dòng nước chảy mạnh nên cừ bị gảy, phần đất nạo vét bị cuốn trôi đi, còn phần đất nạo tụ lại có cây cỏ mọc lên thành vùng đất, người ta cất nhà tụ họp sinh sống ở đó, do đó vùng đất đó có tên « Cừ Đứt ». Vậy danh từ « Cừ Đứt » để chỉ tên một vùng đất trên sông Giang Thành mà thôi.

Sông Giang Thành từ phía bắc đổ vào đầm Đông Hồ, trong khoảng sông nầy có nhiều cồn cát và có một phần đất có tên là « Cừ Đứt ».

Sông Giang Thành góp phần rất lớn vào việc hình thành và phát triển thương cảng Hà Tiên từ thời Mạc Cửu cho đến đầu thế kỷ thứ 19, lúc đó cảng Hà Tiên mới bị suy thoái vì nhiều lý do. Trong những năm 20 của thế kỷ thứ 18, cảng Hà Tiên chẳng những đã được nhiều nước trong vùng biết đến, mà các thương nhân Âu Châu cũng biết tiếng thương cảng Hà Tiên. Trong thời gian đó hàng hóa xuất khẩu của Hà Tiên luôn bằng đường biển, xuất phát tại thương cảng Hà Tiên, gồm có các mặt hàng: muối, gạo, tổ ong, sáp ong, lông chim, gỗ, ngà voi,..v..v..

Tuy nhiên vào đầu thế kỷ thứ 19, Hà Tiên đi vào một giai đoạn khó khăn, cảng Hà Tiên bắt đầy suy tàn vì nhiều nguyên nhân:

  •  Sự tàn phá của chiến tranh: nhiều nhóm quân dân, hải tặc phản loạn gây chiến với họ Mạc: 1767, 1769, 1770, tuy nhiên Mạc Thiên Tích đều cầm quân dẹp tan các nhóm nầy. Tiếp đến sự dòm ngó của quân Xiêm mà trận tấn công năm 1771 đã tàn phá Hà Tiên nặng nề, thương cảng Hà Tiên trở nên bế tắc…Đến năm 1773 nhà Nguyễn giúp quân khôi phục lại Hà Tiên, tuy nhiên cảng Hà Tiên đã không còn phục hồi lại như xưa. năm 1777 quân Tây Sơn chiếm Hà Tiên và đã đánh tan quân Xiêm vào năm 1785 (trận Rạch Gầm – Xoài Mút). Tuy nhiên đến năm 1833 có giặc loạn Lê Văn Khôi chiếm Hà Tiên, rồi các năm 1842, 1845 quân Xiêm lại tấn công Hà Tiên, Sau các biến cô nầy Hà Tiên và thương cảng cũng bị tàn lụi theo không còn khả năng phục hồi như xưa.
  • Sự thay đổi về tình hình chánh trị kinh tế của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19: Mạc Thiên Tích mất tại Vọng cát (1780), Hà Tiên không còn thủ lãnh, trong khi đó Tây Sơn và nhà Nguyễn tranh chấp gây chiến tranh liên tục…Tiếp đến nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chánh sách « bế quan tỏa cảng », hạn chế việc ngoại thương, đến thời Minh Mạng thì triệt để ngăn cấm không cho các tàu buôn các nơi được cập bến cảng Hà Tiên, các biến cố nầy dần dần gây chấm dứt vai trò quan trọng của cảng Hà Tiên.
  • Sự thay đổi con đường thương mại đông tây: Từ xưa các nhà thương thuyền phương tây đã phát triển con đường thương mại hàng hải từ phương tây sang phương đông (thế kỷ 15 và 16). Tiếp đến các nhà buôn bán phương đông cũng dương buồm tiến qua trời tây (thế kỷ 17 và 18), trong bối cảnh đó thương cảng Hà Tiên trở nên phát triển tột độ. Tuy nhiên qua đầu thế kỷ 19, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, người ta không còn phụ thuộc vào những con đường đã vạch sẳn, các tàu lớn có khả năng vượt biển thật xa, không cần phải chạy theo ven biển, không cần ghé khu vịnh Thái Lan. Thêm các yếu tố chánh trị khiến cho đại đa số các tàu phương tây đều không được ghé bến các nước phương đông vì bị ngăn cấm hay vì sự quá dè dặt của triều đình nhà Nguyễn, nên các thương cảng sầm uất của phương đông dần dần biến mất, đó là một lý do khách quan mà thương cảng Hà Tiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề.

Nói tóm lại chúng ta là người Hà Tiên, ngày ngày đều nhìn ngắm con sông Giang Thành chảy lững lờ trước mặt, có mấy ai tự đặt vài câu hỏi con sông bắt nguồn từ đâu, nguồn nào cung cấp nước cho sông, tại sao có tên Giang Thành,…Cho đến bây giờ, đầu đã bắt đầu trắng, mình mới bỏ chút thời giờ tìm hiểu về quê hương đất nước, với vốn hiểu biết hạn hẹp, điều kiện thực tế lại không có, mình vẫn muốn cố gắng để biết được phần nào các câu trả lời các câu hỏi trên, tuy biết rằng sẽ có rất nhiều sai lầm, thiếu thốn nhưng mong sao cho bài viết được đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc tìm hiểu về quê hương mà thầy cô và các bạn muốn tìm đọc, mong tất cả vui lòng trợ giúp, góp ý để bài được chỉnh sửa, bổ sung đầy đủ và chính xác hơn nhé,.

Trần Văn Mãnh (Paris 09/10/2019)

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và đầm Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

«Không ảnh» (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh đầm Đông Hồ. Phần giữa dưới hình là núi Tiểu và Đại Tô Châu, hình vuông nhỏ màu vàng là trại Biệt Kích Tô Châu. Hình: Ken-Fillmore 1970-71

Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, kỳ trước mình có viết một bài về kỷ niệm thời học sinh đi học giờ thể dục với thầy Trịnh Học Ký vào sáng sớm, phải đi trên đường Bạch Đằng một bên có cây dừa ba ngọn đầy ma và một bên là nhà xác của bệnh viện Nguyễn Thần Hiến (xin mời xem lại bài theo link dưới đây)

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Hôm nay mình viết thêm một bài nữa cũng có liên quan đến nhà thương (bệnh viện Nguyễn Thần Hiến) Hà Tiên. Kỷ niệm thời học sinh với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tuy không nhiều, nhưng tất cả chúng ta người Hà Tiên ai cũng đều có ít nhiều chuyện liên quan đến nhà thương Hà Tiên. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến tọa lạc trên con đường Mạc Cửu, mặt chánh nhìn ra đường Mạc Cửu, đứng ngoài nhìn vào cổng bệnh viện thì bên trái là đường Mạc Công Du (đường hàng dương), bên phải là đường Bạch Đằng (đường hàng dừa), phía sau lưng bệnh viện giáp với trại lính (thành 18). Bệnh viện nầy là một trong hai đơn vị y tế công cộng của Hà Tiên, vì trên con đường Tham Tướng Sanh đi thẳng vào bệnh viện, phía bên phải con đường nầy còn có một đơn vị y tế nữa là « Nhà Bảo Sanh ». Nhà Bảo Sanh (hay « Viện Bảo Sanh » mình quên tên chánh thức ra sao rồi), là nơi mà hầu hết người Hà Tiên chúng ta sinh ra…Nhà Bảo Sanh mặt chánh nhìn ra đường Tham Tướng Sanh, mặt sau nhìn ra đường Bạch Đằng, bên ngoài nhìn vào thì bên phải giáp với ngôi vườn quán Ti La thầy Đạt và cũng giáp với Chi Thú Y phía sau, bên trái nhìn ra đường Mạc Cửu. phía sau mặt trái của nhà Bảo Sanh nầy cũng là nơi có cư xá cho người làm việc tại đây cư ngụ.

Cổng chính vào nhà thương (Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên) trên đường Mạc Cửu, trong góc phía sau bên phải nhà thương là nhà xác. (Hình: gia đình Nguyễn Như Sơn, 1958)

Trở lại kể chuyện về bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, mình nhớ hình như có ít nhất là một lần học sinh phải đến bệnh viện nầy để khám sức khỏe. Mình còn nhớ rỏ nơi khám sức khỏe, nầy nhé, khi đi vào bệnh viện, quẹo qua bên phải, lên vài bậc thang, đi vào phòng khám sức khỏe nằm bên tay trái. Ngoài ra toàn bộ nhà thương thì có ba nhóm nhà bố trí theo hình chử U. Nhóm nhà văn phòng bên phải dành cho Bác Sĩ và y tá làm việc, nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm ở giữa nhìn ra cổng chánh và nhóm nhà phòng chữa bệnh nằm bên trái. Người dân Hà Tiên và các vùng phụ cận (xóm Thạch Động, Cừ Đứt, Trà Phô,…) đều đến nhà thương nầy để xin thuốc và khám bệnh. Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên được xây cất vào năm nào mình không rỏ, nhưng ít nhất là phải trước năm 1956, vì theo tài liệu nghiên cứu thì vào khoảng năm 1956 có Bác Sĩ Phạm Như Bách là giám đốc bệnh viện và lúc đó bệnh viện được mang tên là bệnh viện Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ công ơn của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến, một người thầy tài cao học rộng không những trong lảnh vực văn thơ mà còn là một vị lương y chuẩn bệnh cho thuốc…(Ngoài ra ở ngay thành phố Hà Tiên còn có một con đường mang tên Nguyễn Thần Hiến nữa, con đường nầy nằm song song với đường Phương Thành, Nhật Tảo và Cầu Câu).

Vị trí đường Nguyễn Thần Hiến tại thị xả Hà Tiên

Kể chuyện liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến thì có chuyện về nhà xác của bệnh viện mà mình đã kể trong bài viết trước rồi (mời xem thêm bài trong link phía trên). Về bác sĩ Phạm Như Bách thì mình có một vài kỷ niệm. Kỷ niệm thứ nhất mình còn nhớ là khi bạn Quách Ngọc Sơn uống 10 viên thuốc Optalidon tính tự vận, được chở lên bệnh viện Hà Tiên, lúc đó bác sĩ Bách ra tay cứu bạn Sơn. Mình còn nhớ, tin vừa loan ra nhanh chóng, bạn bè cùng trường lớp ai cũng kéo nhau lên nhà thương xem. Trong nhóm có bạn Lý Cảnh Tiên nữa. Trong lúc bác sĩ Bách cho một ống cao su vào miệng của bạn Sơn, rồi cho bơm nước vào đầy bao tử mục đích để bạn Sơn ói mửa ra hết thuốc…Lúc đó cũng lạ, vì bệnh nhân (tức là bạn Quách Ngọc Sơn) được cho nằm trên một cái bàn rộng ở nhóm nhà văn phòng bên phải bệnh viện, không có đóng cửa gì cả, nên bạn bè người xem rất đông bên ngoài đều thấy cả. Mỗi lần nước cho bơm vào bao tử bạn Sơn, mọi người đều thấy Sơn oằn oại kêu la rất là tội nghiệp, các thức ăn và nước nhớt từ trong miệng trào ra làm ướt cả quần áo và lan lên trên đầu tóc của Sơn. Mình còn nhớ lúc đó bạn Lý Cảnh Tiên quay sang mình nói: » Thôi rồi hết cả mái tóc đẹp của em tôi rồi…!! »…

Nói về bạn Quách Ngọc Sơn, Sơn là con trai của ông bà Quách Ngọc Bá, nhà rất khá giả, thuở xưa nhà làm tiệm chụp hình, cho thuê bàn chơi billard,..Có một nhà làm ăn ở đường Trần Hầu kế tiệm cơm Xuân Thạnh và một nhà chánh để ở nằm ở Đông Hồ, góc đường Chi Lăng-Đông Hồ. Sơn có một em trai là Quách Ngọc Điền và nhiều em gái, trong đó có em tên Quách Ngọc Lâm. Sơn cũng có người chị gái tên Quách Ngọc Hải…Sơn là bạn thân của các bạn Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền,…Sơn học trên mình một lớp (chung lớp với anh Trần Văn Dõng).

Lần đầu tiên mình biết uống rượu là do Quách Ngọc Sơn hướng dẩn cho nhập môn!! Mình còn nhớ lúc đó bàn nhậu diển ra tại quán cafe Quảng Phát. Cả nhóm ngồi ngay tại cái bàn bên phải ngay trên mái hiên đối diện với quầy nước. (bàn nầy là một bàn quen thuộc hằng ngày khi cả nhóm uống cafe tại quán Quảng Phát). Mình cũng không biết tại sao mà mình bị « dính » vào hôm đó, nhớ lại là Sơn hay ai đó kêu mình vào nhập bàn, có cũng khoảng trên 4,5 người bạn, chắc là đa số là nhóm bạn cùng lớp với Sơn, có Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền…Rượu uống theo phong trào hồi đó là rượu trắng pha xá xị, thức ăn làm « mồi » lúc đó là « mực xào hồ » (theo tên đặt của Quách Ngọc Sơn), mực xào hồ vì mực được xào với bột nên nước sẽ đặt lại sền sệt như hồ vậy…Hôm đó là lần đầu tiên mình bắt đầu uống rượu vì từ trước tới giờ chưa biết uống rượu. Có lẻ uống và ăn cũng hơi nhiều nên khi về nhà mình leo lên giường nằm ngủ ngay…Mình còn nhớ rỏ, ngủ được một chút thì bị vừa nhức đầu (vì uống rượu trắng pha xá xị vừa ngọt của xá xị vừa cay của rượu), vừa bị muốn nôn mửa…Đùng một cái cả người mình đang nằm bị co rút lại và mình không kềm chế được cơn nôn mửa…, thức ăn và nước trong miệng chợt trào ra một cách nhanh chóng và bọc phát, làm ướt cả chiếc đệm mình đang nằm…Má mình rầy quá vì mình đã làm phiền má phải kéo cả tấm đệm ra và phải đem rửa nước cho sạch…Từ đó về sau mỗi lần gặp Quách Ngọc Sơn, bạn Sơn hay nhắc tới món « mực xào hồ »…và cũng từ đó tới sau mình biết uống rượu mặc dù uống thì thấy cay và nhức đầu chứ không biết vị ngon chút nào cả…Còn vụ bạn Sơn uống thuốc Optalidon tính tự vận thì không ai biết lý do, chỉ biết phong phanh là Sơn có chuyện buồn gia đình nên làm như vậy…không biết có phải không. Sau nầy lúc mình đã ra đời đi dạy học ở An Phú và Mỹ Luông, có lần về Hà Tiên thăm nhà, tình cờ đi ngang quán Xuân Thạnh lại gặp bạn Sơn, Sơn chạy ra kêu mình vào quán và cả hai cũng lai rai uống mừng gặp lại nhau…Khổ thay vì có bệnh nặng nên bạn Sơn đã từ trần, từ giả chúng ta rất sớm, ra đi trong lúc tuổi còn trẻ. Mình được biết bạn Sơn đã có gia đình một người vợ và ba người con….Mình cũng còn nhớ rỏ là lúc đương thời Sơn ăn mặc rất theo mode vì nhà có phương tiện, và Sơn cũng rất « ái mộ » hai người bạn gái học cùng trường thời đó và đều mang tên là Nguyệt…!!!

Chân dung bạn Quách Ngọc Sơn

Một kỷ niệm khác với bác sĩ Phạm Như Bách, bác sĩ Bách là một người rất thông thái và rất đẹp trai, ông cũng là một bác sĩ đã quản lý bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trong một thời gian rất lâu dài. Người Hà Tiên hình như ai cũng đều biết bác sĩ Bách. Có một buổi chiều nọ mình và người bạn rất thân cùng lớp là Nguyễn Ngọc Thanh cùng đang đi ra phía chợ trên đường Tham Tướng Sanh, gần tới phía trước quán Ti La thầy Đạt, thì bác sĩ Bách đang chạy chiếc xe jeep của bệnh viện tới, bác sĩ chắc là biết Nguyễn Ngọc Thanh nên mời mình và Thanh lên xe để ông chở luôn ra chợ chơi. Cùng lúc đó thì có một cô có lẻ cũng là bác sĩ người Thụy Sĩ đang đi tới, bác sĩ Bách liền xổ ra một tràng tiếng Pháp mời cô đó cùng lên xe đi chung luôn với mình và Thanh,….cô người Thụy Sĩ cũng rất vui vẻ nói chuyện với bác sĩ Bách… chỉ tiếc lúc đó mình còn nhát quá và có lẻ còn yếu tiếng Pháp nên không nói được gì với cô người Thụy Sĩ đó. (Vào thời đó khoảng những năm 60-70, có một phái đoàn y tế người Thụy Sĩ đến họp tác với bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, có đến 3,4 người nữ trong nhóm…và cả nhóm người Thụy Sĩ nầy cư trú tại khách sạn Vân Tiên ở đường Trần Hầu.

Bênh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng năm 1965 có phái đoàn y tế Thụy Sĩ đến họp tác

Còn một việc có liên quan đến bệnh viện Nguyễn Thần Hiến nữa là vào khoảng những năm đầu thập niên 70, có hai người cán sự y tế từ nơi khác đổi về làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, vì là người trẻ tuổi nên hai bạn nầy cũng gia nhập vào nhóm bạn học trò trung học Hà Tiên, mình thường đi chơi chung với hai người cán sự y tế nầy. Một người tên là Nguyễn Thành Tài (Tài có tặng cho mình một tấm ảnh chân dung của Tài), còn người kia thì mình quên tên rồi…)

Bìa một bức thư với thủ bút của Bác Sĩ Phạm Như Bách.

Nguyễn Thành Tài một trong hai người cán sự y tế đến làm việc tại bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên khoảng đầu thập niên 1970

Bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên vẫn còn ở chổ cũ nhưng đã đổi tên sau 1975 (Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên)

Những năm sau 1975, bệnh viện Nguyễn Thần Hiến vẫn còn tiếp tục hoạt động nhưng không còn mang tên Nguyễn Thần Hiến mà có tên mới là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau nầy có lẻ vì nhu cầu phục vụ sức khỏe y tế công cộng tăng lên vì dân số ở Hà Tiên tăng vọt lên nhiều nên chính quyền địa phương đã xây cất một bệnh viện lớn hơn, đặt tên là Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên, bắt đầu xây vào năm 2004 và làm lể khánh thành bệnh viện mới nầy vào ngày 08/09/2011. Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên mới nầy tọa lạc trên phường Tô Châu ở bên kia sông (số 65 đường Cách Mạng Tháng 8, khu phố III, phường Tô Châu, Hà Tiên).

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên ngày nay (tọa lạc bên kia sông bến Tô Châu)

Vị trí bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên (xưa) và bệnh viện Đa Khoa Hà Tiên (nay)

Ngày nay toàn bộ hai đơn vị y tế của Hà Tiên ngày xưa: bệnh viện Nguyễn Thần Hiến và « Nhà bảo sanh » đều đã bị phá hủy, ngay cả phía sau lưng, trại lính thành 18 cũng biến mất, và phía trước, vườn nhà ông Ba Lón kéo dài cho tới các căn nhà ở giữa hai bên đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt cũng đã biến mất,…nhường chổ cho một công viên mới đẹp, góp phần cho khuôn mặt thị xả Hà Tiên thêm tươi đẹp, rộng lớn và tân tiến,…Tuy nhiên đối với những người con thực sự của Hà Tiên như thầy cô trò chúng ta, ngôi bệnh viện, nhà Bảo Sanh,…tất cả đều vẫn còn rất quen thuộc trong ký ức của chúng ta, dù cho vật chất có biến đi, vật đổi sao dời, nhưng trong lòng của chúng ta vẫn còn giữ lại hình ảnh công thự, nhà cửa của Hà Tiên ngày xưa, âu cũng là một phương cách để duy trì và tưởng nhớ một Hà Tiên mến yêu êm đềm của ngày xưa…Hy vọng rằng bài viết mộc mạc, không cầu kỳ nầy giúp thầy cô và các bạn của ngôi trường Trung Học Hà Tiên xưa tìm lại một chút khung trời kỷ niệm của mình và nhớ mãi chuyện vui buồn ngày xưa đã trải qua…

Trần Văn Mãnh (Paris 24/07/2017)

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Nguyễn Như Thạch, Nguyễn Như Sơn, PhungAnhKiet, Đỗ Hữu Trí.

Tái bút:

1/ Cám ơn bạn cùng lớp Hà Mỹ Oanh đã bổ túc thêm chi tiết về bạn Quách Ngọc Sơn, rất cám ơn cháu Đỗ Hữu Trí đã chia sẻ cho mình di ảnh của người bạn năm xưa là Quách Ngọc Sơn nên mình có được bức ảnh của bạn để minh họa thêm cho bài viết và cũng để tưởng nhớ một người bạn năm xưa, đã ra đi vào ngày 23/09/1987 vì một căn bệnh.

2/ Theo thông tin của chị Dương Hồng Châu (Hà Tiên) thì Bác Sĩ Phạm Như Bách giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên ngày xưa đã từ trần lúc 0 giờ 12 phút ngày 03/03/2018 tại tư gia phường Tân Định Saigon. Bác Sĩ Bách là một vị Bác sĩ rất tài năng và rất tận tâm, ông theo chuyên ngành Nhãn Khoa và được đào tạo tại Đại Học Y Khoa Cologne, nước Đức. Ông là người có dáng rất đẹp, đềm đạm. Bác Sĩ Bách là người BS đầu tiên và đã có công phát triển Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. Tuy mình không có liên hệ nhiều với ông nhưng mình cũng đã có nhiều dịp tiếp xúc nói chuyện với ông lúc mình còn là học sinh ở Hà Tiên. Bác sĩ Bách ra đi là đã mang theo ông một dĩ vãng tốt đẹp, êm đềm của thời gian ông phục vụ ở Hà Tiên, mong tất cả các bạn, các đồng hương hãy tưởng nhớ đến ông trong một giây phút để tỏ lòng mang ơn một vị Bác Sĩ tài ba đã có lần phục vụ cho quê hương Hà Tiên chúng ta. Xin cám ơn chị Dương Hồng Châu đã thông tin.