Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)

Publicités

Giới thiệu Lê Văn Đông

Thầy cô và các bạn thân mến, khi đọc thấy tên Lê Văn Đông, chắc thầy cô và các bạn ít có vị nào biết đến người học sinh nầy. Thật vậy, bạn Lê Văn Đông, trước hết không phải là người Hà Tiên, cũng không phải là học sinh lâu năm ở ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lê Văn Đông chỉ là người thoáng qua ở miền đất thơ mộng Hà Tiên chỉ nhiều nhất là có một năm ngắn ngủi…Bạn Lê Văn Đông vào học chung lớp với mình vào niên khóa 1967-1968, lúc đó là lớp Đệ Tứ (lớp 9 hiện nay). Trong lớp mình có một vài người bạn chắc chắn là còn nhớ đến bạn Lê Văn Đông: Trương Thái Minh chắc còn nhớ bạn Đông, ngoài ra còn có hai bạn ngày nay đã qua đời là Lý Mạnh Thường và Nguyễn Ngọc Thanh cũng biết nhiều và thường chơi chung một nhóm với mình và với bạn Lê Văn Đông.

Tuy nhiên nếu là người kỳ cựu Hà Tiên, ta sẽ không xa lạ với nguồn gốc của bạn Lê Văn Đông. Bạn Lê Văn Đông người Hồng Ngự (Châu Đốc) sở dĩ bạn Đông vào Hà Tiên học bậc Trung Học là vì bạn Đông theo người chị của mình vào sống ở Hà Tiên. Người chị của bạn Đông chính là người vợ của đại úy Lê Văn Thơ mà nếu người Hà Tiên như chúng ta, không ai là không biết đại úy Thơ…!!

Xin nói thêm về đại úy Lê Văn Thơ: Lúc ban đầu, ông Lê Văn Thơ là một cấp chỉ huy một đoàn quân lính địa phương ở Thuận Yên, Hà Tiên, sau đó được chánh phủ đồng hóa vào quân đội với cấp bậc thiếu úy, cấp bậc cuối cùng là đại úy. Đại úy Lê Văn Thơ người khá đẹp trai, rất hào hoa và giao thiệp rộng, người Hà Tiên ai cũng biết đại úy Thơ, ông cũng lấy hiệu là Mộng Hoàng Thơ, và còn có biệt danh là « Út Tô Châu »). Lúc đó vào khoảng những năm 1967, 1968, gia đình đại úy Thơ gồm có vợ và con nhỏ sống trong căn biệt thự ngày xưa của ông Bầy, căn biệt thự ở trên con đường Bạch Đằng, đối diện ngay trước nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt, (anh là Trần Tuấn Khanh, chị là Trần Thị Thu Oanh, em là Trần Tuấn Khải…). Vì thế khi bạn Lê Văn Đông theo người chị của mình tức là vợ của đại úy Thơ vào Hà Tiên thì bạn Đông cũng ở trong căn biệt thự nầy, và như thế bạn Đông lại trở thành người láng giềng với mình, vì nhà mình cũng xéo xéo nhìn qua căn biệt thự của gia đình đại úy Thơ mướn ở. Thêm nữa là bạn Lê Văn Đông cũng vào học ngay trong lớp mình nên mình và bạn Đông trở thành bạn thân trong thời kỳ nầy.

Nói thêm về căn biệt thự của ông Bầy trên đường Bạch Đằng: Tất cả những người sinh sống hai bên đường Bạch Đằng đều biết căn biết thự nỗi tiếng nầy. Ở Hà Tiên ít có người biết ông Bầy ra sao, chỉ nghe nói tên ông là ông Bầy (mà cũng chưa chính xác lắm nữa), nghe nói ông là người Việt nhưng xưa sinh sống ở bên Nam Vang. Ông cho xây cất một căn biệt thự khá xinh đẹp ở Hà Tiên, ngay đường Bạch Đằng, sau khi xây cất xong, hình như có việc gì không may mắn nên ông không vào ở, căn biệt thự bị bỏ trống nhiều thời gian sau đó. Người ta đồn căn biệt thự có ma, hồi đó con nít như mình ai cũng sợ căn biệt thự nầy, chỉ ở ngoài nhìn vào nhưng không dám phiêu lưu đi sâu vào phía bên trong, mặc dù nhiều khi người ta bỏ cữa trống ai vào cũng được…Thời đó người ta giao căn biệt thự nầy cho người quen của Ông Bầy là Ông Ký Cụi chăm sóc (ông ngoại của bạn Phạm Thị Kim Loan học chung lớp với bạn Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên,…). Theo như lời kể lại của bạn Nguyễn Thị Điệp là bạn thân với Phạm Thị Kim Loan: « Dưới nhà chú Hai Bầy là hầm nước mưa, trên sân thượng có một cái hồ lớn. Mỗi lần hạn hán ông ngoại Kim Loan, bác Tư Ký đến mở cửa cho người ta đổi nước mưa và sau những trận mưa to bác đến để xả nước hồ trên sân thượng vì bác giữ nhà dùm cho chú Hai. Những lần đó mình được Kim Loan rũ đi theo chơi nên mình lại nhà chú Hai rất thường ».

Một thời gian sau, trong những năm đầu thập niên 1960, có quý thầy dạy trường Trung Học Hà Tiên mướn căn biệt thự nầy để ở, lúc đó có thầy Võ Thành Tường, Võ Thành Tài,…và có một anh học trò lúc đó, nhưng cũng ở chung với quý thầy, anh tên là Hồ Hải, người cao thon, rất đẹp trai và đặc biệt là anh Hồ Hải chơi đàn guitare rất hay. Lúc đó mình còn học lớp Tiếp Liên ở bậc Tiểu Học, anh Trần Văn Dõng vừa thi đậu lên lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Có một thời gian ngắn người ta tổ chức « văn nghệ » và có bán nước uống trong căn biệt thự đó, ban tổ chức cũng là do quý thầy ở trong đó, và có anh Bảy Kế lúc đó làm ở Chi Thông Tin Hà Tiên tham dự vào. Mình còn nhớ rỏ là ban tổ chức có thông báo « mỗi chai nước ngọt tăng thêm 2 đồng » vì có văn nghệ giúp vui, anh Hồ Hải là một trong những người phụ trách ban nhạc trong đó, ca sĩ thì lúc đó có các anh Tùng Phương, Hoàng Tùng, Tùng An,…quý anh ca rất hay, nỗi tiếng một thời ở Hà Tiên..Ngoài ra trong những ngày bình thường, vào ban đêm, vì nhà mình ở ngay gần căn biệt thự đó nên đêm nào cũng nghe anh Hồ Hải chơi đàn guitare điện, ban đêm nghe tiếng đàn rất hay, nhất là anh thường đàn bài « Hàn Mặc Tử »…Trong thời gian quý thầy và anh Hồ Hải ở trong căn biệt thự nầy, các anh học trò ngày xưa thường đến đó chơi với quý thầy…Anh Hồ Hải tên thật là Nguyễn Hồ Hải, đàn hay nỗi tiếng khắp trường Hà Tiên, ngày xưa mình cũng rất ngưỡng mộ tài năng và tính chất hào hoa, lãng tử của anh Hồ Hải. Anh Hồ Hải cũng là một học sinh của TrườngTrung Học Hà Tiên thời đó, lúc đó anh học lớp Đệ Tứ. sau nầy anh Hồ Hải đã mất vào lúc 52 tuổi (24/10/1997), hiện ngôi mộ của anh cũng còn ở Hà Tiên, gần ngôi mộ của Bà Cô Năm.

Một thời gian sau, không biết lý do gì, quý thầy rời khỏi căn biệt thự nầy, không có ai ở trong đó nữa. Đến sau đó có phong trào cố vấn người Mỹ đến Hà Tiên đóng quân, người ta mướn căn biệt thự nầy cho các cố vấn Mỹ ở. Lúc đó mình còn nhỏ, thường theo nhóm con nít lối xóm tụ đến để xem người Mỹ…, mấy anh lớn tuổi hơn một chút thì mạnh miệng xin kẹo Chewing-gum hoặc các lon nước ngọt đóng hộp…Thường khi vào buổi tối, người Mỹ thường giải trí bằng việc chiếu phim trong căn biệt thự nầy cho đoàn người của họ xem, vì người dân lối xóm và ở khu chợ Hà Tiên cũng thường đến xem « ké » từ phía ngoài nhìn vào, nên sau đó người Mỹ đem ra ngoài, căng màn ảnh trắng dài phía bên căn nhà của bạn Trần Tuấn Kiệt và chiếu phim tuồng hình ảnh màu cho bà con lối xóm xem luôn, thường thì phim rất hay, mình còn nhớ có chiếu phim Tarzan nữa…

Sau khi người Mỹ rút đi không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa, căn biệt thự lại cũng bỏ trống một thời gian, sau đó thì đến phiên gia đình đại úy Lê văn Thơ mướn ở như đã kể phía trên. Đến lúc nầy, mình đang học lớp Đệ Tứ, có người bạn mới vào học chung là bạn Lê Văn Đông, em vợ của đại úy Thơ, vì cùng học chung một lớp và lại ở gần nhau nên mình và Đông trở thành hai người bạn thân. Từ đó mình thường qua chơi với bạn Đông trong căn biệt thự nầy, lúc nầy mình mới có dịp đi tới lui, đủ các góc, các phòng của căn biệt thự nầy để quan sát, và vì lúc nầy cũng đã 15, 16 tuổi rồi nên cũng bớt sợ căn biệt thự nầy, vả lại vì đã có người vào ở nhộn nhịp nên căn biệt thự cũng bớt vẻ huyền bí như hồi xưa.

Căn biệt thự có hai cánh cửa cổng màu xanh dương đang mở ra (có đánh dấu màu vàng) chính là căn biệt thự ngày xưa gia đình đại úy Lê Văn Thơ mướn ở một thời gian. Nhà có cửa sắt màu xanh dương đang đóng là nhà của gia đình ông Minh Thái Phong (con trai là các bạn Trương Kim Ô và Trương Kim Huỳnh). Căn nhà màu xanh lá cây bên trái hình là nhà của gia đình bạn Tạ Văn Thái (cũng là gia đình bên phu nhân của bạn Lý Cảnh Tiên). Hình: TVM, 2012

Căn biệt thự nói đến trong bài viết trên đuòng Bạch Đằng Hà Tiên (có đánh dấu màu vàng). Hình: TVM, 2012

Vậy là trong năm học lớp Đệ Tứ (niên khóa 1967-1968), ngoài các bạn thân thường trực như Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Trương Thái Minh, Nguyễn Văn Tài,…mình cũng thường chơi thân với bạn Lê Văn Đông mới gia nhập vào lớp. Ngoài ra trong thời gian nầy còn có thêm một người bạn nữa cũng mới gia nhập vào lớp, đó là bạn Lâm Hoàng Nhi con của ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên tên là Lâm Chư Tán (theo thông tin của bạn Trương Thanh Hùng). Lúc đó có bộ ba Trần Văn Mãnh, Lê Văn Đông, Lâm Hoàng Nhi thường chơi thân với nhau, chơi thân đến độ cả ba rũ nhau vào tiệm chụp hình Đức Quang để chụp hình lưu niệm vì bạn Đông và Nhi cũng linh cảm sẽ có ngày xa nhau vì hai bạn không phải là người dân kỳ cựu của Hà Tiên. Nói đến vụ chụp hình nầy rất vui, không biết cái nón kết, cái kiếng mát đen và chiếc áo sơ mi sọc đỏ đen là của ai, mình quên mất rồi, nhưng khi vào tiệm Đức Quang chụp hình thì lần lượt ba người Mãnh, Đông và Nhi đều lần lượt đội kết, mang kiếng và mặc áo sơ mi sọc nầy để chụp hình chân dung.

Ba người bạn thân thời đó, từ trái sang phải: Lâm Hoàng Nhi (con ông Trưởng Chi Cảnh Sát Hà Tiên Lâm Chư Tán thời đó), giữa là bạn Lê Văn Đông (em vợ đại úy Lê Văn Thơ), bên phải là Trần Văn Mãnh, bạn đọc thông cảm nhé, vì thời xưa còn nhỏ, khoảng 15, 16 tuổi và lại là học trò nên đâu có mang giày tây chỉ mang dép đơn sơ thôi…Hình: TVM 1967

Lâm Hoàng Nhi, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Lê Văn Đông, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trần Văn Mãnh, học sinh Trung Học Hà Tiên, Đệ Tứ niên khóa 1967-1968

Trong thời gian nầy, còn có một người bạn khác tên là Trần Văn Minh (có biệt hiệu là Minh Còi vì bạn nầy hơi gầy và tướng đi hơi cong lưng), Minh là con của ông Thiếu Tá Hoa Quận Trưởng Hà Tiên lúc đó. Minh cũng nhập vào lớp Đệ Tứ cùng lớp với mình và hai bạn Nhi và Đông. Tuy Minh đang ở tuổi học trò, nhưng anh ta lại cũng rất thích uống chút rượu đế, thỉnh thoảng Minh xách chai không đi mua một xị rượu đế và rũ mấy anh lính Dân Vệ đang gát dinh Quận Trưởng cùng uống với Minh. Trong thời gian Minh học cùng lớp, mình cũng có dịp cùng nhóm bạn lên dinh Quận Trưởng nơi Minh ở với gia đinh, để chơi với Minh…

Nói về kỷ niệm với Lâm Hoàng Nhi, con ông Cảnh Sát Trưởng Hà Tiên thời đó. Nhi có một người anh trai lớn, rất phong độ, và có một người chị khá đẹp, và Nhi còn có các em nhỏ  nữa, gia đình khá đông anh em.  Thời đó, bạn Nhi có một chiếc xe Honda đời 67, thường chạy đến nhà mình để chở mình đi chơi những buổi chiều. Có một hôm, Nhi chạy xe đến nhà rũ mình lên Chi Cảnh Sát để chơi đàn guitare giao lưu với mấy người thanh niên đang bị Cảnh Sát Hà Tiên tạm bắt giữ lại…Lý do là nhóm thanh niên trẻ nầy (vốn người Việt gốc Hoa, cũng trạc tuổi mình và bạn Nhi), nhóm nầy đang tìm đường xuống Hà Tiên và muốn qua bên kia biên giới Việt-Kampuchia, vì thế bị Cảnh Sát Hà Tiên bắt giữ lại vì bị tình nghi là muốn đi sang nước Kampuchia không giấy phép. Vì đều là trạc tuổi với nhau, nên bạn Nhi làm quen với nhóm thanh niên nầy và biết được là họ cũng có chơi nhạc, chơi đàn, ca hát nên Nhi chạy xuống nhà mình rũ mình đem đàn lên chơi chung với nhau cho vui. Nhi chở mình đến Chi Cảnh Sát Hà Tiên, ở góc đường Mạc Cửu – Tô Châu, vào nhập cả nhóm, ngồi chơi trên mặt bằng của cái bồn nước lớn hình tròn trong khu vực Chi Cảnh Sát. Các bạn đó cũng rất vui vẻ, tuy trong tình trạng như là bị bắt giữ nhưng cũng không có vẻ gì sợ, giới thiệu tên tuổi lẫn nhau, các bạn đó là người ở Mỹ Tho, người Việt gốc Hoa, có nhà, có tiệm buôn bán chung quanh chợ Mỹ Tho. Cả nhóm cùng nhau đàn qua, đàn lại, ca hát rất vui, có bạn đàn độc tấu bài « The house of the rising sun » rất hay, thời đó tuổi trẻ như mình rất mê bài nầy, nhất là khi nghe tiếng đàn guitare điện chạy hợp âm bài nầy…Một hai ngày sau, Chi Cảnh Sát Hà Tiên trả tự do cho các bạn trẻ nầy và cho phép họ trở về quê Mỹ Tho.

Trong thời gian gia đình đại úy Lê Văn Thơ ở trong căn biệt thự đường Bạch Đằng, đại úy Thơ cũng rất ủng hộ các hoạt động văn nghệ do các học sinh Trường Trung Học Hà Tiên phụ trách, nhất là đối với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương » của nhóm mình, trong đó có Lê Công Hưởng là trưởng ban, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Đình Nguyên và nhiều bạn gái của các lớp sau lớp mình tham gia các tiết mục ca hát. Trước đó ban nhạc thường hát trực tiếp mỗi chiều thứ bảy hàng tuần ngay tại trụ sở Chi Thông Tin Hà Tiên ở đầu đường Bạch Đằng – Mạc Tử Hoàng. Sau đó nhờ có đại úy Thơ giúp cho một máy thâu băng nên cả ban nhạc thường tập dợt trước và thâu âm cả chương trình ca nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường và sau đó đến thứ bảy thì cho phát ra trên đài phát thanh Quận Hà Tiên, cả nhóm có điều kiện cùng nhau ngồi ở Đài Kỷ Niệm nghe chương trình của mình phát ra trên các loa ở khắp các nẻo đường phố Hà Tiên…

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên đại úy Thơ có nhiều quan hệ với các quân nhân chơi nhạc ở trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô, người thứ nhì tên là Nhựt, trung sĩ Nhựt.  Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập khi thì tại biệt thự đại úy Thơ ở, khi thì tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca, từ đó mình cũng quen dần với cách chơi theo nhịp điệu Boston 3/4.

Ngôi biệt thự của ông Bầy có một căn trệt rất rộng lớn, thường là chỗ bạn bè, khách khứa và học trò tụ tập đến đó để chơi nhạc, ca hát. Phía trên có một tầng lầu và nhiều phòng, phía ngoài có hành lang rất thoải mái, trên cùng là một nóc bằng rất rộng. Mình còn nhớ lúc đó có phong trào học võ Karaté do thầy Bùi Hữu Trí dạy thêm cho học trò Trung Học Hà Tiên, ai muốn học thì cứ theo học. Lúc đó mình cũng có theo học môn võ nầy, và vì tuổi trẻ hay hăng máu và thích những hình ảnh hào hùng nên mình cùng với bạn Lê Văn Đông, hai bạn đem áo tập võ lên sân thượng của biệt thự bạn Đông ở, mỗi bạn lần lượt mặc áo võ , thắt dây lưng vào (lúc đó chỉ là đai trắng thôi chưa có đai màu nào cả…) và nhảy lên đá theo thế « đá bay » và bạn kia thì canh để chụp hình lúc đang nhảy lên cao…Rất tiếc là không biết các bức ảnh đó lưu lạc về đâu rồi thật là uổng quá…

Tuy nhiên chúng ta vẫn còn nhớ rằng vào thời đó vẫn là thời chiến tranh, tuy không diễn ra ngay tại quận lỵ nhưng chiến tranh có mặt thường xuyên ở vùng biên giới, vùng núi Đá Dựng, Trà Phô, Phú Mỹ…v…v…Hằng đêm ta cũng có nghe tiếng súng do hai bên « đụng độ » đâu đó đủ gần để người Hà Tiên vẫn nghe được tiếng súng nổ…Lúc đó đại úy Thơ là Đại Đội Trưởng đại đội 790 Địa Phương Quân. Trong đêm 24/06/1968 Đại úy Thơ đã bị tử trận, lúc đó đại úy Thơ mới có 32 tuổi. Sau đợt đó, có vài người lính thân tín của đại úy Thơ cũng nóng lòng muốn vượt nguy hiểm để đi lên tại chỗ để lấy thi thể đại úy Thơ về, những người nầy cũng bị tử trận luôn. Cuối cùng sau khi làm đám tang cho đại úy Thơ xong xuôi, gia đinh của Ông Thơ cũng đem ông về chôn cất ở vùng Hồng Ngự Châu Đốc, và toàn thể gia đình gồm vợ, con và người em là bạn Lê Văn Đông cũng từ giả Hà Tiên, từ giả bạn bè trường lớp để cùng về Hồng Ngự, không còn theo học ở Trung Học Hà Tiên nữa, mình mất đi một người bạn thân, từ đó về sau, cho đến tận bây giờ, mình và các bạn học cùng lớp, không ai biết được tin tức của bạn Lê Văn Đông nữa.

Đại úy Lê Văn Thơ, hình chụp tại Hà Tiên. Hình: Xuân Phú

Còn về căn biệt thự của Ông Bầy thì sau một thời gian để trống không ai ở, đến khoảng năm 1969 có bộ chỉ huy của Duyên Đoàn Hải Quân mướn để ở trong đó, trong ban chỉ huy nầy lúc đó có một ông Thiếu Tá tên là Thao ở trong đó, các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan cùng tháp tùng bộ chỉ huy ở trong căn biệt thự nầy thì có một anh tên Liêm sau nầy là chồng của bạn Thu Oanh, nhà đối diện căn biệt thự bên kia dduongf Bạch Đằng (Thu oanh là bạn học chung lớp với mình ở bậc Trung Học Hà Tiên). Đến khoảng sau năm 1973 thì họ không còn ở trong căn biệt thự nầy nữa. Một thời gian sau có gia đình của ông Triều Quang (nhà máy nước đá Triều Quang ở đường Chi Lăng) đã mua trọn cả cái biệt thự đó, đã sửa sang lại tốt đẹp và cả gia đình ở trong căn biệt thự đó, làm cho căn biệt thự nầy như hồi sinh lại, không khí sinh hoạt vui nhộn và rất tốt đẹp cho cả khu phố gần đó.

Thời xưa, cách chụp hình chân dung và ghép vào bìa một bản nhạc rất thịnh hành. Bạn Lê Văn Đông và nhạc phẩm « Giọt Buồn Quê Hương ». (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chữ viết của bạn Lê Văn Đông, viết tặng mình sau các bức ảnh chân dung. (1968)

Chân dung bạn Lê Văn Đông, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

Chân dung bạn Lâm Hoàng Nhi, bạn học chung lớp với mình tại Trường Trung Học Hà Tiên (1967-1968)

 

TVM (29/03/2019)

Tái bút: Được tin thầy Lê Quang Khanh, sau khi đọc bài viết nầy có cho thêm một chi tiết quan trọng là, thầy có liên lạc với người con của đại úy Lê Văn Thơ và được biết là bạn Lê Văn Đông đã mất từ lâu rồi, thật là một tin buồn vì như vậy là chúng ta đã hoàn toàn xa cách bạn Đông không còn dịp gặp lại nữa. Bạn Lê Văn Đông có lập gia đình và có một người con trai duy nhất tên là Lê Hùng.

Bạn Lê Văn Đông sau khi rời trường Trung Học Hà Tiên một thời gian, sau đó bạn gia nhập vào Hải Quân Việt Nam. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông học tập tại quân trường. (Hình: Xuân Phú)

Bạn Lê Văn Đông phục vụ trên chiếc tàu Hải Quân 802. (Hình: Xuân Phú)

Tác giả chân thành cám ơn quý anh chị, các bạn Lê Phước Dương, Trịnh Ngọc Lệ, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Thị Điệp, Trương Thanh Hùng, con gái đại úy Lê Văn Thơ là Xuân Phú và thầy Lê Quang Khanh đã giúp rất nhiều trong các chi tiết viết trong bài.

 

 

 

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Thầy Nguyễn Văn Nén (Lê Phước Dương)

Viết về thầy xưa Nguyễn Văn Nén, giáo sư đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên

(Viết về thầy, nếu có gì không phải xin thầy lượng thứ !!)

Mùa mưa năm 1979, buổi sáng hôm đó mình và thằng em bạn dì Đỗ Hoàng Lộc cùng đi trên con đường mòn ra phía ruộng mương phèn bên núi Giếng Tượng, trên vai mỗi thằng vác vài tay lưới cá rô, đang đi bỗng Lộc lên tiếng:

     – Dáng ai mờ mờ qua màng mưa phía trước thấy quen quen  vậy anh Ba! (mình vai anh và là thứ ba)

     – Ừ anh cũng thấy quen quá.

Khi đến gần nhìn rỏ mình chợt thảng thốt kêu lên:

    – Thầy!

Người đàn ông dáng lưng hơi còng, nhỏ con, thấp người, ngước mặt nhìn lên và hỏi:

     – Trời mưa gió vầy mà hai em đi đâu đây?

Thì ra đó là thầy Nén, thầy Nguyễn Văn Nén đây mà.

     –  Dạ thầy, hai thằng em đi giăng lưới, còn thầy?

     – Thầy đi cắm câu em ơi.

Trò đi giăng lưới thầy đi cắm câu. Mưa rát mặt ba người, không biết sao mà nước mưa ướt mặt riêng em lại cảm thấy có vị mằn mặn thầy ơi, mình tự nghĩ.

Không biết thầy Nén về Hà Tiên dạy từ năm nào mà lần đó lúc mình học lớp Ba với thầy Hứa Văn Vàng, mình được thầy Vàng sai tới nhà của thầy ở (lúc đó thầy Nén còn ở nơi dãy nhà phía trước cổng trường Trung Học Hà Tiên), đến đó bảo rằng chiều đó thầy Vàng mời thầy đến xem trận đấu quần vợt tại sân cây duối do Đại úy Lê Quang Tuyên, quận trưởng Hà Tiên lúc đó, tổ chức.

Vốn dĩ với chín tháng quân trường đã rèn giũa thầy nên thầy áp dụng tính kỷ luật đó và đã giúp cho những năm thầy đảm trách chức vụ hiệu trưởng đi vào nề niếp hơn. Những cái tên học trò:

  • Vũ, con Đại úy Hoa
  • Hùng, con ông Chánh
  • Dũng, con cảnh sát trưởng Cao
  • và những học sinh cá biệt phải dè chừng…tất cả học trò đó thầy có cách rèn luyện được cả.

Có lẻ mình và Nguyễn Kim Tuyến là hai đứa học trò có vị trí tốt nhất trong trái tim của thầy, luôn được trìu mến, luôn được ngọt ngào với những lời dạy bảo, chỉ dẫn của thầy…

Ngày gần đi qua Rạch Giá để thi Tú tài 1, thầy bảo hai đứa đến nhà, ngồi ở băng ghế cạnh bồn nước dưới gốc cây mận già, thầy hái một rổ mận ngon, pha một chén muối tiêu bột ngọt…Thầy vừa cắt và đưa cho hai đứa từng miếng mận chấm muối tiêu ăn, vừa dặn dò khi đi thi cử, phải cẩn trọng từ tốn, cẩn thận không vội vàng. Thầy nói làm bài thi cũng như ngồi ăn, không vội vã, vì vội vã  hoặc là mắc xương, hoặc là mất ngon. Thầy nói chắc như đinh đóng cột nếu hai em làm bài thi cẩn trọng không hấp tấp vội vàng thì chắc chắn hai đứa sẽ đậu thôi. Lời khẳng định của thầy đã cũng cố niềm tin cho hai đứa và hai đứa đã thi đậu Tú tài 1 vào kỳ thi năm đó.

Thương hải biến vi tang điền, có ai ngờ đâu mới là thầy trò đó mà có lúc lại là cùng chung lớp chung trường cùng cảnh ngộ…Qua rồi cái tết năm 1976 ở Chi Lăng, trại cải tạo tạm thời, thầy trò ở cùng trại 8, thầy ở lán 8 trò ở lán 5. Lúc thì thầy cho  chút canh đọt nút áo mà thầy đi hái cạnh hàng rào kẻm gai, lúc thì bó rau muống mà thầy trồng cho đở buồn đở nhớ nơi khoảnh đất nhỏ cạnh bờ rào.

Ngày đó sắp chuyển trại để gọi là đi lao động, vào buổi chiều nhạt nắng cạnh hàng rào, thầy dặn dò:

     – Em hãy bớt nói, đừng có ai mà cũng tin tưởng, mà thổ lộ nỗi lòng, nhớ là thầy trò mình hãy ráng giữ gìn khí tiết dù phải ở vào hoàn cảnh nào.

     – Dạ, em sẽ nghe lời thầy. Thầy luôn là vị giáo sư môn Toán của em, thầy cũng là người thầy nơi trường …tù của em, em sẽ cố gắng giữ gìn khí tiết.

Dạo nầy thầy đã già sọm đi nhiều, thầy đi xa dần, hai mắt mình sao cay sè quá đổi…

Bài viết ngày 26/3/2016
Lê phước Dương

Lại thêm một năm trôi qua cho mổi kiếp người.
..vui không…buồn không..
Thầy Cô ,người đưa đò .
Học trò tụi em là khách sang sông..
Hàng trang mang theo dong ruổi đường đời xông pha trận mạc…
Là lời nhắc nhở của Thầy .
Là lời dạy bảo của Cô .
Những lúc dừng chân nhớ lắm trường xưa bạn cũ.
Mơ lúc quay về mà chỉ là mơ .
Tàn cuộc chiến .
Sống sót trở về .
Hưng Dương Thánh Kiệt Mãnh Trung Bình..còn đủ cả .
Góp chút đời riêng .
Làm sống lại nối ngậm ngùi .
Nơi phương trời xa nơi xứ lạ .
Có mơ ngày trở lại con đò xưa .
Dù bến không còn người đưa vắng bóng .
Cuối cùng rồi cũng nhớ mãi một dòng sông.

trích bài thơ viết lúc 22h31   12/2015.
Lê phước Dương.

Hình ảnh thầy Nguyễn Văn Nén (tên thầy hiện nay là Nguyễn Nên) thời đi dạy Trung Học Hà Tiên (1965) và hiện nay (2016). Hình: Nguyễn Văn Nén

« Tàn cuộc chiến, sống sót trở về .
Hưng, Dương, Thánh, Kiệt, Mãnh, Trung, Bình..còn đủ cả ». Hình: Hà Quốc Hưng, Trần Văn Mãnh, Hoàng Thị Minh Liên

Sân đánh quần vợt tại Hà Tiên ngày xưa (ở giữa hai con đường Mạc Công Du và Đống Đa, ngày nay là siêu thị Coopmart Hà Tiên). Ngày xưa giới quan chức hành chánh, giáo sư, giáo viên và giới sĩ quan làm việc tại Hà Tiên thường chơi đánh quần vợt.Từ trái sang phải: Đại úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí dạy Pháp văn, thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy Vật lý Trung Học Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn.

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương, thập niên 1970

 

Từ biệt Lưu Kim Nhan (Thủy Trang)

Thầy cô và các bạn thân mến, trưởng Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ », bạn Trang Lệ Thủy (ký bút hiệu Thủy Trang) vừa viết một bài để tưởng nhớ một người bạn cùng trường cùng lớp ngày xưa, đó là bạn Lưu Kim Nhan, Kim Nhan lại cũng vừa chia tay chúng ta để mãi mãi đi về cỏi vĩnh hằng…Nghĩ cũng lạ, vì ngày xưa khi mình còn học bậc Trung Học tại trường Trung Học Hà Tiên, có thể nói mình biết gần như tất cả các bạn học nam nữ (đa số là nữ…!!) cùng trường…Tuy vậy mà ngày nay khi nghe tên bạn Lưu Kim Nhan, là học sinh trung học Hà Tiên ngày xưa, mình lại hoàn toàn không biết bạn Kim Nhan nầy,…Vậy mà lớp của bạn Kim Nhan chỉ cách lớp của mình một lớp mà thôi,….Trong lớp của bạn Kim Nhan mình quen biết rất nhiều, hầu như gần hết cả lớp,…Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Thị Phương Nhu,..v.;v…..kể ra đây không hết được,…nhưng quả thật là mình không biết bạn Lưu Kim Nhan, ngay từ lúc khi còn học cho đến bây giờ mình cũng không biết bạn Kim Nhan. Nhưng thôi, lúc trước không biết thì bây giờ xem như biết, qua sự thông báo của bạn bè cùng trường, nhất là bạn Lê Thị Việt Nga đã cho thông tin khá đầy đủ về Lưu Kim Nhan. Mình xin tóm tắt lại ở đây để cho thầy cô và các bạn biết rỏ nhé,…

« Lưu Kim Nhan: Lưu Kim Nhan bà con bạn dì với Lê Thị Việt Nga. Ngày xưa nhà của Kim Nhan ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Kim Nhan là con của nhà tiệm vàng Kim Quang ở Hà Tiên. Lúc học lớp đệ thất trường Trung Học Hà Tiên, Kim Nhan học chung lớp với Trương Thanh Hùng, Trần Quý Phụng, ..v..v…Khi gia đình Kim Nhan dọn về Châu Đốc thì Kim Nhan vẫn ở lại Hà Tiên tiếp tục học, và ở nhà thầy Hứa Văn Vàng (Kim Nhan cũng là cháu của thầy Hứa Văn Vàng). Bạn Lưu Kim Nhan mất ngày 29/10/2018 nhằm ngày 21 tháng chín, năm Mậu Tuất, âm lịch, an táng tại Châu Đốc ».

Chân dung Lưu Kim Nhan

Và sau đây xin mời thầy cô và các bạn đọc bài của bạn Thủy Trang, một người bạn cùng lớp với Lưu Kim Nhan, kể lại những kỷ niệm vui thời đi học, kể lại để thương tiếc, nhớ nhung một người bạn, một thời mà bây giờ ta chỉ có thể đặt tên là « ngày xưa »….và chỉ có thể sống trong tâm tưởng, trong ký ức vì những « ngày xưa » đó đã trôi qua không bao giờ trở lại nữa, có chăng là trong những dòng chữ, câu văn trong câu chuyện mà Thủy kể lại cho chúng ta qua bài viết sau đây…Thay mặt những cây bút quen thuộc và quý đọc giả của Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » xin chân thành cám ơn bạn Thủy đã có tấm lòng ưu ái cho phép Blog của chúng ta được đăng lại bài viết nầy, bài viết đã được lên khuôn trên Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ » ngày 12/01/2019 gần đây.  (TVM )

Biết tìm đâu ngày xưa bây giờ…

Chỉ trong môt thời gian ngắn ngủi chừng vài tháng thôi, mà cả ba người bạn học cũ cùng lớp, cùng chung mái trường Trung học Hà Tiên xưa với tôi đã vĩnh viễn ra đi, trong đó có Lưu Kim Nhan, người bạn gái duyên dáng, thích nghich ngợm nhưng lại rất dễ thương.

Tuy học cùng lớp với nhau nhưng Kim Nhan, Trần Quý Phụng, Mai Thị Hạt, Trần Thị Phương Nhu lớn hơn tôi về mặt biết “yêu” rất sớm. Trong lúc tôi còn là cô trưởng lớp chỉ biết quậy phá, thì các bạn ấy đã biết yêu và đã có bạn trai rồi. Bạn trai của Nhan có cái tên rất oai phong và dễ sợ lắm, anh tên “Dần”. Anh Dần học trên Nhan ba hay bốn lớp. Bọn chúng tôi hay gọi đùa anh là “Cọp”. Mỗi lần thấy anh đến tìm Nhan là cả nhóm “quậy” chúng tôi hò reo inh ỏi, nhất là Thanh Tuyên, Dương Hà và Ngọc Lê: “Nhan ơi! Cọp đến tìm bạn nè”. Vậy rồi cả nhóm chúng tôi cười ầm lên. Nhan cũng chẳng chịu thua, cô tỉnh queo và còn ùa theo chúng tôi nữa, làm cho anh chàng “Cọp” sợ hải, chạy luôn.

Ngoài câu chuyện tình lý thú đó, Lưu Kim Nhan còn để lại cho chúng tôi một kỷ niệm không thể nào quên được. Tôi còn nhớ, khi lớp chúng tôi có những giờ học vào buổi trưa. Trong lúc cả lớp đang im lìm nghe thầy giảng bài và giọng nói của thầy cứ nhè nhẹ, êm êm. Ôi, sao mà buồn ngủ chi lạ, chúng tôi đang mơ mơ, màng màng thiu thỉu…ngủ thì văng vẳng bên tai có tiếng đàn “dây thun” do Nhan tự chế, dường như cô lấy vài sợi dây thun cột vào hai cây viết, rồi dùng ngón tay khảy nhẹ vào dây thun như người ta khảy đàn vậy. Tiếng đàn nghe sao mà chói tai kỳ lạ, thêm vào tiếng hát “kinh hoàng” của Lưu Kim Nhan cất lên rằng: “Má ơi con muốn chồng, ba má tính làm sao…” làm cho cả bọn chúng tôi giật mình tỉnh giấc và không sao nhịn cười được. May mắn mà thầy không biết được việc này.

Bây giờ biết tìm đâu tiếng hát ngây ngô, dại khờ của một thời để nhớ hở Nhan. Người nhạc sĩ kiêm ca sỉ đầy sáng tạo, phá phách và dễ thương này đã rời xa sân khấu “học trò” rồi và đã bỏ lại bao nhiêu khán giả “bạn bè”  một đời tiếc nhớ.

Nói lời từ biệt với Nhan sao nước mắt mình rưng rưng. Ôi!  nhớ sao là nhớ người bạn ngày xưa…của tôi.

Thủy Trang

Tác giả bài viết Trang Lệ Thủy

Tái bút: sau đây là liên kết qua bài viết của bạn Thủy Trang trên Blog « Quê Hương Và Niềm Nhớ »

https://quehuongvaniemnho.com/2019/01/12/tu-biet-luu-kim-nhan/

Dưới đây là một số hình ảnh các bạn học cùng lớp với tác giả bài viết Trang Lệ Thủy, dĩ nhiên là mình không thể đưa đủ hết các bạn trong lớp của Thủy, các bạn nào có hình chụp theo nhóm bạn trong cùng lớp xin chia sẻ, mình sẽ bổ túc thêm nhé, xin cám ơn tất cả.

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Phước An, Phạm Minh Tuyến, Tiền Thiên Lộc

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trịnh Xuân Tài, Nguyễn Ngọc Lê, Trần Thanh Tuyên

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Lê, Trần Thanh Tuyên, Nguyễn Thúy Vân

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Vân, Phạm Thúy Phượng

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Nhanh, Trần Phước An

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Nguyễn Thúy Vân, ? , Trần Yến Phượng, Lâm Xuân Mỹ và Phạm Thúy Phượng

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Nhanh, Hà Mỹ Oanh

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Trương Thanh Hào, Lâm Thị Lan

Hình ảnh tác giả bài viết và bạn cùng lớp: Trang Lệ Thủy, Trương Thanh Hào, Hồ Thị Kim Hoàn

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Hà Mỹ Oanh

Hình ảnh một vài bạn cùng lớp với tác giả bài viết: Trần Thị Phương Nhu, Lâm Thị Lan, Phạm Thúy Phượng, Trần Văn Quận

Hình ảnh: Lê Thị Việt Nga, Trang Lệ Thủy, Hà Mỹ Oanh, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hào…

 

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Núi Tô Châu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình đã có ý viết một bài để tổng kết các hình ảnh về núi Tô Châu và quang cảnh chung quanh núi từ lâu rồi, nhưng mình cứ chờ tìm tòi để biết được độ cao của hai quả núi Tiểu và Đại Tô Châu nầy. Sau cùng tìm hoài không thấy thông tin trên mạng nên mình viết tin nhắn hỏi bạn Quang Nguyên nhờ Nguyên hỏi dùm với thầy Trương Minh Đạt, sau đó thầy có cho biết hai độ cao của núi: Tiểu Tô Châu (cao 107 m) và Đại Tô Châu (cao 178 m), xin cám ơn thầy và cây bút Quang Nguyên nhé. Thật ra tại mình đọc không kỹ trong một quyển tài liệu nhỏ mà mình có mua ở Hà Tiên từ rất lâu, đó là quyển « Hà Tiên đất nước&con người », nhà xuất bản Mũi Cà Mau (1999) và do các nhà biên soạn Hà Tiên : Phan Thanh Nhàn, Trần Thế Vinh, Hứa Nhứt Tâm, Lê Quang Khanh, Nguyễn Xuân Sơn cùng nhau viết. Trong quyển sách nhỏ nầy có một phần về Địa Lý Hà Tiên và cũng có liệt kê ra các tên núi và độ cao tương ứng của từng ngọn núi. Trong quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên » của thầy Trương Minh Đạt có giảng nghĩa rất chi tiết nguồn gốc tên các ngọn núi và có ghi độ cao tương ứng, qua hai tài liệu nghiên cứu nầy mình nảy ra ý sẽ cố gắng sưu tầm tài liệu và hình ảnh để viết về các ngọn núi ở Hà Tiên, vì Hà Tiên có rất nhiều núi (núi Lăng, núi Đề Liêm, núi Đèn, núi Đại Táo, Tiểu Táo, núi Bà Lý, núi Giếng Tượng, núi Sa Kỳ, núi Thị Vạn..v..v..), ngay bây giờ thầy cô và các bạn xin giúp mình bằng cách cứ gởi thông tin và nhất là hình ảnh về các ngọn núi ở Hà Tiên cho mình trước nhé, xin cảm tạ rất nhiều.

Vị trí hai ngọn núi Tô Châu so với thành phố Hà Tiên (Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo)

Bây giờ xin trở lại đề tài núi Tô Châu. Tô Châu là tên của hai ngọn núi tuy không phải là cao nhất trong các ngọn núi thuộc vùng Hà Tiên, nhưng do vị trí đặc biệt và thuận lợi nên đây là điểm sinh hoạt thường xuyên về mặt du lịch. Có hai ngọn núi, một là ngọn Tiểu Tô Châu (cao 107 m), và ngọn kia là Đại Tô Châu (cao 178 m). Hiện nay hai ngọn núi Tô Châu thuộc về phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, nằm ngay tại cửa ngõ đi vào Hà Tiên dọc theo quốc lộ 80, nếu tính từ Hà Tiên hướng về Rạch Giá thì xem như bắt đầu cây số 1. Núi Tiểu Tô Châu là một ngọn núi rất quen thuộc với dân chúng Hà Tiên, ngọn núi luôn ở trong tầm nhìn của người Hà Tiên, dù cho thời gian có chuyển biến từ sáng sớm hay chiều tối, dù cho Tô Châu vốn là một thôn xóm có rất nhiều nhà ở và bị ngăn cách với thành phố Hà Tiên bằng một khúc sông Giang Thành, nơi mà con sông nầy chuẩn bị đổ ra biển sau khi chảy tràn vào một cái đầm lớn có tên là Đông Hồ, rồi chảy dọc theo con đường Bến Trần Hầu ngày xưa, đi qua luôn hai hòn núi có tên thơ mộng là Đại Kim Dự và Tiểu Kim Dự và từ đó chảy nhập vào Vịnh Thái Lan. Núi Đại Tô Châu tuy cũng có ló mình ẩn hiện phía sau núi Tiểu Tô Châu qua tầm mắt của người Hà Tiên ngắm nhìn, nhưng ngọn núi nầy vẫn còn giữ nhiều bí ẩn, chỉ riêng cái áo xanh thẩm đều đặn và chiều cao hùng vĩ của ngọn núi cũng đã cho người ta thấy đó là một nơi ít người lui viếng và cũng ít bị bàn tay con người quấy phá…Có tài liệu cho rằng trên núi Đại Tô Châu nầy còn sót lại nền nhà đá có từ thời họ Mạc…mình chưa được thấy và nghe nói cụ thể về điểm nầy, nếu nền đá đó ở tận trên đỉnh núi thì có thể đó là nền còn sót lại của một « phong hỏa đài » ngày xưa dùng để đốt lửa thông tin chăng?  Thật ra đối với người Hà Tiên hay những người đã từng sinh sống lâu dài ở Hà Tiên, hay ngay bản thân mình, có rất ít người từng leo núi, khám phá hay du ngoạn trên đỉnh núi Đại Tô Châu. Không biết thầy cô và các bạn có vị nào đã từng leo lên núi Đại Tô Châu chưa, nếu đã có lần thám hiểm núi Đại Tô Châu ngày xưa, xin mời thầy cô và các bạn cứ viết kể chuyện thêm vào phần góp ý nhé. 

Ngọn núi Tiểu Tô Châu nỗi tiếng hơn nhiều và đã được người Hà Tiên thăm viếng thường xuyên. Trên sườn núi vào những năm 60-70 đã bắt đầu có một vài tịnh xá, cốc tu của các nhà tu theo môn phái Khất Sĩ ở phương xa tìm đến để thực hành phép tu, có lẻ các vị nầy cảm nhận được một nơi khá thanh tịnh, có chiều cao và cũng rất thuận tiện trong việc cung cấp nước uống và thức ăn…Mình còn nhớ trong những năm đó, mình và các bạn: anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng,..v..v…đã thường xuyên qua núi Tiểu Tô Châu chơi, leo lên núi để xem các cốc tu hoặc ngay cả « nói chuyện » trực tiếp với các vị sư tu trên núi,.., có nhiều lần cả bọn đã leo lên tới tận đỉnh núi Tiểu Tô Châu, thời đó đã có nhiều con đường mòn dẫn từ phía dưới chân núi, lên đến vị trí Tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay, và tiếp tục có đường mòn để lần đi lên tới trên đỉnh núi.

Thời đó, mình biết được là có nhiều vị sư tu Khất Sĩ trên núi Tiểu Tô Châu, nhưng được nhiều tín đồ biết đến là sư Yên và sư Từ. Sư Yên bắt đầu dựng cốc bằng lá dừa đơn sơ ở ngay vị trí tịnh xá Ngọc Đăng hiện nay. Cốc tu của sư Yên vào thời đó chỉ là một căn như căn nhà lá rất nhỏ, có hình hộp chữ nhựt theo chiều cao và có mái nhọn bằng lá. Bên trong chỉ có một sàn gỗ hình vuông nơi sư ngồi xếp bằng để vào thiền. Bên kế ngôi cốc ngồi thiền là một căn nhà lá nhỏ khác dùng để sinh hoạt hằng ngày và ăn uống. Sư Yên còn rất trẻ tuổi và con người rất thanh tao trắng trẻo…Mình còn nhớ thời đó sư Yên thực hành phép « tịnh khẩu » tức là không nói ra lời, chỉ tiếp xúc nếu cần với các tín đồ bằng cách viết chữ ra giấy mà thôi. Phép « tịnh khẩu » là một phép tu rất thịnh hành vào thời đó và được các sư theo môn phái Khất Sĩ thực hành rất nhiều. Vị sư có thể nguyện là sẽ thực hành phép « tịnh khẩu » trong một thời gian là vài năm, thường thường là hai năm, sau đó làm lễ « xuất khẩu » tức là đã hết thời hạn « tịnh khẩu » và được phép nói chuyện bình thường…Sở dĩ các vị sư thực hành phép « tịnh khẩu » là vì để tránh nói chuyện nhiều trong đời sống tu hành, để tâm được yên tỉnh, thần trí không bị chi phối trong việc tu hành…Mình còn nhớ rỏ khi sư Yên hết hạn « tịnh khẩu », bên cốc tu của sư, các tín đồ (đa số là người ở Hà Tiên, theo đạo Phật hay người không có đạo nhưng rất kính trọng các sư ở núi Tô Châu) tổ chức một buổi lễ rất lớn, mình có tham dự buổi lễ đó và khi sư Yên cất giọng nói lên một tiếng nói đầu tiên sau hai năm tịnh khẩu không nói chuyện, sư nói vào một cái micro để cho các tín đồ tham dự nghe được tiếng nói của sư, mình nhớ rất rỏ sư nói hai tiếng « Mô Phật » đầu tiên và vì đã lâu ngày không nói ra tiếng, nên tiếng nói của sư cũng rất nhỏ và hơi ngập ngừng…

Sư Từ tu trên đỉnh núi Tiểu Tô Châu, mình và các bạn cũng đã có nhiều lần leo lên tới ngay đỉnh núi, nơi có cốc tu của sư Từ. Sư Từ là vị sư rất cao tuổi, thân hình cao lớn, có lẻ sư có sức khỏe rất tốt nên đã chọn trên đỉnh núi cao như vậy để cất cốc tu…Cốc tu của sư Từ ở trên đỉnh núi, hướng quay về phía núi Đại Tô Châu.

Thời đó sở dĩ mình rất thường lên núi Tiểu Tô Châu để du ngoạn và viếng sư là vì ngay trong nhà mình có hai người tín đồ rất gắn bó với các vị sư tu theo phái Khất Sĩ bên núi Tô Châu. Đó là chế Thìn và hia Tư, chế Thìn chính là người chị bạn dì với mình, chế tên thật là Lê Thị Phượng, ngày xưa ở gian nhà bên trái trong căn nhà ba gian của ông ngoại bà ngoại của mình, chế Thìn làm nghề thợ may y phục phụ nữ. Hia Tư là chồng của chế Thìn, hia tên thật là Lý Văn Nhiên, ngày xưa hia cũng là một thợ may y phục đàn ông rất khéo và được nhiều người biết đến. Hia là người trong một gia đình rất đông bà con và là người gốc Tiều Châu (Triều Châu hay Teochew). Hai người kết thành vợ chồng và luôn theo con đường tu tập Phật pháp để cư xử cách sống ở đời. Thời gian đó hia và chế vẫn hành nghề thợ may, nhưng cũng thường qua núi Tiểu Tô Châu làm công quả để giúp cho quý sư tu bên đó về các phương tiện hằng ngày như cất, lợp tịnh xá, mang thức ăn, thức uống lên núi tiếp cho quý sư. Sống trong một khung cảnh và chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục đạo đức và Phật pháp như vậy, cả các anh em trong nhà của mình đều thấm nhuần tư tưởng đạo pháp ngay từ nhỏ nên cũng thường tham gia vào các sinh hoạt cúng chùa, ăn chay theo các ngày chay tịnh trong tháng và nhiều khi vào các tháng hè cả nhà cho lên chùa Phước Thiện để xắc thuốc, phơi thuốc làm công quả trong chùa Phước Thiện (chùa Phước Thiện ở ngay đầu đường Chi Lăng và Bạch Đằng, kế nhà ông Ký Cụi). Thời gian đầu hia Tư và chế Thìn thường hay nấu các món ăn chay tại nhà rồi chờ lúc trưa quý sư bên núi Tô Châu đi « khất thực » ngang nhà để dâng các món ăn cúng dường cho quý sư, quý sư Khất Sĩ thường thực hành phương pháp đi « khất thực » vào khoảng 10 giờ sáng cho đến trưa, quý sư đi theo hàng một, chậm rãi và trong im lặng, người mộ đạo hay tín đồ Phật giáo, chuẩn bị các món ăn chay, hoa quả đón sư đến và chấp tay bái sư rồi sư mớ nấp bình bát ra và Phật tử để các món ăn, hoa quả vào trong bình bát để cúng dường. Dần dần Phật tử và người mộ đạo được nghe và biết có quý sư tu trên các tịnh xá bên núi Tiểu Tô Châu, nên hia tư và chế Thìn cùng với các nhà buôn bán trong chợ Hà Tiên tổ chức cúng dường cho có quy củ hơn. Lúc đó thường có thêm nhiều Phật tử ở chợ Hà Tiên tham gia vào, có bà chủ tiệm trồng răng Phục Hưng (má của bạn Tường, tên ở nhà là Sện), bác Tư má của bạn Lý Văn Tấn, những vị nầy rất mộ đạo, thường đến nhà mình để mua thức ăn chay ở chợ trong buổi sáng và nấu nướng tại nhà mình để chuẩn bị đem qua núi Tô Châu cúng dường quý sư. Đặt biệt là có một nhân vật giữ vai trò rất quan trọng trong việc mang thức ăn cúng dường sang núi Tô Châu, đó là ông Thiện Chơn, ít người biết tên thật của ông là gì, chỉ biết ông đến Hà Tiên lập nghiệp, có một người vợ khá xinh đẹp bán bánh bao chỉ trong nhà lồng chợ Hà Tiên mỗi buổi trưa (ngày xưa mình rất thích ăn bánh bao chỉ, bánh không làm trước ở nhà và đem ra bán, chỉ khi nào có người mua, thì người bán bánh lấy một miếng bột đã chế tạo sẳn, nhồi tròn ra một tí rồi thêm vào nhân đậu xanh màu vàng ở giữa, thêm một muổng đường cát trắng, sau đó gói gọn miếng bột lại để thành một viên bánh tròn trịa, lăn viên bột nầy vào những miếng dừa được nạo ra từ trước, đó là bánh bao chỉ..!!). Thời đó có tiếng đồn là ông Thiện Chơn vốn ngày xưa là hội viên trong Quốc Dân Đảng bên Trung Quốc, tung hoành ngang dọc, nên ngày nay ông muốn phục thiện, tự nguyện mỗi ngày tự ông hai tay xách hai giỏ thức ăn cúng dường nặng trĩu, chân đi chân đất không có mang giầy dép gì cả, và ông mang hai giỏ thức ăn đó lên đến tận đỉnh núi Tô Châu để dâng thức ăn cho quý sư tu trên núi. Mình biết ông rất nhiều, ông nói được chút ít tiếng Việt, đầu cạo trọc, lúc nào cũng vui cười và rất tử tế. Nhà của ông Thiện Chơn và người vợ bán bánh thời đó ở đường Cầu Câu khúc bên kia đường Lam Sơn, gần kế trường Tàu chùa Ông Bổn. Hai ông bà có một đứa con trai lúc đó khoảng 14, 15 tuổi, nhỏ con và cũng rất sáng sủa, đẹp trai. Gần nhà ông Thiện Chơn lúc đó là nhà của người bạn học cùng lớp với mình ở Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Nguyễn Văn Tài, con của ông Tư bán kẹo kéo cho học sinh hằng ngày.

Trở lại chuyện tổ chức quy củ việc nấu nướng thức ăn chay để cúng dường cho quý sư tu trên núi Tiểu Tô Châu, thời đó có quy lệ là mỗi nhà Phật tử ở chợ Hà Tiên muốn cúng dường thì cho hia Tư và chế Thìn biết trước và phân chia mỗi ngày do một nhà đãm trách việc ra tiền chi phí mua thức ăn để đem lại nhà mình nấu nướng. Công việc đem thức ăn qua núi Tô Châu thì như đã kể ở trên, có ông Thiện Chơn đảm nhận. Một thời gian sau, hia Tư và chế Thìn mua được một mảnh vườn nhỏ trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ở khoảng giữa chiều cao khi đi từ chân núi lên vị trí tịnh xá Ngọc Đăng bây giờ. Tại mảnh đất nầy hia và chế cất một căn nhà nhỏ và xây dựng vườn trồng tiêu. Mình đã có dịp rất nhiều lần qua thăm hia chế tại căn nhà trên sườn núi Tiểu Tô Châu nầy, chung quanh vườn tiêu cũng có rất nhiều cây vú sữa cao lớn và rất sai trái. 

Ngôi tịnh cốc xa xưa của sư Yên thời đó chính là tiền thân của tịnh xá Ngọc Đăng sau nầy. Sau khi sư Yên rời khỏi Hà Tiên (mình không nhớ rỏ là trong thời gian nào và vì lý do gì), không biết ai là người có đủ danh chánh ngôn thuận để quản lý tịnh xá của sư Yên, từ đó người ta đã cất lên một ngôi « tịnh xá » bằng gạch rất đồ sộ, có mái ngói hình rồng phượng, có tượng Phật, tượng Phật Bà Quân Âm,…và con đường đất từ dưới chân núi, kế bên cái giếng nước nhỏ, con đường đó đã được « xi mãng hóa » và có xây từng bậc nấc thang bằng gạch vững chắc rất tiện cho người đi leo núi viếng tịnh xá…Rồi bên phía sườn núi nhìn về phía Đông Hồ, lúc đầu cũng chỉ là vài đơn cốc bằng lá nhỏ dành cho các vị sư nữ tu (lần đầu tiên mới có các vị sư nữ tu trên núi Tô Châu chứ từ trước đến lúc đó chỉ có quý sư nam tu mà thôi). Mình không có kỷ niệm nhiều về nhóm tịnh xá dành cho quý sư nữ bên nầy, chỉ biết là nơi đó cũng là tiền thân của « tịnh xá » Ngọc Tiên rất đồ sộ, quy mô, và chiếm lĩnh một vùng đất rất to lớn trên mảnh sườn nầy của núi Tiểu Tô Châu. Ngày nay hai tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên rất nỗi bật trên sườn núi Tiểu Tô Châu, ngay cả ở xa ta đã thấy hai nhóm tịnh xá nầy, và chiếc áo màu xanh thẩm thực vật của ngọn núi Tiểu Tô Châu đã bị rách loang lổ tại hai vị trí nầy. Nói theo suy nghĩ của tác giả Quang Nguyên trong bài « Tô Châu » thì hẳn chúng ta phải đặt lại câu hỏi hai chữ « Tịnh Xá » có còn đúng ý nghĩa của ngôn từ khi mà ngôn từ đó dùng để chỉ những ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, đầy màu sắc và đèn đốm…(trích bài: « Đó là hàng loạt các ngọn đèn của cái tịnh xá đằng xa được sáng lên, cái tịnh xá ấy mấy mươi năm trước khi tôi còn học trung học nó vốn nhỏ nhắn xinh xắn khép nép lẩn khuất trong tán cây, ẩn dật như Thích Ca rũ bỏ hư danh vào rừng để chiêm nghiệm con đường cứu độ chúng sanh… Nay cũng là cái tịnh xá ẩn dật ấy đã biến hình phình to với kiểu kiến trúc tự phát, chấp vá mở rộng theo kiểu dầu loang với xi măng và bê-tông hóa, các mái tôn và mái ngói lộn xộn giật cấp xuống tới tận chân núi, màu đỏ màu vàng lòe loẹt phô trương đã phá hỏng ý nghĩa của hai từ “tịnh xá”, làm cho ta cảm nhận “có gì sai sai” trong cách hành Đạo tại đây và phá hỏng cả nét thơ mộng của Tiểu Tô Châu vốn đã choáng đầy trong ký ức về ngày xưa ấy của tôi ».)

Ảnh chụp từ vệ tinh nhân tạo núi Tiểu Tô Châu cho thấy vị trí của hai tịnh xá Ngọc Tiên và Ngọc Đăng

Nhớ ngày xưa mình và bạn Nguyễn Đình Nguyên thường hay leo lên núi Bình San, đi lòn lỏi qua các vườn cây và các ngôi mộ, tìm tòi một cái gì đó có vẻ huyền bí, ẩn dật, vì thời đó vốn đã bị ảnh hưởng rất nặng của các tiểu thuyết kiếm hiệp, đánh chưởng nên muốn đi tìm một hang hóc sâu thẩm nào đó mà chắc chắn là nhân vật chánh của câu chuyện đã có từng bị đánh rơi xuống hang sâu đó và đã âm thầm luyện các môn chưởng hiểm hóc để sau nầy trở lại xuất hiện trên giang hồ …Vậy mà mình và bạn Nguyên đã tình cờ tìm ra được một ngôi cốc tu rất nhỏ, nhà lá, ở phía sau tịnh xá Ngọc Hồ, không biết thời đó của vị sư khất sĩ nào tu ở đó, nhưng ngôi cốc quả thật có vẻ rất huyền bí, đầy thơ mộng và rất hợp với không khí tu hành…Mình và bạn Nguyên còn đọc được một bài thơ rất hay của vị sư tu ở đó viết trên một tờ giấy và treo trên tường lá của ngôi cốc đó, lúc đó mình và bạn Nguyên rất có ấn tượng về bài thơ đó, rất tiếc là ngày nay không thể nhớ ra các câu thơ đó…đại khái bài thơ đầy vẻ thong dong, tỉnh mịch, tả ngôi cốc tu êm ả trên sườn núi… giống như kiểu « Bước tới đèo Ngang bóng xế tà… ». Như vậy chúng ta thử tưởng tượng các ngôi cốc nhỏ bé, tỉnh mịch, đầy vẻ thiền học, một nơi thật yên tỉnh dành cho các bậc chân tu thực hành đạo Pháp, mong đạt được phép nhiệm mầu của nhà Phật, một nơi ẩn lánh người đời, tránh xa nhân thế,…mà ngày nay đã trở thành những ngôi đền tráng lệ, người người tới lui, « ngựa xe như nước, áo quần như nêm » thì làm sao mà các bậc chân tu có sự yên tỉnh để tu hành?!! ( nói là « ngựa xe » nhưng ngày nay « ngựa xe » chính là các xe đò chở người du lịch đổ ào ào trước các sân chùa …!!).

Phía sau hai ngọn núi Tiểu và Đại Tô Châu là một vùng đất trống, ngay cây số hai, ngày xưa đó là nơi lập trại lính « Tô Châu ». Trại « Biệt Kích Tô Châu » thành lập tháng 2 năm 1963. Đến 1 tháng 9 năm 1970 cải tuyển thành trại của « Tiểu Đoàn 66/ BĐQ/ BP ». Trại Biệt Kích Tô Châu có ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Hà Tiên. Mình còn nhớ ngày xưa, nhóm chơi nhạc của Trường Trung Học Hà Tiên cũng đã có lần qua trại Tô Châu chơi nhạc, trong nhóm có các bạn Lý Cui, Lý Văn Tấn, Trần Văn Mãnh (tác giả bài), Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên, Lý Mạnh Thường, Nguyễn Anh Tài…v..v…..Bạn Nguyễn Anh Tài (con của ông trưởng chi Bưu Điện Nguyễn Văn Nhứt thời đó) chơi dàn trống và mình còn nhớ lúc đó bạn Nguyễn Anh Tài ca bài « Sầu Đông » của Khánh Băng. Ngoài ra lúc đầu khi còn là trại Biệt Kích, có rất nhiều người Mỹ đóng quân bên đó, họ có tổ chức phát thuốc cho dân Hà Tiên, mình cũng có dẫn Bà Ngoại mình sang đó để lãnh thuốc tây. Còn một điều nữa là trại Tô Châu thời đó cũng là nơi để giải quyết vấn đề « đi quân dịch » của một số con dân các nhà buôn bán chung quanh chợ, nhất là các nhà buôn bán người Hoa. Thật vậy, các thanh niên đó chỉ việc đăng ký để vào danh sách lính của các đơn vị đóng trong trại Tô Châu, nhưng ban ngày thì ở Hà Tiên sinh hoạt buôn bán giúp gia đình như thường lệ, còn chiều tối thì phải qua ngủ trong trại…(thời đó người ta gọi là đi lính ma, lính kiểng…), tiền lương lính mỗi tháng thì do các quan trong Tiểu Đoàn « lãnh dùm »!!).

Thời đó vì thường chơi văn nghệ nên mình có quen với hai người lính thuộc trại Tô Châu, người thứ nhất tên là Đô, trung sĩ Đô. Trung Sĩ Đô là người bắc, khá đẹp trai, ông ta có vợ người Cần Thơ, ca rất hay và cũng rất đẹp. Trung sí Đô thường quan hệ với Đại úy Thơ nhà ở biệt thự ông Bầy phía trước nhà mình.  Khi có người vợ của trung sĩ Đô ở Cần Thơ đến Hà Tiên chơi, cả nhóm tụ tập tại nhà bạn Lý Mạnh Thường để dợt nhạc, lúc đó mình đệm đàn cho vợ trung sĩ Đô hát một bài theo tiết điệu « Boston », lúc đó mình cũng chưa rành lắm về nhịp Boston, vốn là nhip ba (3/4), tức là chỉ có ba phách trong một cung nhịp, vì mình thường quen chơi đàn theo các nhịp 4/4 và 2/4 (tức là thường thường đệm đàn theo nhịp Boléro, Rumba, Slow Rock,…) nên mình cũng rất lúng túng khi đệm đàn theo nhịp 3/4…Khi đó vợ của trung sĩ Đô có chỉ mình cách đệm theo nhịp Boston cho bà ca…Người thứ hai thuộc trại Tô Châu mà nhóm mình chơi khá thân là trung sĩ Nhựt, trung sĩ Nhựt cũng tham gia văn nghệ ca hát với nhóm mình, cũng thường tập họp ở nhà bạn Lý Mạnh Thường để tập dợt. Trung sĩ Nhựt người cao lớn, nước da hơi ngâm đen, rất vui vẻ và dể giao thiệp. Có một kỷ niệm như sau, lúc đó không biết vào dịp nào mà Hà Tiên có tổ chức văn nghệ và do các đơn vị bên trại Tô Châu đảm nhận. Sân khấu được cất ngay bờ sông, bên trái của cầu bắc, nhìn lên là ngay trước mặt khu tiệm Phương Dung chụp hình. Lúc đó có bạn học là Trần Văn Yến đã gia nhập lính bên trại Tô Châu, bạn Yến chơi đàn « Đại Hồ Cầm », nói là Đại Hồ Cầm nhưng chỉ là một thùng phi xăng lớn có cặp một cây dài làm cán đờn và căng dây kẻm làm dây đờn. Trung sĩ Nhựt hát một bài kích động nhạc theo điệu twist. Khi vào bài trung sĩ Nhựt có nhảy theo nhịp điệu đàn nhưng vì có lẻ sàn sân khấu bị mưa ướt trơn trợt nên anh bị mất thăng bằng té xuống,…tuy nhiên cũng không sao, anh tiếp tục đứng dậy và ca bài ca twist rất sôi động… Sau nầy nghe tin các bạn cùng trường lớp cho biết là trung sĩ Nhựt cưới bạn Hà Thu Hương (Hương học cùng lớp với mình thời lớp đệ thất trường trung học Hà Tiên) làm vợ,…và thời gian sau nữa là anh Nhựt đã mất rồi.

Đến đây tạm dừng câu chuyện về hai ngọn núi Tô Châu và mong thầy cô và các bạn đọc bài, xem hình ảnh, nhớ kỷ niệm xa xưa và đóng góp ý kiến thật nhiều để chúng ta cùng nhau nhớ về một thời xa xưa của tuổi học trò rất vui và rất thơ mộng…

                                           Trần Văn Mãnh  (Paris 04/08/2018)

Hình thể núi Tô Châu (Hà Tiên) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Lối vào cửa Đông Hồ »

Phần đầu của núi Tiểu Tô Châu và Đại Tô Châu ngay cửa ra biển. Ảnh người Pháp chụp từ trên Pháo Đài Hà Tiên khoảng trước năm 1931. Photo: Nadal, trích trong tài liệu « Exposition coloniale internationale Paris 1931 ». Chú thích của hình có ý nói là « Hà Tiên-Vịnh và đường vào cảng »

Chiếc tàu Quan Thuế Pháp tên Bonite neo tại Hà Tiên, phía sau là dãy núi Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Bến cảng Hà Tiên, tàu khởi hành đi Châu Đốc. Bên phải là một góc núi Tiểu Tô Châu. Nguồn ảnh: Delcampe (có lẻ trước năm 1930)

Núi Tiểu Tô Châu nhìn từ phía chợ Hà Tiên. Ảnh do người lính Hải Quân Pháp tên Rolland Drosson chụp khoảng trước năm 1953

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ thành phố Hà Tiên. Hình: TuanVo, 1956. Chúng ta không biết ngôi nhà nhỏ ngay trên đỉnh núi là nhà gì?

Núi Tô Châu (Hà Tiên) trong thời gian vẫn còn nét thiên nhiên, chưa có công thự chùa chiền phát triển. Hình: nhà nhiếp ảnh Quách Ngọc Bá trong những năm 60. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một bức ảnh tương tự ảnh trên, do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Quang cảnh núi Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1969

Ngọn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới quốc lộ 80, nơi gọi là cây số 2 trên con đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Ta còn thấy các ô ruộng lúa và một khoảng đất có các trang trại, đó là Trung Tâm Biệt Kích ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một góc của núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) nhìn từ phía dưới trại Tô Châu ngày xưa. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Hình ảnh quen thuộc của chiếc Cầu Bắc Hà Tiên (khoảng thập niên 1960-1970), ta thấy có hai chiếc phà đang hoạt động, phía sau hình là núi Tô Châu. Hình xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi. (trong hình ta vẫn thấy ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi Tô Châu?)

Một trong những ảnh chụp núi Tô Châu (Hà Tiên) trong những thâp niên 60 -70, lúc chỉ có những tịnh xá đơn sơ của các vị tu sĩ theo phái Khất Sĩ củaTổ sư Minh Đăng Quang. Hình: TVM (ta hãy để ý là ngôi nhà nhỏ trên đỉnh núi đã biến mất!!)

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với các căn nhà lưa thưa dưới chân núi trong những năm 70. Hình Trần Văn Dõng trước năm 1975.

Toàn bộ quang cảnh núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) vào khoảng năm 1993, ta thấy khu vực tịnh xá Ngọc Tiên còn rất khiêm tốn, sườn núi còn giữ được màu xanh thẩm thực vật.. Hình Daanj 1993

Một góc núi Tiểu Tô Châu kề bên bờ Đông Hồ, phía bên trái là bắt đầu con kênh Hà Tiên – Rạch Giá. Hình TVM năm 1994

Tác giả bài viết Trần Văn Mãnh đứng trên Tịnh Xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu  nhìn về phía Đông Hồ Hà Tiên. Hình: TVM năm 1994

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng vừa thoáng hiện trên sườn núi ở giữa hình. Hình: TVM 1994

Một phần núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với toàn cảnh tịnh xá Ngọc Tiên với sự phát triển tột độ, màu sắc và diện tích chiếm khoảng 2/3 của chiều cao sườn núi, nhà cửa dưới chân núi cũng phát triển cao độ trong những năm sau 2000

Cầu Tô Châu (Hà Tiên), bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình trích trong site Anhcanem8897 (2010)

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu với sự phát triển của tịnh xá Ngọc Tiên và các nhà dân dưới chân núi. Hình TVM 2012

Toàn bộ tịnh xá Ngọc Tiên trên núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển tọa lạc từ hơn nửa sườn núi xuống tận chân núi. Ảnh hiện tại ngày nay.

Cận ảnh một góc núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển của nhà cửa dân chúng, phần đầu núi nhìn ra cửa biển. Hình: TVM 2012

Cận ảnh khoảng giữa núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với sự phát triển nhà cửa và ghe tàu. Ở giữa phía trên hình ta thấy một phần vách rào của tịnh xá Ngọc Đăng. Hình: TVM 2012

Một góc nhìn núi Đại Tô Châu (bên trái) và núi Tiểu Tô Chau (bên phải), hình chụp từ con sông Giang Thành. Hình: Agassity, 2012

Một góc độ nhìn núi Đại Tô Châu rất rỏ, đó là hình chụp từ con sông Giang Thành sắp sửa đổ vào Đông Hồ, Hà Tiên. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Một phần  núi Tiểu Tô Châu (Hà Tiên) với ngôi tịnh xá Ngọc Đăng hiện ra rất rỏ trên sườn núi ở giữa hình. Phía dưới chân núi nhà cửa tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Toàn bộ góc nhìn rất rỏ hai ngọn núi Tiểu Tô Châu (bên trái) và Đại Tô Châu (bên phải),  sông Giang Thành chảy qua thành phố Hà Tiên hiện nay tàu bè rất đông đúc và hiện đại. Hình: Thomas Nguyen (Nước Non Nghìn Dặm) 2016

Góc nhìn khác về hai ngọn núi Đại Tô Châu (bên trái) và Tiểu Tô Châu (ở giữa hình). Hình chụp từ phía Đông Hồ (Hà Tiên) nên dưới chân núi ta ít thấy nhà cửa. Hình: Nguyễn Lệ Thủy 2016.

Hai ngọn núi: phía trước: Tiểu Tô Châu, phía sau: Đại Tô Châu. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó.

Cầu Tô Châu (Hà Tiên) hiện tại, bên trái ta thấy rỏ ngọn núi Tiểu Tô Châu, bên phải ngọn núi Đại Tô Châu với tất cả vẻ hùng vĩ của nó. Hình: Trương Thành Ý, 2018

Một cảnh đẹp nhìn rỏ núi Đại Tô Châu (phía sau) và Tiểu Tô Châu (phía trước). Hình trích ra từ Video Flycam (quay bằng Drone) của Dang Truc My (2018)

Núi Đại Tô Châu, vị trí chụp hình là ở giữa hai ngọn núi Tiếu Tô Châu và Đại Tô Châu. Hình: Lâm Thị Lan, 2018

Sau đây là một vài hình ảnh sinh hoạt thời chiến tranh của trại Biệt Kích Tô Châu (Hà Tiên) trong những năm 1960-1970.

Một chiếc trực thăng loại Huey đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Tom Lefavour 1969, phía sau là sườn núi Đại Tô Châu.

Một loại trực thăng Chinook đáp trong sân trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Sinh hoạt trong trại Tô Châu (Hà Tiên) ngày xưa. Hình: Rich Krebs 1966-1970

Một phần núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) , hình chụp từ trại Tô Châu nhìn ra biển . Hình: Ken Fillmore, 1970-1971

Trẻ em chơi gần trại Tô Châu (Hà Tiên). Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Một phần sườn núi Đại Tô Châu (Hà Tiên) chụp từ trại Tô Châu. Ảnh: Don Griffin 1966-1967

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem một đoạn video về Hia Tư Lý Văn Nhiên và chế Thìn Lê Thị Phượng để biết căn nhà của hia và chế và hình ảnh tịnh xá Ngọc Đăng vào năm 1999.

 

 

Giới thiệu Lâm Xuân Mỹ

Thầy cô và các bạn thân mến, thỉnh thoảng nhìn lại trang « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy bài viết cũng rất phong phú, một phần do chính mình nhớ và viết ra, một phần nhờ sự đóng góp của các bạn nên mục nầy cũng đã giới thiệu được gần 30 bạn rồi…Tuy nhiên số bạn học cùng trường mà mình quen biết thì còn rất nhiều,…kể ra cũng phải hàng trăm bạn, nhưng vì mình vẫn theo một tiêu chuẩn là cố gắng có một vài tấm hình của người bạn được giới thiệu (hình xưa càng tốt) và có chuyện để kể lại hay có vài liên hệ ngày xưa đến người bạn được giới thiệu để mình có chất liệu viết bài đưa lên trên mục « Bạn Học Cùng Trường »,..Do đó mình mong mỏi quý Thầy Cô và các bạn đã học qua dưới mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa cố gắng giúp và đóng góp bài vở giới thiệu về một vài người bạn cùng trường cùng lớp ngày xưa để mục nầy thêm phong phú và ngày càng đầy đủ.

Nhìn vào danh sách « Bạn Học Cùng Trường » mình thấy quả không thiếu các người đẹp của trường Trung Học Hà Tiên thời xưa,…nay xin được giới thiệu một người bạn học cùng trường, một nữ sinh cũng thuộc vào dạng « người đẹp » Trung Học Hà Tiên, quý phái và rất dể mến,….Thầy cô và các bạn đã đoán ra ai rồi vì mình lở viết ra tên trong tựa bài rồi,….Xin giới thiệu đó là người bạn mang tên: Lâm Xuân Mỹ…

Lâm Xuân Mỹ là con gái trong một gia đình kỳ cựu và có tên tuổi ở Hà Tiên. Nhà Xuân Mỹ ở đường Lam Sơn, đối diện xéo xéo với nhà Cô Lý Ánh Nguyệt. Phía bên phải hiên nhà của Xuân Mỹ là một khoảng trống rất tiện lợi cho công việc nhà như chuẩn bị làm bếp, giặt giũ quần áo…… Mình cũng thỉnh thoảng có đến chơi nhà Xuân Mỹ vì chị của Xuân Mỹ là chị Lâm Xuân Cúc học chung lớp với mình suốt bậc Trung Học ở Hà Tiên. Anh của Xuân Mỹ là anh Lâm Hữu Dư cũng là cựu học sinh Trung Học Hà Tiên và mình cũng thường tiếp xúc vói anh khi anh qua nhà bạn Lý Cảnh Tiên chơi. Phu nhân của anh Lâm Hữu Dư là bạn Lê Mai Hoa cũng là bạn học cùng lớp với mình, tóm lại vì cùng là người Hà Tiên cả nên cuối cùng mối liên hệ bạn bè cũng được thắt chặc thêm qua các mối liên hệ gia đình…

Mình còn nhớ một chuyện rất vui nhưng vẫn còn bán tín bán nghi vì đã lâu rồi không biết mình có nghĩ đúng không…Lúc còn trẻ nhỏ, vì mình thường đến chơi nhà bạn là Lý Mạnh Thường nên khi gia đình của Xuân Mỹ có việc vui là: ngày làm đám nói cho người chị thứ Chín của Xuân Mỹ (chị Chín Lâm Xuân Hương), đám nói với một ông sĩ quan Hải Quân thời đó (Ông tên là Tú), vì ông không phải là người Hà Tiên nên ông thuê một phòng trong khách sạn ở Hà Tiên và gia đình Xuân Mỹ chọn một vài em trai (tiêu chuẩn là ăn mặt sạch sẽ, bảnh bao, dáng người dể xem…) để tiếp bên đàng trai bưng các mâm hoa quả trầu cao đến nhà chị Chín (nhà Xuân Mỹ) để xin hỏi cưới chị Chín. Lúc đó hình như là nhà Mạnh Thường giới thiệu hai anh em mình vào nhóm bưng mâm bên đàng trai nầy nên mình có bưng mâm theo đàn trai đến nhà Xuân Mỹ đó, mình nhớ ra như vậy vì thời gian là rất xa xưa rồi không biết có đúng không,…Có điều chắc chắn là mình nhớ có lần mình bưng mâm giúp cho bên đàng trai như vậy…

Bây giờ viết về Xuân Mỹ,…Lâm Xuân Mỹ ngày xưa là một trong những người nữ sinh đẹp của Hà Tiên,…Theo mình nhận xét (những nhận xét nầy là đã có từ xưa khi quen biết Xuân Mỹ với tư cách bạn học cùng trường) Xuân Mỹ có một vẻ đẹp rất cao sang, quý phái và lúc nào sự cao sang quý phái đó cũng được Xuân Mỹ thể hiện qua dáng đi, cách nói chuyện và cách giao tế với mọi người chung quanh…Đó là những nhận xét thật sự của mình chứ không phải ca tụng qua loa bề ngoài…Một trong những yếu tố chứng minh là ngày xưa Xuân Mỹ được rất nhiều bạn nam trong trường chú ý, không chỉ những bạn nam của trường Trung Học Hà Tiên mà còn các vị sí quan Hải Quân thời đó đóng quân ở An Thới, thường ghé tàu vào Hà Tiên chơi và cũng muốn được sự chú ý của Xuân Mỹ…Dí nhiên là trong thời đó mình không biết Xuân Mỹ nghĩ trong đầu óc như thế nào, vì mình không biết rỏ thời đó Xuân Mỹ có « bạn trai » là ai hay không, có lẻ vì là con gái trong một gia đình kỳ cựu nên Xuân Mỹ rất giữ gìn ý tứ và không biểu lộ ra ngoài cho người ta nhận xét các sự liên hệ của mình…Đó là một cá tính rất tốt đẹp và càng làm tăng thêm giá trị của một người con gái vốn đã đẹp về vóc dáng, gương mặt mà lại càng làm đẹp thêm cho cả bản thân…

Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ học chung lớp với các bạn Hà Mỹ Oanh, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu, Hồ Thị Kim Hoàn, Trương Thanh Hào, Trường Thanh Hùng. Xuân Mỹ thường kết bạn thân với các bạn: Nguyễn Ngọc Lê, Dương Thị Diễm Hà, Trang Lệ Thủy, Trần Thanh Tuyên,…Lâm Xuân Mỹ học sau mình một lớp (tức là vào niên khóa 1965-1966 mình học lớp Đệ Lục tức lớp 7  thì Xuân Mỹ học lớp Đệ Thất tức lớp 6). Theo như lời các bạn cùng lớp thì Lâm Xuân Mỹ học rất giỏi, trong lớp rất ngoan, hiền và nhất là rất dể thương…(nhưng cũng nói thêm cho các bạn trai thời đó là thương « không dể » đâu nhé,…vì là người đẹp nên có lẻ tiêu chuẩn lựa chọn rất cao…ngay cả mình thời đó nếu có nộp đơn thì chắc lọt sổ ngay rồi…!!)

Thắm thoát thời gian trôi qua, mình đi xa tiếp tục sự nghiệp học trò và sau đó ra trường cũng tiếp tục sự nghiệp thầy giáo, mình không biết tin nhiều về các bạn học nói chung còn ở lại Hà Tiên, và Xuân Mỹ nói riêng…Sau nầy hơn mấy chục năm trôi qua nhờ có đường dây bạn bè qua fb, mình biết được Xuân Mỹ lập gia đình với một người đồng nghiệp cũng trong ngành giáo chức, phu quân của Xuân Mỹ là người gốc Cần Thơ nên gia đình có lúc sống ở Cần Thơ và hai vợ chồng có được hai cô con gái rất xinh đẹp và rất có tài năng trong văn chương nghệ thuật, thật là một điều rất tốt đẹp…

Hiện nay Xuân Mỹ đã không còn ở trong căn nhà cố cựu ngày xưa ở đường Lam Sơn. Hiện Xuân Mỹ ở trong một căn nhà được xem như là một trong những căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên, đó là căn nhà ở đường Chi Lăng, trong nhà trang hoàng rất đẹp theo kiểu cổ kính có rất nhiều tác phẩm sơn mài xưa, phía ngoài thì có nhiều chậu hoa rất xinh đẹp. Xuân Mỹ sống với những kỷ niệm vì phu quân của Xuân Mỹ không may đã mất vì bệnh…Để kết thúc phần viết về một người bạn cùng trường năm xưa, mình mong và chúc cho Lâm Xuân Mỹ luôn được an lành, vui khỏe với hai cô con gái tuyệt vời, mong rằng đó chính là hạnh phúc thật sự cho Xuân Mỹ…(TVM 05/2018)

Nét đẹp học trò của Lâm Xuân Mỹ trong những năm nữ sinh Trung Học Hà Tiên

LamXuanMy_Classe1

Lâm Xuân Mỹ (giữa) trong niên khóa 1970-1971 lớp 11A Trung Học Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ (giữa) với các bạn cùng lớp Trung Học Hà Tiên

Một màn múa trong đó có Lâm Xuân Mỹ tham dự (có lẻ ở giữa)..

Hà Mỹ Oanh và Lâm Xuân Mỹ lúc học lớp Đệ Nhứt 1971-1972 Rạch Giá (hai cô gái vừa giản dị trong chiếc áo trắng quần đen vừa duyên dáng và rất xinh tươi của lứa tuổi đôi mươi…)

Lâm Xuân Mỹ trong vóc dáng rất tự nhiên và thanh tao

FamilleLamXuanMy_HaTien_1985

Vợ chồng Lâm Xuân Mỹ và con gái đầu lòng (Hòn Phụ Tử Hà Tiên 1985)Lâm Xuân Mỹ

Lâm Xuân Mỹ (nét sang trọng trước Mũi Nai Hà Tiên)

Lâm Xuân Mỹ, bà mẹ trẻ và cô con gái xinh…

Lâm Xuân Mỹ ngày nay, vẫn giữ nét thanh lịch, quý pháiTrái qua phải: Nguyễn Thúy Vân, ? , Trần Yến Phượng, Lâm Xuân Mỹ và Phạm Thúy Phượng

Lâm Xuân Mỹ cùng cô con gái đầu lòng Minh Thư..

Căn nhà xinh đẹp của gia đình Lâm Xuân Mỹ hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên

Lâm Xuân Mỹ cùng các bạn học cùng lớp: Nguyễn Thúy Vân, Trịnh Xuân Tài, Hà Mỹ Oanh, Trần Thanh Tuyên, Lâm Thị Lan, Trần Thị Phương Nhu,..v..v.. (Hà Tiên)

Hình ảnh: Lâm Xuân Mỹ, Hà Mỹ Oanh. (Thành thật cám ơn Xuân Mỹ, Lâm Thị Lan và Mỹ Oanh đã vui vẻ đóng góp hình ảnh, góp ý cho bài viết nầy được phong phú.)

Những « Con đường xưa ta đi » của Hà Tiên

Thầy Cô và các bạn thân mến, thành phố Hà Tiên ngày xưa không to lắm, chỉ đủ để chúng ta chiều chiều khi cơm nước xong, rủ nhau thả bộ đi vòng vòng quanh phố, đi cho đến khuya, có hôm thì kéo nhau vào quán Ti La uống cafe nghe nhạc và nói chuyện với quý thầy cô…Hà Tiên là như thế, đã hiện hữu qua bao nhiêu năm dưới ánh mắt của chúng ta, lúc nào cũng dể thương, quen thuộc, mộc mạc nhưng không kém phần quyến rũ…

Tuy nhiên mọi vật trên trái đất nầy đều phải chịu tuân theo luật biến hóa, Hà Tiên cũng thế, mỗi ngày một đổi mới tốt đẹp thêm cũng có, hơi lố lăng một tí cũng có…Để nhớ lại mỗi con đường ngày xưa của Hà Tiên, những con đường mà các bạn đã từng dìu một người em gái nữ sinh Trung Học Hà Tiên nào đó, đi qua trong một buổi chiều …, để nhớ lại và hồi niệm cho một thời mà chúng ta tự xem như là « chủ » của đường phố Hà Tiên xưa…, xin mời thầy cô và các bạn duyệt qua một số con đường xưa của phố Hà Tiên, vì chỉ nói về những con đường hiện hữu của ngày xưa nên chỉ có một số ít thôi, còn Hà Tiên ngày nay đã quá phát triển, có những con đường còn tự trồi lên trên mặt của lớp đất bằng lấp đi một phần của con sông xinh đẹp và êm đềm ngày xưa,…dường như đường sá đã tự có từ ngàn xưa cũng không đủ để ngày nay người ta  lưu thông,…Hà Tiên đã phát triển tột độ, xin chúc mừng cho thành phố quê hương của chúng ta và cũng xin ngậm ngùi cho một phố Hà Tiên của những con đường tuy vắng khách « ngựa xe » qua lại dập dìu như hiện nay, nhưng lại rất tình tự và đầy ấp kỷ niệm học trò…

Những đường phố chánh của Hà Tiên ngày xưa

1/ Đường Mạc Công Du: Đường Mạc Công Du được người Pháp xây dựng đầu tiên vào năm 1871 và lúc đó tên đường là Avenue Inspection (Đại lộ Tham Biện), đường nầy được xây dựng cùng một lúc với Lầu Ông Chánh trên đồi Ngũ Hổ (dinh Ông Chánh Tham Biện). Đường Mạc Công Du chạy dài từ dưới chân đồi Ngũ Hổ thẳng tới ra bờ sông ngay cầu tàu Quan Thuế (xưa tên là Pont de Douane). Về sau trong những năm 50, đường được đặt tên chánh thức là đường Mạc Công Du (con trai của Mạc Tử Hoàng và cháu nội của Mạc Thiên Tích). Chúng ta quen gọi là đường Hàng Dương. Đây chính là « Con đường xưa em đi »…!! Vì con đường nầy đã chứng kiến rất nhiều những tà áo dài trắng của nữ sinh trung học Hà Tiên khi tan trường về và nối theo là những chiếc áo trắng quần tây xanh của những chàng trai nam sinh cùng về chung đường…

Trên đường Mạc Công Du một bên là trường Tiểu Học Hà Tiên, một bên là bên hông của trại lính « Thành 18 », tiếp theo là dảy nhà cư xá của quý thầy cô có tên là Học Đường Viên: thầy Hiệu Trưởng Hùng, thầy Thất, thầy Trịnh Học Ký, và thầy Nguyễn Đức Sơn…

Ngày xưa ngay trên con đường Mạc Công Du nầy có nhà của các bạn: Mai Thị Ngọc Minh, Lâm Tấn Hào – Kiệt, Huỳnh Văn Năm, Huỳnh Thị Sáu, Thái Cẩm Hà, Lý Mạnh Thường, …

Nam sinh trung học Hà Tiên trên đường tan học về nhà đường Mạc Công Du Hà Tiên trong những năm 60. (Hình: TVM)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên trước những năm 2000 ngay ngả tư Mạc Công Du-Mạc Cửu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Mạc Công Du Hà Tiên sau những năm 2000, ngay ngả tư Mạc Công Du-Lam Sơn (Hình: Lê Phước Dương)

Ngả ba đường Mạc Công Du (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là Chi Quan Thuế, bên phải là quán Ông Năm bán nem nướng. (Hình: TVM 2012)

2/ Đường Chi Lăng: Đường Chi Lăng ngày xưa có tên là Đường Lớn, người Pháp lúc xây dựng đường nầy đặt tên là Rue de Mui Nai. Đường Chi Lăng chạy dài từ mé sông Đông Hồ lên đến ngang qua đường Mạc Thiên Tích và tiếp tục thẳng lên bên phải là khu Lăng Mạc Cửu, quẹo trái là đường ra bãi biển Mũi Nai. Trên đường Chi Lăng nếu tính từ mé sông Đông Hồ thẳng lên thì lần lượt có nhà gia đình Quách Ngọc Sơn, Quách Ngọc Lâm ở đầu đường, Nguyễn Thanh Hà, thầy Nguyễn Văn Nén, Lâm Mỹ Nhung, Hà Mỹ Oanh, Phạm Kim Loan, nhà cô Vương Thị Lành, Trần Anh Kiệt, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Thúy Vân, Nguyễn Thị Điệp, Nguyễn Nguyệt Hồng,..v…v…

Khúc đường Chi Lăng Hà Tiên về phía núi Lăng, bên phải có chùa Phật Đường (Hình: TVM 2012)

Đường Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

3/ Đại Lộ Mạc Thiên Tích: Đại lộ Mạc Thiên Tích rất dài, nối liền Đồi Ngũ Hổ thẳng xuống đồi Pháo Đài, có tên xưa là đường Pháo Đài, người Pháp đặt tên là Boulevard Phao Dai. Vào năm 1952 tỉnh trưởng Hà Tiên là ông Lê Văn An đặt tên là Đại lộ Mạc Thiên Tích (con trai của Mạc Cửu và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến lịch sử văn học Hà Tiên). Con đường Mạc Thiên Tích ngày xưa lúc mình còn học vẫn chưa tráng nhựa, còn là đường sỏi đá, mình thường đi theo con đường nầy để xuống chơi nhà bạn Nguyễn Ngọc Thanh và Lý Văn Tấn. Đường nầy đi ngang qua cổng chính của trường Trung Học Công Lập Hà Tiên xưa.Tính từ ngay dưới chân đồi Ngũ Hổ về phía Pháo Đài thì trên con đường nầy có nhà các bạn: Tống Châu Thành (ngay xéo xéo bên phải cổng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên), La Tấn Lực, Lâm Thị Lan, Bùi Văn Tư, Lý Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh..v..v..

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên (khúc cắt đường Mạc Cửu). (Hình: TVM 2012)

Một góc đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đường Mạc Thiên Tích Hà Tiên, khúc Ngả Sáu Điện Lực. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

4/ Đường Bạch Đằng: Người Pháp đặt tên cho đường Bạch Đằng là Rue des Cocotiers, ta quen gọi là đường Hàng Dừa. Từ năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Bạch Đằng. Đây là con đường quen thuộc của mình, trên con đường nầy có trại lính (thành 18), có cây dừa ba ngọn nỗi tiếng của Hà Tiên, mời xem bài:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2017/07/03/san-van-dong-ha-tien-va-nhung-chiec-truc-thang-tran-van-manh/

Đường Bạch Đằng thẳng góc với đường Chi Lăng, phía trên giới hạn bởi đường Mạc Tử Hoàng và phía dưới chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay Cầu Bắc ngày xưa. Trên đường Bạch Đằng có Chi Thú Y, mặt nhà sau Thầy Trương Minh Đạt, nhà ông Ký Cụi, chùa Phước Thiện, thầy Lâm Văn Núi, anh Chư, thầy La Từ Sự, Tạ Em Sợi, Trần Tuấn Khanh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Thu Oanh, nhà mình (Trần Văn Dõng, Trần Văn Mãnh), Lê Phước Hải, Huỳnh Văn Bền, Huỳnh Văn Bé, Trần Hồng Khanh, Chị Lệ, Chị Liễu..v..v…

Đường Bạch Đằng Hà Tiên ngày xưa trong những năm 70, nhìn về phía Cầu Bắc, bên trái là tiệm Cafe Quảng Phát, bên trái là quán cafe nhạc Khai, kế đó là nhà anh Trần Hồng Khanh. Trong hình: Trần Văn Phi (Hình: TVM)

Góc đường Bạch Đằng – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, nhà có cửa sắt xanh dương là nhà ông Minh Thái Phong. (Hình: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên phải là khúc có tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, bên trái là biệt thự Ông Bầy ngày xưa có cửa sắt xanh dương đậm. (Hinh: TVM 2012)

Đường Bạch Đằng Hà Tiên, hướng nhìn ra phía sông. (Hình: TVM 2012)

Ngả ba đường Bạch Đằng (giữa hình) – Trần Hầu (phía dưới). Ngày xưa bên trái là tiệm Đồi Mồi Lê Minh, bên phải là tiệm Billard nhà bạn Trần Bình. (Hinh: TVM 2012)

5/ Đường Tô Châu: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Tô Châu là Rue de la Poste (đường Bưu Điện) vì đường nầy chạy ngang qua nhà Bưu Điện xưa (sau nầy đổi là Chi Bưu Điện mặt trước nhìn ra đường Tô Châu, mặt sau nhìn ra bờ Đông Hồ). Đường Tô Châu chạy thẳng ra đường Trần Hầu ngay tại mé sông có cầu phao nổi ngày xưa, phía trên thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng. Đường Tô Châu thời chiến tranh trong những thập niên 1960-1670 có một đoạn chạy ngang Chi Cảnh Sát và dinh Ông Quận Trưởng nên khúc đường nầy có lính gát và giới hạn sự đi lại. Trên đường Tô Châu tính từ đầu đường Mạc Tử Hoàng đi xuống mé sông là có: Dinh Quận Trưởng (lúc ông Thiếu Tá Hoa làm quận trưởng, là ba của bạn Trần Văn Minh gọi là « Minh Còi » học chung lớp với mình thời Trung Học), Chi Cảnh Sát (lúc trước có gia đình bạn Nguyễn Hoàng Nhi con ông Cảnh Sát trưởng học chung lớp với mình), trường Mẫu Giáo, Chi Bưu Điện có gia đình bạn Nguyễn Anh Tài, Nguyễn Anh Khanh, Nguyễn Thị Anh Đào học chung lớp, có sân đánh bóng chuyền, thầy Hứa Văn Vàng, mặt sau vườn nhà ông Ký Cụi, nhà chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, Huỳnh Hồng Quang (anh chị em bạn dì với mình), gia đình Kiều Dũng, dãy nhà Ông Phán Cơ thường cho giáo sư ở trọ, mặt hông của Đình Thần Hoàng, thầy Trần Văn Tường, bạn Trần Thanh Tuyên, Chùa Bà Mã Châu, bên hông khách sạn Tô Châu và khách sạn Đại Tân…v…v…

Trần Văn Mãnh trong những năm 60, phía sau bên phải là Trường Mẫu Giáo Hà Tiên nằm trên đường Tô Châu. (Hình: TVM)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên phải là chùa Bà Mã Châu. (Hình: HungCuongPC)

Đường Tô Châu Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 , bên trái là chùa Bà Mã Châu, đầu đường phía xa là khách sạn Tô Châu. (Hình: HungCuongPC)

Một góc đường Tô Châu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

6/ Đường Phương Thành: Ngày xưa người Pháp đặt tên đường Phương Thành là Rue de Kampot vì đường nầy chạy thẳng lên phía biên giới Việt – Cambodge, giáp giới với tỉnh Kampot bên kia. Đường Phương Thành chạy xuống mé sông Hà Tiên ngay đường Trần Hầu. Có một nơi ba con đường giao nhau: Phương Thành, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích tạo thành ngả sáu, bây giờ người ta gọi là Ngả Sáu Điện Lực (vì ngay đó có nhà đèn điện lực). Con đường Phương Thành là một con đường rất quen thuộc với giới trẻ học sinh Hà Tiên ngày xưa vì mỗi chiều các bạn trẻ thường hay chạy xe Honda, chở nhau từ ngay khu chợ theo con đường Phương Thành ra phía nhà thờ, qua Ấp Chiến Lược, thẳng ra Thạch Động và lên phía biên giới, đó là một khúc đường để phóng xe Honda 67 với tốc độ nhanh mà không bị phiền phức vì sự lưu thông nhờ đường hay vắng xe,…Mình còn nhớ rất nhiều kỷ niệm trên con đường nầy với các bạn Lương Cường, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm,..v..v..(đó là các cao thủ chạy xe Honda ngày xưa mà mình rất sợ khi ngồi phía sau cho các bạn nầy chở ra Thạch Động vì khi chạy ngang qua Ấp Chiến Lược là có một khúc quanh để các bạn đó « lạng » xe rất hấp dẩn, nhưng mà mình ở phía sau thì lại rất sợ…). Kể từ phía mé sông đường Trần Hầu đi lên thì trên con đường Phương Thành có rất nhiều nhà bạn học ngày xưa: Khách sạn Lâm Văn Cao, thầy Hiệu Trưởng Trần Văn Hương ba của bạn Trần Đại Thắng, Trần Mỹ Quyên, Trần Mỹ Ngân, Lâm Hữu Quyền, anh em Vương Đình Phước, Vương Đình Lộc, nhà bạn tên Nguyệt em cô Tuyết con ông Chín Nhà Đèn, cô Tiền Ngọc Thanh, Tiền Ngọc Dung, ngang qua chùa Tam Bảo, nhà hai chị em Thanh Niên, Thanh Nữ, mặt hông nhà thờ, nhà máy xay lúa gia đình chị Lâm Xuân Cúc, nhà bạn Lâm Nhi Tôn, có chùa (Miếu) Bà Cửu Thiên,  rồi dài dài ra phía Ấp Chiến Lược, phía Thach Động có nhà bạn Quách Thị Chol học chung lớp với mình, còn nhiều nhưng mình không nhớ để kể ra…v…v…(Sau nầy khúc đường Phương Thành qua khỏi Ấp Chiến Lược ngày xưa khúc có chùa Phù Dung, đường có tên khác là đường Phù Dung chạy ra xa tới Thạch Động và biên giới).

Đường Phương Thành Hà Tiên ngày xưa trước năm 2000 ngay góc khách sạn Lâm Văn Cao đổi tên là Phương Thành. (Hình: HungCuongPC)

Đường Phương Thành Hà Tiên ngay khách sạn Phương Thành và khách sạn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Phương Thành Hà Tiên, nhìn về phía Nhà Thờ. (Hình: TVM 2012)

7/ Đường Mạc Cửu: Người Pháp đặt tên là Rue Mac Cuu, đường nầy chạy song song với đường Chi Lăng. Đường Mạc Cửu (để tưởng nhớ vị quan khai khẩn ra đất Hà Tiên là Mạc Cửu) chạy ngang qua khu lăng của gia đình họ Mạc, thẳng tới chùa Lò Gạch thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng và trở ra đụng đường Phương Thành. Từ ngày xưa đã lâu có một cái ao nước trước đền thờ Ông Mạc Cửu, sau nầy người Pháp khai thác đất đai nên đào thêm hai cái ao nằm hai bên đường Mạc Cửu nầy, ta quen gọi chung ba cái ao đó là khu Ao Sen. Chính ba cái Ao Sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Đầu kia của đường Mạc Cửu chạy thẳng ra bờ sông Đông Hồ, khúc phía sau dảy nhà cư xá cho nhân viên bưu điện viễn thông ngày xưa. Tính từ đầu đường bờ sông Đông Hồ chạy thẳng lên khu Lăng Mạc Cửu và chùa Lò Gạch thì lần lượt trên đường Mạc Cửu có bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, bên hông cư xá của Nhà Bảo Sanh (gia đình bạn Lê Mai Hoa, chị Lê Mỹ Hồng, chị Lê Mai Hương ngày xưa ở đó). Lần lượt tới nhà Lý Tòng Hiếu, Trương Thái Minh, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Trần Văn Danh, Phạm Thúy Phượng…và thẳng qua khu Ao Sen,…Trong những năm 1970-1974 cô Võ Kim Loan lúc dạy văn trường Trung Học Hà Tiên ở tại căn nhà đối diện với nhà Lý Tòng Hiếu trên con đường Mạc Cửu nầy.

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, trước 1975 có Bệnh Viện Nguyễn Thần Hiến, sau 1975 đổi tên là Bệnh Viện Đa Khoa Hà Tiên. Sau 2011 bệnh viện đã bi phá hủy nhường chổ cho Quảng Trường. (Hình: PhungAnhKiet)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ. (Hình TVM 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, hướng nhìn về phía cây đa chùa Lò Gạch. (Hình TVM, 1999)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, khúc trước Ao Sen. (Hình: TVM 1999)

Ngả ba đường Mạc Cửu – Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu khúc giáp với đường Phương Thành Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Mạc Cửu Hà Tiên, bên phải là Nhà Bảo Sanh ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

8/ Bến Trần Hầu: Bắt đầu vào năm 1889, người Pháp lấp vùng sình lầy bờ sông và cho đấp đá dọc theo mé sông từ cầu Quan Thuế lên tới Pháo Đài. Người Pháp cũng cấm không cho xây cất nhà cửa dọc theo mé sông nầy và thành lập một bến sông đặt tên là Quai Doceul (tên của viên Chánh Tham Biện Hà Tiên từ năm 1889-1890). Sau nầy con đường được đổi tên là Bến Trần Hầu ngày nay thì đề là Đường Trần Hầu (tên ông Trần Đại Lực có chức là Lực Tài Hầu). Con đường Trần Hầu là một một trong những con đường chánh của Hà Tiên, có thể xem như là mặt tiền của Hà Tiên. Thời xưa đường đó cũng nằm trong lộ trình chạy xe Honda mỗi buổi chiều du ngoạn của giới học sinh Hà Tiên. Trên mặt tiền nầy có rất nhiều khách sạn nhìn ra bờ sông: khách sạn Tô Châu, Đại Tân, Vân Tiên, Lâm Văn Cao,…(tất cả các khách sạn nầy ngày nay hầu như đã thay hình đổi dạng và đã đổi luôn tên…:Đại Tân thành Đông Hồ, Vân Tiên thành Hà Tiên, Lâm Văn Cao thành Phương Thành….). Trên đường Trần Hầu còn có bến đò, chợ cá, Đài Kỷ Niệm, Thánh Thất Cao Đài,…và có nhà của các bạn: Trịnh Công Tước, Phan Thị Liên Phương, Trịnh Xuân Tài, Đình Quận, Trần Phương Nhu, Dương Văn Hiếu, …v…v…

Bến Trần Hầu nhìn từ phía Cầu Bắc Hà Tiên trước 1975. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Một khúc đường Bến Trần Hầu Hà Tiên vào khoảng năm 1966. Photo: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Bến Trần Hầu (Hà Tiên) ngày xưa, bên trái là Đài Kỷ Niệm, bên phải là dảy phố buôn bán có tiệm nước mắm của gia đình Tiền Thành Ký. (Photo: Bronson Ha)

Đường Trần Hầu ngày xưa, nhìn qua khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên)

Đường Trần Hầu Hà Tiên năm 1994. (Hình: Trần Văn Mãnh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: Chánh Thái Minh)

Đường Trần Hầu Hà Tiên ban đêm, bên trái là phố Tứ Diện và tiệm Xuân Thạnh, bên phải là chợ tạp hóa. (Hình: Hoàng Nguyên 1998)

Đường Trần Hầu Hà Tiên trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Khúc đường Trần Hầu có nhà Thầy Phan Thanh Trì, ba của Phan Thị Liên Phương. (Hình: AaronGeddes 2012)

Góc đường Trần Hầu – Nhật Tảo Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Trần Hầu – Tuần Phủ Đạt Hà Tiên sau những năm 2000

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng (Hà Tiên), bên phải là tiệm Billard ngày xưa của gia đình bạn Trần Bình.

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên

Góc đường Trần Hầu – Bạch Đằng Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Đường Trần Hầu Hà Tiên nhìn từ trên cao, bên trái là khách sạn Phương Thành. (Hình: TVM 2012)

9/ Đường Đống Đa: Thời Pháp đường Đống Đa có tên là Rue de l’Ecole vì ngày xưa người Pháp xây trường học quay mặt ra đường nầy. Đến năm 1947 trường mới quay mặt chánh ra đường Mạc Công Du, cổng sau trường nhìn ra đường Đống Đa. Năm 1952 tên đường chánh thức đổi thành đường Đống Đa. Dân Hà Tiên của chúng ta rất quen thuộc với đường Đống Đa vì ngày xưa lúc còn học trường Tiểu Học lúc nào cũng có lui tới trên con đường nầy. Vì nằm ở cổng sau của trường Tiểu Học nên ngày xưa khúc nầy có rất nhiều gian hàng bán bánh trái cho học sinh ra chơi mua ăn…Đường Đống Đa thẳng góc với đường Mạc Tử Hoàng ngay tại điểm giao với đại lộ Mạc Tiên Tích, chạy dài ra phía chợ đường Đống Đa thẳng góc với đường Lam Sơn và ngưng lại nơi đó. Trên đường Đống Đa nầy mình cũng có rất nhiều kỷ niệm vì trên đường nầy là có nhà của bạn Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên. Mỗi khi đi chơi về khuya, mình thường đưa Nguyên và Hưởng về tới khúc đường Đống Đa nầy (khoảng đối diện với Chi Thanh Niên và sân quần vợt ngày xưa). Nhiều lúc Hưởng thường lén lấy cắp một chiếc dép của mình nên mình phải đi theo Hưởng về tới khúc đường nầy, vừa đi vừa năn nỉ Hưởng để được trả dép lại rồi mình mới về nhà được…Ngoài ra trên đường Đống Đa nầy còn có nhà bạn Trương Kim Ô học chung với mình, Trần Yến Phượng, Trần Tuấn Anh..v…v…

Ngả tư đường Dống Đa – Mạc Cửu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Đống Đa Hà Tiên giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn. Bên phải ngay các chậu kiểng là nhà bạn Trương Kim Ô (học chung lớp với Trần Văn Mãnh). (Hình: TVM 2012)

10/ Đường Lam Sơn: Người Pháp lúc đầu đặt tên cho đường Lam Sơn là Rue de la Pagode vì trên đường nầy có chùa Ông Bổn (đúng ra là Miếu) thờ ông Bổn Đầu Công tên là Trịnh Hòa. Năm 1952 đường có tên chánh thức là đường Lam Sơn. Đường Lam Sơn là con đường hàng ngày mình đi chợ, đến nhà bạn Lý Mạnh Thường, đến nhà các bạn Nguyễn Văn Tài, Lý Cui,…và cũng là đường để đi ra bãi biển Mũi Nai ngày xưa. Đường Lam Sơn một đầu thẳng góc với đường Bạch Đàng nhà mình, đầu kia chạy dài lên khúc ngọn núi có chùa Giải Thoát và khi quẹo trái là đi ra Mũi Nai. Đường Lam Sơn chạy ngang chợ Hà Tiên xưa, tiệm Sanh Hoạt bạn Lương Cường, nhà chị Lâm Xuân Cúc, Trần Ý Hui, cô Lý Ánh Nguyệt, tiệm bánh mì Tân Thái, Dương Thị Phương Hà, Đỗ Minh Quang, Lý Kiến Tân, Dương Hồng Minh, Trần Hoàng Phượng, Trần Hoàng Trang, Trần Học Quang, Trần Mỹ Hạnh, phía trên nữa là nhà bạn Lý Cui, nhà chị Hai Mùi vợ anh Lê Quang Chỉnh (anh bạn dì với mình). Ngày xưa mình thường thả bộ trên con đường Lam Sơn nầy để lên nhà Lý Cui mỗi chiều để chơi đàn chơi nhạc trong nhóm Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Tống Châu Thành, Trần Văn Yến,…

Ngả tư đường Lam Sơn – Phương Thành ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là mặt tiền ngôi chợ ngày xưa trước năm 2000. (Hình: HungCuongPC)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, nhìn về phía đường Bạch Đằng. ngôi nhà ngói ngay ngả ba Lam Sơn-Bạch Đằng là nhà Huỳnh Văn Bé. (Hình HungCuongPC 1997)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên trái là tiệm (lò bánh mì) Tân Thái nhà Dương Phương Hà, bên phải là đầu đường Đống Đa.

Đường Lam Sơn Hà Tiên, bên phải có ngôi nhà đầu đường là Tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hinh: HuynhNT)

Đướng Lam Sơn Hà Tiên, hướng từ đường Bach Đằng nhìn ra phía chợ ngày xưa. (Hình: TVM 2012)

Đường Lam Sơn Hà Tiên, hướng nhìn về phía chợ cũ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Ngả tư Lam Sơn – Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên, hướng nhìn về phía đường Nhật Tảo và Cầu Câu, bên lề đường trái ngay chổ người đang đi bộ là nhà chị Dương Hồng Châu. (Hình: TVM 2012)

11/ Đường Mạc Tử Hoàng: Tên thời Pháp là Rue de l’Appontement, tức là đường Cầu Tàu vì một đầu đường Mạc Tử Hoàng ra tới bến tàu ngày xưa ở sông Đông Hồ. Đầu kia chạy tới đường Phương Thành ngay chổ Nhà Thờ. Đến năm 1952 ông Tỉnh trưởng Hà Tiên Lê Văn An đặt tên là đường Mạc Tử Hoàng (con trai của ông Mạc Thiên Tích). Đường Mạc Tử Hoàng là con đường quan trọng về phương diện chiến lược và hành chánh ngày xưa vì trên đường nầy tính từ mé sông thì có Sân Vận Động (sân đá banh) ngày xưa, khu Chi Công Chánh, dinh của ông Phó Quận (ngày xưa gia đình của bạn Lê Mai Hoa cũng có lúc ở trong khu dinh thự nầy), đối diện bên nầy là cổng chánh của trại lính Thành 18, tiếp đến là Tòa Bố tức là nơi làm việc của ông Quận Trưởng, một bên là cổng sau của ngôi trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, một bên là cổng sau của ngôi trường Tiểu Học Hà Tiên, nhà của các em Lành, Tuyết (con của Bà Năm), kế nhà nầy ở ngay góc đường, là nhà của một bạn tên Thu bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, phía trước nhà có ao rau muống, ngày xưa mình rất sợ cái ao rau muống nầy vì nghe nói có « ma da » nó kéo chân mình xuống ao…). Đến Nhà Thờ là hết đường Mạc Tử Hoàng. Ngày nay đường Mạc Tử Hoàng còn được nối dài lên con đường đất nhỏ ngày xưa đi lên tới chùa Lò Gạch và gặp ngay đường Mạc Cửu. Khúc đường Mạc Tử Hoàng từ Nhà Thờ lên đến chùa Lò Gạch nầy là rất quen thuộc với học sinh trung học ngày xưa vì mỗi khi có giờ học trống thì cả nhóm kéo nhau lên núi Lăng bằng con đường đất nhỏ nầy (trên con đường nhỏ nầy bên trái có nhà của chị Trần Diệu Châu và cô Trần Diệu Hiền thơ ký và giám thị của trường chúng ta ngày xưa).

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, bên phải là Nhà Thờ. (Hình TVM 2012)

Đường Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, nhìn về phía dinh Quận ngày xưa. (Hình TVM 2012)

Góc đường Mạc Tử Hoàng (trái) – Phương Thành (phải) có nhà thờ Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

12/ Đường Tuần Phủ Đạt và đường Tham Tướng Sanh: Hai con đường nầy được xây dựng khi ngôi chợ Hà Tiên ngày xưa làm xong, lúc đầu chưa có tên. Đến năm 1952 hai con đường song song hai bên hông chợ Hà Tiên nầy mới được ông Nguyễn Văn Hải đặt tên: Tuần Phủ Đạt tức là Ông Tuần Phủ Huỳnh Mẫn Đạt, Tham Tướng Sanh tức là Tham Tướng Mạc Tử Sanh con của ông Mạc Thiên Tích. Vì hai con đường nầy ở ngay vị trí hai bên chợ Hà Tiên nên rất tấp nập, có nhiều tiệm buôn, cửa hàng. Mỗi buổi sáng trên đường Tuần Phủ Đạt thì có họp chợ bánh trái, đủ thứ bánh trái cho người Hà Tiên ăn điểm tâm: bún chả giò, hủ tiếu hấp, bánh tầm bì, cháo đậu đỏ, xôi hột gà, xôi tôm khô, chè đậu trắng, chè hột me,…., Đường Tuần Phủ Đạt khúc trên gặp đường Chi Lăng, khúc dưới thì ra đến chợ cá ngày xưa. Ngay khúc trước Phố Tứ Diện tiệm văn phòng phẩm nhà Minh Thái Phong, ngay trước đó là khoảng đất dành cho má của bạn Lý Cui bán gạo. Ngày xưa khi cuối tuần không có giờ học nhóm mình thường hay ra ngay khu bán gạo của má bạn Lý Cui để nói chuyện chơi, gồm có Lý Văn Tấn, Lý Văn Tịnh, Trần Văn Yến,..v..v..Cả bọn nhóm lại phía sau quầy hàng gạo và nói chuyện với Lý Cui, khi có khách mua gạo, đong gạo xong, Lý Cui phải chở bao gạo phía sau yên xe đạp để giao đến tận nhà cho khách, lúc đó cả bọn cũng còn lai rai ở đó chờ cho Lý Cui giao gạo xong nói chuyện tiếp…Phía bên kia đường tính từ khúc trên đường Chi Lăng dài xuống thì có nhà các bạn: Rạp chiếu bóng Phát Minh (cất lúc sau nầy) Lương Cường, Hồ Anh Dũng, Hồ Thị Kim Hoàn, Hồ Thị Kim Nga,…, Phan Thanh Tùng, Phan Thanh Liêm, Phù Ngọc Anh, Phù Ngọc Liên, Trần Tiên,….

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa, bên phải có khoảng đất trống sau nầy có rạp ciné Phát Minh, giữa hình là nhà Hồ Thị Kim Hoàn. (Photo: Dave Kathy Crawford 1966)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn có ba căn phố đối diện với mặt bắc của chợ Hà Tiên: Tiệm Ông Tàu Lái, Tiệm Sanh Hoạt và Tiệm cafe Dũ Long. (Photo: Fred Abery)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên ngày xưa trước năm 1975, nhìn về vườn Ông Ba Lón. (Hình: Hồ Anh Dũng)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn Hà Tiên.

Đường Tuần Phủ Đạt ngay khu chợ Hà Tiên xưa trước năm 2000. (Hinh: HungCuongPC)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên. (Hình: HuynhNT)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, khúc giữa hai đường Chi Lăng và Lam Sơn (Hình: Hồ Anh Dũng)

Đường Tuần Phủ Đạt Hà Tiên, giáp với Đường Trần Hầu. (Hình TVM 2012)

Đường Tham Tướng Sanh thì dài hơn đường Tuần Phủ Đạt vì khúc trên gặp ngay trước bệnh viện Nguyễn Thần Hiến, khúc dưới cũng ra tới chợ cá ngày xưa. Ngày xưa người Pháp đặt tên là Rue de l’Hôpital (đường Bệnh Viện). Đến năm 1952 được đổi tên là đường Tham Tướng Sanh. Trên đường Tham Tướng Sanh bắt đầu là Nhà Bảo Sanh (nơi mà mình sinh ra ở đó…cùng lúc với anh Trần Văn Dõng và hầu như tất cả các bạn cùng trạc tuổi mình đều được sanh ra ở Nhà Bảo Sanh nầy), tiếp là mặt sau Chi Thú Y, mặt trước nhà thầy Trương Minh Đạt (quán Ti La), bên hông vườn nhà bạn Tăng Kim Sơn, nhà bạn La Văn Cao, gia đình ông Lâm Văn Cao, dài xuống nhà Trịnh Tố Chinh (tiệm Hiệp Lợi), nhà chị Đỗ Mùi,…ra tới tiệm cơm Xuân Thạnh. Nếu bên đường Tuần Phủ Đạt buổi sáng có hàng bánh trái điểm tâm thì bên đường Tham Tướng Sanh bên nầy là chợ rau cải và tạp hóa, chợ họp ngay từ đầu đường Lam Sơn chạy dài xuống đụng Bót Cảnh Sát ngay chợ cá. Phía bên đường Tham Tướng Sanh thì mình ít đi buổi sáng vì người ta bán toàn là rau cải, tạp hóa, dành cho các bà nội trợ đi chợ mua thực phẩm về nấu cơm trưa chiều, mình chỉ quanh quẩn bên phía chợ bánh trái bên đường Tuần Phủ Đạt để ăn hàng vặt mỗi sáng…!!

Góc đường Tham Tướng Sanh – Lam Sơn Hà Tiên. Tiệm Hoàng Sơn là ngay chổ tiệm Đồi Mồi Lâm Văn Cao ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

Đường Tham Tướng Sanh Hà Tiên, ngay bên hông chợ Hà Tiên xưa. (Hình: HuynhNT)

Góc đường Tham Tướng Sanh – Trần Hầu Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

13/ Đường Cầu Câu, đường Nhật Tảo và đường Nguyễn Thần Hiến: Ba con đường nầy song song với nhau và giới hạn một đầu là đường Chi Lăng, đầu kia là đường Trần Hầu. Đây là ba con đường ngày xưa mình cũng rất thích đi dạo một mình vì trên mỗi đường đều có nhà các bạn quen thuộc. Người Pháp quy hoạch ba con đường nầy cùng một lúc với ngôi chợ, bệnh viện. Lúc đầu chưa có tên, đến năm 1952 do ông tỉnh trường Hà Tiên đặt tên. Trên đường Cầu Câu có nhà của các bạn: Phan Văn Hữu, Nguyễn Ngọc Lê, Hà Thu Hương, Nguyễn Minh Hùng (Hùng Hynos), chị Nguyễn Thị Hoa cùng các em Nguyễn Thị Lan, Liên, Liễu, Lệ (Thủy)…Đầu đường Cầu Câu và Trần Hầu có nhà Ông Đốc Hà Văn Điền là ba của cô Hà Thị Hồng Loan. Đầu đường Cầu Câu và Lam Sơn có nhà anh Độ, khoảng đường nầy ngày xưa mình cũng rất thường hay đi qua đi lại…!!!

Đường Cầu Câu Hà Tiên. (Photo: Axel.R.D 2011)

Góc đường Cầu Câu – Trần Hầu. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Cầu Câu – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nhật Tảo thì có một ngôi nhà rất nổi tiếng đó là nhà Bà Bảy Tiếu, ngôi nhà dành cho quý thầy thường ở trọ thời đi dạy Trung Học ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970: thầy Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Phúc Hậu,…Gần đầu đường phía Trần Hầu thì có nhà bạn Hà Quốc Hưng, nhà của Tòng cũng trên con đường nầy (Hưng và Tòng là anh em cô cậu ruột…)

Góc đường Nhật Tảo – Lam Sơn Hà Tiên. (Hình: TVM 2012)

Khúc đường Nhật Tảo Hà Tiên góc có chùa Ông Bổn, phía dưới hình là đường Lam Sơn, phía xa là đường Chi Lăng. (Photo: AdriaanCastermans)

Đường Nhật Tảo Hà Tiên, giữa đường Lam Sơn và Chi Lăng. (Hình: TVM 2012)

Trên đường Nguyễn Thần Hiến có nhà các chị Huỳnh Ánh Tuyết, Phan Thu Hường, cô Ngọc Lan, cô Sồ…v..v…Khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng thì có nhà của bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên, Trần văn Hữu (Mạnh). Con đường Nguyễn Thần Hiến rất êm đềm và bình lặng, ngày xưa mình rất thích đi bộ qua con đường nầy. Ngoài ra còn có nhà của Phan Kim Chi ngày xưa mỗi khi đến ngày cúng sao thường gặp Kim Chi trên chùa Phật Đường, lúc đó còn nhỏ Bà Ngoại mình thường dắt lên chùa Phật Đường cúng sao và chờ khi cúng xong được ăn chè, Kim Chi cũng theo ông bà đi chùa.

Góc đường Nguyễn Thần Hiến – Chi Lăng Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Góc đường Nguyễn Thần Hiến Hà Tiên. (Hình: Nguyễn Như Thạch)

Đến đây cũng gần như chấm dứt nhắc lại chuyện xưa về đường phố Hà Tiên, những con đường mà ngày xưa mình đã đi qua rất nhiều, khi thì để đến nhà các bạn thân để chờ rủ nhau đi chơi, khi thì để nhìn thoáng qua một hình bóng nào đó ẩn hiện trong nhà…Ngoài ra còn một con đường đất nhỏ lúc đó hình như chưa có tên nay có tên là đường Phạm Văn Ký (không biết tên đường đặt ra từ thời nào, đường nầy thẳng góc với đường Lam Sơn về phía trên), con đường nầy mình cũng thường đi vào những buổi chiều khi cơm nước xong, đó là đi để đến nhà bạn Lê Phước Dương và Lê Phước Hải. Ngày xưa căn nhà nhỏ của Hải và Dương gọn gàng xinh xắn (bây giờ thì đã cất phát triển thêm rộng lớn) chỉ có ba mẹ con ở, những lúc mình đến chơi mẹ của Dương và Hải tiếp đón tận tình rất tử tế, trong nhà có chiếc bàn học cạnh cửa sổ và cũng như thường lệ thời đó, có một cây đàn guitare để đàn hát cho vui…Ngày nay nghĩ lại bạn Phước Hải đã lâm vào cơn bệnh tai biến, ăn nói hành động khó khăn, mình rất buồn và cảm thương cho số phận của một người bạn chẳng những học cùng trường trung học Hà Tiên mà còn là người bạn văn nghệ từng cùng nhau đi trình diển rất nhiều nơi tại Hà Tiên. Lê Phước Dương là một thành phần trong nhóm có tên « Gói Pall Mall chịu » vì nhóm nầy của mình ngày xưa thường hút thuốc Pall Mall nhưng hay mua chịu!!!. Vài hàng viết xong xin kết thúc phần tưởng nhớ những con đường xưa của Hà Tiên, xin mời các bạn đọc qua và góp ý thêm nhất là xin nhắc lại nhà của từng bạn trên con đường nào để mình bổ sung vào bài viết cho đầy đủ nhé, xin cám ơn tất cả.

Paris, những ngày cận tết Mậu Tuất 11/02/2018 Trần Văn Mãnh viết theo tài liệu của Nhà nghiên cứu Hà Tiên Thầy Trương Minh Đạt. (xin mời thầy cô và các bạn tìm đọc quyển sách « Nghiên Cứu Hà Tiên tập 2 » của thầy Trương Minh Đạt sẽ biết rỏ nhiều chi tiết hơn về những con đường của phố Hà Tiên)

Bổ túc: sau khi đọc bài anh Trần Văn Dõng có góp ý thêm về hai con đường nhỏ không có tên nhưng rất quen thuộc đối với những người Hà Tiên xưa:

Hai con đường không tên, cùng thẳng góc với đường Bạch Đằng và Tô Châu.

Sẳn bài của Trần Văn Mãnh viết về các con đường ở Hà Tiên xưa, mình xin góp vài phụ lục « ngoài lề » cho vui. Nói là phụ vì đây không phải công trình nghiên cứu, sưu tầm gì cả mà chỉ là nhận xét của một người con đất Hà sống ở thời đó. Chuyện là như vầy: Ở Hà Tiên thời đó có hai con đường ngắn nhất, cả hai đều không (chưa) có tên và trên hai con đường nầy tuyệt không có ngôi nhà dân cư nào cả. Các bạn có biết hai đường nầy không?
1/ Đường thứ nhứt là con đường từ Chi Thú Y ngày trước đâm thẳng ra Chi Bưu Điện, giới hạn giữa đường Bạch Đằng và đường Tô Châu. Hồi đó đường nầy chỉ là đường rải đá. Một bên là bên hông khu vườn nhà ông Ký Cuội, còn bên kia là khu đất trống trải, không có nhà, chỉ có vài cây dừa, một cây sứ cổ thụ và một sân bóng chuyền dã chiến của các anh hùng, hảo hán cầu thủ thuở đó của đất Hà Tiên (đội bóng nầy do đó được đặt tên là đội cây Sứ (hay bông Sứ). Theo trí nhớ của mình thì gồm các nhân vật sau (bây giờ chắc nhiều người đã vắng bóng): các Ông Năm Nghép, Sáu Lỹ, Tư Chuộn (cà phê Dũ Long), Ông NHUM (đồi mồi Lâm Văn Cao), Lê Minh (đồi mồi), hia Phón, anh Bún (con ông Tư Hiếm), Ông Bảy Kính, ông Đức Quang chụp hình, thỉnh thoảng có Ông Sáu Quang (ba của Trần Văn Hữu), Ông Âu Tư (bánh Kẹo), Vạn Ích Đường (thuốc bắc), anh Lô Sến, có lúc có Ông Điệp (ba Kim Hoàn cũng vô chơi)…Còn vài ông nữa nhưng mình quên tên rồi.
2/ Con đường thứ hai cũng là đường đất đá, không tráng nhựa, cũng giới hạn bởi đường Bạch Đằng và đường Tô Châu, nhưng chạy sát trước cửa đình Thần Thành Hoàng. Đường nầy chỉ duy nhất có ngôi đình một bên, còn bên kia là hông nhà ông Bái (ba của Tạ Em Sợi), xong tới khoảng trống trước cửa đình, xong tới hông dãy nhà kho 3 căn (của gia đình Ông Thái Dũ hay ai đó).
Hai con đường nầy ngày xưa chắc được xem là hẻm, vả lại không có nhà dân, nên chưa cần đặt tên, chưa kể nó quá ngắn. Luu ý thời đó chưa có mạng Internet nên nhà cửa cần có địa chỉ rỏ ràng để nhận thư từ gởi qua Bưu Điện.
Còn một vài điều thú vị về đường phố Hà Tiên xưa lúc nào vui mình kể tiếp.

                                                  (Trần Văn Dõng)

DinhThanThanhHoang_HaTien_TrungLyHuu_2018

Con đường trước đình Thần Thành Hoàng ngày nay đã được tráng xi măng. (Hinh: Trung Lý Hữu 2018)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Giới thiệu Lâm Hữu Quyền

 Lâm Hữu Quyền

Thầy cô và các bạn thân mến, cũng như đa số các học sinh gốc gác tại Hà Tiên, bạn Lâm Hữu Quyền là một học sinh xuất thân từ Trường Trung Học Hà Tiên xưa của những năm 60-70. Bạn Quyền học trên mình một lớp (niên khóa Đệ Thất của Quyền: 1963-1964), Quyền học chung lớp với anh Trần Văn Dõng và cũng là bạn thân của các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn. Nhà của Quyền ngày xưa ở trên đường Phương Thành, khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng. Quyền có người anh tên Lai (Lai chơi ping-pong rất hay) và người em tên Quới (Quới cũng là một cựu học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa nhưng không may Quới đã mất trong một tai nạn giao thông khi còn rất trẻ tuổi). Sau khi thi đổ Tú Tài toàn phần, bạn Lâm Hữu Quyền theo học khóa Sư Phạm tại trường Đại Học Cần Thơ (trước mình một khóa) ban Toán Lý Hóa và trở thành một giáo sư Toán, bạn Quyền có may mắn được trở về Hà Tiên giảng dạy và vẫn phục vụ trong ngành giáo nhiều năm tại mái trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Bạn Lâm Hữu Quyền cũng đảm nhận chúc vụ Hiệu Trưởng của trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm. Hiện nay Quyền đã nghỉ về hưu trí, cùng gia đình đã có con cháu vui vẻ. (Trần Văn Mãnh viết lời nhập)

Bạn Lâm Hữu Quyền hiện nay

Sau đây xin mời Thầy Cô và các bạn đọc lời tự thuật của bạn Lâm Hữu Quyền:

Tôi rất xúc động khi bắt gặp lại những hình ảnh của Hà Tiên thời xưa nói chung và Thầy Cô cùng học sinh các trang lứa đã một thời ngồi dưới mái trường Trung Học Hà Tiên thân yêu của chúng ta. Những kỷ niệm xưa từ những lúc rong chơi trên phố xá và những buổi sinh hoạt dưới mái trường Hà Tiên từ tiềm thức ào ạt dâng trào trong tôi một cảm xúc khó tả, nhất là những Thầy Cô, bạn bè, đàn em đã vĩnh viển ra đi. Cám ơn bạn Mãnh đã dầy công sưu tầm văn hóa Hà Tiên xưa và mong có dịp cùng trao đổi về Hà Tiên xưa. Chúc bạn vui khỏe và tràn đầy hạnh phúc.

Quý Thầy Cô và các bạn cùng lớp của tôi:

Quí Thầy Cô :

1- Thầy Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng)
2- Thầy Nguyễn Văn Nén (Hiệu Trưởng)
3- Thầy Lê Văn Triệu
4- Thầy Nguyễn Hồng Ẩn
5- Thầy Đỗ Văn Trợ
6- Thầy Nguyễn Văn Thái
7- Thầy Nguyễn Đức Sơn
8- Thầy Võ Thành Tài
9- Thầy Bùi Hữu Trí
10- Thầy Đinh Văn Giáp
11- Thầy Trương Minh Hiển
12- Thầy Phan Văn Xuân
13- Thầy Nguyễn Văn Út
14- Thầy Hồ Quang Điệp
15-Cô Vương Thị Lành
16- Cô Hà Thị Hồng Loan
17- Cô Nguyễn Minh Nguyệt
18- Thầy Trịnh Học Ký

Các bạn cùng lớp:

1- Quách Ngọc Sơn (đã mất)
2- Nguyễn Văn Cường (đã mất)
3- Trần Anh Kiệt (đã mất)
4- Trần Văn Tiếu (đã mất)
5- Tống Châu Thành (đã mất)
6- Trần Mỹ Quyên
7- Lê Mai Hương
8- Bùi Thị Sửu
9- Huỳnh Ánh Tuyết
10- Huỳnh Ái Chên
11- Đỗ Mùi
12- Phan Thu Hường
13- Thái Cẩm Hà
14- Hứa Nguyệt Quang
15- Nguyễn Ngọc Lan
16- Lê Cẩm Nhung
17- Bùi Kim Huê
18- Lý Cảnh Tiên
19- Bùi Văn Tư (tên ở nhà là Quốc)
20- Phan Văn Hữu (tên ở nhà là Hộ)
21- Trang Thanh Sơn
22- Huỳnh Văn Ngoành
23- Đỗ Bảo Vĩnh
24- Nguyễn Quang Trung
25- Trương Trung Cang
26- Trần Văn Dõng
27- Chung Lưỡng Tài
28- Lê Văn Tấm
29- Nguyễn Đình Nguyên
30- La Văn Cao (sau đổi tên là Tạnh)
31- Nhan Hồng Hà
32- Nguyễn Thành Lập
33- Trần Quang Hoàng
34- Lý Kiến Tân
35- Tiền Hữu Minh
36- Thái Kim Hồng (đã mất)
37- Vương Ngọc Liên (em của cô Vương Thị Lành)
38- Võ Văn Điệp
39- Đỗ Văn Quang
40- Nguyễn Văn Tỹ
41- Khưu Thiên Phước
42- Nguyễn Văn Tân
43- Lê Công Hưởng (đã mất)
44- Nguyễn Văn Tuấn (đã mất ở Sài Gòn)

Do trí nhớ có hạn, danh sách quí Thầy Cô vầ các bạn học có lẽ còn thiếu, mong các bạn bổ sung cho. Thành thật cám ơn.

Trái: Trang Thanh Sơn, phải: Lâm Hữu Quyền, bạn học gặp lại nhau tại Hà Tiên sau hơn 40 năm xa cách.

Tôi còn nhớ một kỷ niệm sâu sắc : Câu cổ Thầy Hiệu Trưởng

Năm học 1966-1967, tôi học lớp Đệ Tứ. Trong giờ ra chơi, như thường lệ, tôi cùng các bạn nô đùa trên hành lang, dưới sân trường. Trong khi hăng say chạy giởn, tôi đến câu cổ một « bạn » đang đứng dựa cột nhìn xuống sân. Lúc ấy, tôi thấy các bạn ở dưới sân đứa thì trố mắt, đứa thì le lưỡi, đứa thì lấy tay ra hiệu chỉ trỏ « bạn » kế bên tôi. Tôi thấy kỳ kỳ và quay sang « bạn » của mình và quỉ thần ơi! Đó là thầy Hiệu Trưởng Lại Xuân Quất mà tự nãy giờ tôi đang câu cổ. Thầy quay lại nhìn tôi cười với vẻ ngạc nhiên. Tôi hồn vía lên mây, vội vàng xin lỗi Thầy và lủi vào lớp. Các bạn ở các lớp đã có trận cười hết biết. Nếu còn sống, không biết thầy Quất có còn nhớ đứa học trò tinh quái (vô tình) nầy không? Đó là kỷ niệm nhớ đời trong thời học sinh của tôi.

Lâm Hữu Quyền (Hà Tiên 2017)

Tái bút: Đây là bài tự thuật giới thiệu bạn học cùng trường Lâm Hữu Quyền, tuy nhiên bạn Quyền cũng là một người thầy dạy học của Trường Trung Học Hà Tiên rất nhiều năm và đã giảng dạy cho các đàn em quen thuộc ở Hà Tiên của chúng ta. Vì thế mong rằng các đàn em thân mến của chúng ta sau khi đọc bài nầy, hãy nhớ đến thầy Quyền ngày xưa và gởi bài viết giới thiệu thầy Lâm Hữu Quyền nhé, rất hoan nghinh và chờ đón bài viết của các đàn em Hà Tiên đã từng học với thầy Lâm Hữu Quyền. (Trần văn Mãnh viết lời kết)

Hình ảnh: Lâm Hữu Quyền, Trang Thanh Sơn