Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…

 

Publicités

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp bài về chủ đề « Thành Mười Tám ở Hà Tiên », bạn Quang Nguyên đã bỏ thời giờ quý báo để dọ hỏi và viết ra một bài rất độc đáo và thú vị. Những giờ ra chơi « chui lỗ chó » để qua dưới chân Thành Mười Tám tìm bắt trứng ếch nhái hay đổ nước bắt dế của nhóm bạn trường Tiểu Học Hà Tiên của Quang Nguyên gây lại cho mình một nỗi nhớ về tuổi thơ ở Hà Tiên…Đối với mình thì Thành Mười Tám cũng nằm trong hồn mình suốt cả một thời tuổi trẻ…làm sao không có liên quan đến Thành Mười Tám khi mà bảy ngày trong tuần đều có đi qua đi lại và ngay cả khi cuối tuần cũng đi lần mò dọc theo chân thành phía bên đường Bạch Đằng để tìm kiếm đồ chơi trong các đống phế thải của lính trong thành vất ra…Trái với nhóm bạn của Nguyên, mình không có chơi trò ném trứng ếch hay đổ nước bắt dế, mình chỉ thích đi dọc theo bên hông Thành Mười Tám để lượm pin về thắp bóng đèn…Đến đây xin kể chi tiết và hơi dài dòng về chủ đề nầy, hồi xưa lúc còn học tiểu học mình có quen với hai anh em bạn học, một người tên Dũng và một người tên Liêm, hai anh em nầy chắc là con của gia đình lính tráng sống trong trại Thành Mười Tám. Hằng ngày mình thường gặp Dũng và Liêm đi chợ ngang nhà mình đường Bạch Đằng, mình thường đón Dũng hay Liêm để hỏi xin pin « Ô môi »!! Pin « Ô môi » là như thế nào và tại sao muốn xin pin « Ô môi »? Số là hồi xưa quân lính trong ngành truyền tin hay sử dụng pin « Ô môi » lắp trong máy phát sóng và khi pin gần hết điện thế thì họ vứt bỏ bên ngoài dọc theo chân Thành Mười Tám…Tuy là gần hết điện (ta thường nói hết pin) nhưng pin « Ô môi » vẫn còn rất mạnh trong công việc thấp sáng bằng bóng đèn nhỏ xíu 1.5 hay 3 V. Nói về pin « Ô môi », đúng như cái tên tượng hình của nó, pin nầy cấu tạo bằng những đỉa nhỏ vuông vức chồng lên nhau rất dài giống hệt như trái ô môi. Còn điều lạ thường nữa là pin « Ô môi » không cần phải còn đủ hai cực đầu và đuôi, chỉ cần lượm được một khúc pin là cũng xài được, giống như hiện tượng đuôi của con thằn lằn, dù ta có cắt từng khúc ra , mỗi khúc đuôi đều còn cựa quậy….Khi lượm hay xin được qua Dũng hay Liêm vài khúc pin « Ô môi » rồi việc đầu tiên là phải dùng hai khúc tre nhỏ dài cặp hai bên khúc pin để cho pin đừng cong quẹ gẩy đổ, sau đó phải chạy ra tiệm Sanh Hoạt (nhà ba má của bạn cùng lớp tên Lương Cường) để mua một hoặc hai cái bóng đèn nhỏ. Thời đó mình và anh hai Trần Văn Dõng thường chơi trò chế ra « máy chiếu bóng », nói là máy chứ thật sự là một cái thùng hình hộp giấy cứng, một mặt khoét một lỗ vuông vức hay hình chử nhật để ánh sáng chiếu ra, phía bên trong phải thiết kế sao cho có chổ gắn bóng đèn và có dây điện gắn vào hai cực của pin « Ô môi », phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn « phim » vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để « sản xuất » một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẻ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chử nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình « cao bồi » cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh « sản xuất » phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có « phim màu » rồi đó các bạn…). Thường thì phải vài ngày mới « quay » xong một bộ phim. Có máy chiếu, có phim rồi thì phải tổ chức chiếu phim. sau khi thử cho chắc chắn là máy chiếu hoạt động tốt thì mới tới ngày đem phim chiếu bóng ngoài trời. Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chúc để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…

Mình còn nhớ rỏ ngày chiếu bóng ngoài trời. sân chiếu là sân đất ngay trước mặt nhà mình ở đường Bạch Đằng, lúc đó còn sân đất chưa tráng xi măng như bây giờ, màn ảnh chiếu thì làm bằng một miếng vải trắng nhỏ được căng lên bằng hai cây hai bên giống hệt như màn ảnh chiếu bóng di động của Chi Thông Tin thời đó nhưng nhỏ hơn nhiều. Lúc bắt đầu chiếu, khán giả là trẻ nhỏ cùng xóm bu lại xem rất đông, mà lại có cả người lớn tò mò cũng đến xem. Vì ngay trước ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn có một cột đèn đường nên mình phải tháo cái bảng bằng carton của anh Chánh lúc dạy học thêm ở nhà kế bên đem ra dựng bên hông màn ảnh để cho khúc đó tối lại thấy rỏ hình chiếu. Mình còn nhớ rỏ lúc đó có một ông Cảnh Sát cũng có ghé lại xem chiếu bóng và ông chạy đi bằng xe đạp, sau đó một lúc thì sao lạ là ngọn đèn đường bỗng tắt đi cho buổi chiếu bóng rỏ thêm. « Truyền thuyết » kể lại là lúc đó ông cảnh sát chạy tuốt nhanh lên nhà đèn để báo cho nhà đèn tắt ngay đèn tại ngả ba đường nhà mình…Còn nhớ một việc nữa là sau nầy lúc ông ngoại mình mất (khoảng năm 1963) đến những ngày làm « thất » có thỉnh hai thầy Huynh Ba và Nhật Quang đến nhà để tụng kinh làm lễ cúng, đến tối mấy thầy nghỉ lại tại nhà, mình cũng có chiếu bóng trong nhà cho hai thầy xem giải trí…Hai thầy xem rất thích và khen ngợi…Đến đây là kể xong việc tại sao mình hay thường đi la cà bên hông Thành Mười Tám để lượm pin « Ô môi »…

Thời gian trôi qua mình lên bậc Trung Học tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên. Vì hồi xưa phong trào chơi nhạc rất mạnh nên mình và các bạn quen biết rất nhiều với các quân nhân đóng ở Hà Tiên. Mình còn nhớ rỏ một kỷ niệm khác với Thành Mười Tám nữa là lúc đó nhóm học sinh chơi nhạc của mình (Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,….) có quen với một ông trung úy tên thì mình quên mất rồi, ông nầy người vừa không cao lắm, tròn trịa và khá đẹp trai gương mặt giống như Dũng Thanh Lâm thời xưa, trung úy nầy ở trong một căn bên trong Thành Mười Tám, nếu ở ngoài cổng nhìn vào thì ông ở khoảng vài căn đầu phía bên phải. Ông có mời nhóm mình đến nhà ông trong Thành Mười Tám để ăn tiệc và nói chuyện, ca hát cho vui. Lúc đó không biết sao mà nước lên rất lớn, Thành Mười Tám cũng bị ngập, khúc vô nhà ông phải bắt váng cây để đi vào tận trong nhà. Cả nhóm bỏ dép ra leo lên bộ phản gỗ ngồi xếp bằng để ăn (nhậu)…Đến bây giờ mình cũng còn nhớ rỏ lúc ông mời mình vào và chỉ chiếc cầu váng gỗ để đi vào, ông ta có than rằng: « Khổ quá Mãnh ơi, không gì khổ bằng vợ đẻ, nhà nước lụt » …(vì lúc đó hình như là vợ ông vừa mới sinh còn ở Nhà Bảo Sanh, chỉ còn thiếu câu « con đau »..là đủ bộ…vì người ta thường nói « vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt »…). Đến đây mới thực sự chấm dứt chuyện kể về Thành Mười Tám của mình, xin giới thiệu với Thầy Cô và các bạn chuyện kể của cây bút quen thuộc Quang Nguyên, thầy cô và các bạn sẽ rất thích thú khi đọc chuyện kể của bạn Nguyên dưới đây. (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 24/01/2018)

Vị trí Thành Mười Tám tại Hà Tiên ngày xưa

Thành Mười Tám ở Hà Tiên (Quang Nguyên)

Học trò thời “a-còng” (@) của Hà Tiên hôm nay không có bao nhiêu bạn biết về “Thành Mười Tám”, thế nhưng ngày xưa ấy cái thành cũ kỹ này nó dính chặt vào ký ức các cựu học sinh trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Tử Hoàng như hình với bóng, bởi lẽ từ thứ hai đến thứ bảy, ngày nào chúng tôi cũng phải đến trường dù trong lòng không thích thú lắm (bạn nào nói không thích được nghỉ học là sai hoàn toàn!), và khi đi đến cổng trường Trung Học Hà Tiên thì dù bạn đi hướng nào bạn cũng không thể nói với tôi rằng bạn không thấy Thành Mười Tám, bởi cái thành rêu phong cũ kỹ đó nó chỉ cách cổng trường độ mươi bước chân về bên trái khi bạn tan học về…

Ba tôi nói rằng thời Tây thành mang tên một nhà yêu nước Việt Nam tên Thái Lập Thành, mà sau này qua tìm hiểu tôi mới biết rằng cuộc đời và thân phận của ông còn nhiều uẩn khúc, ông là người của Việt Minh, hoạt động trong hàng ngũ của Tây và vô tình bị tử thương trong một trận phục kích của … Việt Minh nhằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson!

Sang thời Việt Nam Cộng Hòa – Ngô Đình Diệm (hoặc trước đó chút ít), người ta lấy tên của một nhân vật mà chế độ thời ấy cần vinh danh, Thành Mười Tám được đổi tên là “trại Cái Văn Ngà”.

Còn tại sao mang tên « Thành Mười Tám »? Đây là câu hỏi cần hỏi nhất mà tôi lại quên hỏi ông, Trời ạ! Lẫn thẩn không đợi tuổi, thôi thì ai muốn biết có thể hỏi thẳng ông, kể cả tôi. Nếu ông biết thì ông sẽ trả lời ngay, còn nếu ông không biết thì tương lai chúng ta sẽ có một bài nghiên cứu về “Thành Mười Tám” của nhà Hà Tiên Học – Trương Minh Đạt. 

Thành này được xây dựng từ khi nào, điều này cũng rất đáng để chúng ta tìm hiểu vì đó là một “di sản tinh thần” của người Hà Tiên, vì một điều đơn giản dễ hiểu bởi giờ đây nó không còn nữa… Hơi bị tiếc! Nhưng biết sao được vì đó là cái tất yếu của sự thay đổi, mà thực ra chúng ta không nhất thiết phải đổi thay kiểu câu hát thiếu chất thơ mà thừa chất… thải, cũng của thời a-còng: “Thà rằng bỏ đi hết ta làm lại từ đầu…”.

Quả thật, Thành Mười Tám người ta đã bỏ đi rồi, chỉ còn lại một chỉ dấu duy nhất là hai cây sao cổ thụ sừng sững chót vót ven đường Mạc Tử Hoàng, hai cây to ấy là vị trí của cổng thành ngày xưa do người xưa trồng, người nay bảo tồn nó vì tôn trọng năm tháng già cỗi mà vẫn cật lực làm cái việc mang dưỡng khí cho con người, họ trang điểm cho hai vị lão thành đó là cái bồn chứa đất được lát đá granit đen bóng ngời, kèm hai ngọn đèn cao áp màu xanh lá, để hàng đêm khi về khuya trời nổi gió trong không gian vắng lặng, thì bóng lá chờn vờn với âm thanh xào xạc, cành lá đong đưa trong cái ánh sáng xanh lè ma quái từ hai ngọn đèn cao áp hắt lên trên hai tấm thân xù xì và các cành nhánh gập khuỷu của nó, khiến cho người gan góc lắm cũng không khỏi tưởng tượng có thêm cái bóng trắng tóc dài rũ rượi, thõng thượt hai tay hai chân xuôi đơ đang treo lủng lẵng trên cành…

Đến nước đó chắc (tôi và chúng ta)… chết đứng như Từ Hải!

… Xưa, tôi cũng đã rất ấn tượng với cái thành này, còn nhớ thuở nhỏ đi học ở trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, giờ ra chơi thì các thầy cô không cho trẻ con ra đường nhưng chúng tôi cũng có cách của mình, đó là khoét rộng thêm mấy cái lỗ mà chó chun qua hàng rào, mượn đường đi của các chú cẩu mà bọn trẻ chúng tôi gọi là “chui lỗ chó!”, nếu bạn nào đã từng (trải qua cái việc này rồi) thì mới thấy hết cái thú vị của sự “vụng trộm” này.

Nhưng bọn trẻ đi đâu vậy? Xin thưa, bọn nhóc qua phía Thành Mười Tám, chỉ cần băng ngang đường là có cả một thế giới bí ẩn đang chờ bọn nhóc khám phá, đó là cái mương nước dưới chân thành, mùa mưa đầy nòng nọc và trứng cóc hay ếch, bọn nó lấy từng chùm bọc trứng mà liệng vào nhau, cái thứ bọt xốp xốp màu vàng nhạt có hạt (trứng) nho nhỏ, cái thứ đàn hồi mà nhão nhão ấy lại có sức hấp dẫn lạ kỳ bọn con nít, giống như thời nay bọn trẻ con chơi “slime” vậy… Nòng nọc thì đen trũi, rất nhiều con chuẩn bị rụng đuôi thì có thêm chân, cá mà có chân là một sự khám phá kỳ thú của lũ trẻ, mà nào chỉ có nòng nọc? Có cả những đụn đất mà khi gạt ngang để thấy cái lỗ, đứa này đổ nước còn đứa khác đi lấy nước liên tục chế vào, chừng vài ba lon sữa bò là sẽ có một chú dế cơm đầu nâu to như hạt đậu phọng, hai cái râu đòng đưa thăm dò, mấy thằng nhóc ngồi né ra một bên thì thào sợ dế nghe thấy, tiếp tục đổ nước vào cu cậu sẽ ngộp mà phóng ra thì … Thôi rồi Lượm ơi!

Thành Mười Tám thời tiểu học của tôi với tôi không chỉ là chuyện dế và nòng nọc, do tôi còn rất nhỏ vì học sớm một năm, hàng ngày đi ngang đây trong đầu tôi luôn là câu hỏi: “Ở trỏng có gì?”, mà con nít thì hay hỏi, nên về nhà hỏi ba thì ba nói ngắn gọn:

  • – Khu gia binh!
  • – Khu gia binh là gì vậy ba?
  • – Là khu nhà cho gia đình lính ở!
  • – Sao con thấy có xe “nhà binh” bự hay ra vào?
  • – Ờ…ờ… Thì trong đó còn có kho Quân Tiếp Vụ!
  • – Quân Tiếp Vụ là gì vậy ba?
  • – … Hừ! Hừm…

Xem chừng “lộ bí mật quân sự” hoặc bực vì thằng nhỏ cứ hỏi hoài đến vô tận mất, ông đã không trả lời…

Có thể lối xây dựng, tuổi đời của Thành Mười Tám cùng thời hoặc tương đương với Nhà Tù Hà Tiên, bên cạnh Ao Xà Lách của trường THHT chúng ta, Thành Mười Tám ngày tôi biết lúc ấy là hai dãy nhà ngói đỏ, xây theo kiểu liền kề chung một mái dài, ngói lợp vẩy cá màu đỏ nhuốm rêu phong, hai dãy dài được chia làm nhiều phòng, tôi không nhớ là có dãy nhà dựa lưng vào nhà thương, nhưng chính xác là lưng của nhà thương dựa vào Thành Mười Tám, chính giữa thành là sân rộng, chung quanh thành xây bằng đá rất dày và cao mà do trí nhớ của trẻ nhỏ khó ước lượng chính xác độ dày và chiều cao của thành (các bạn thông cảm, bởi thế các nhà sư phạm mới cho con nít học đo lường!)… Tôi chỉ biết đến thế thôi vì hình ảnh đó nhanh chóng mất đi sau cái ngày Hà Tiên bị nổ kho đạn, có rất nhiều căn hộ trong đó bị chấn động mà sập, không biết có ai bị gì không? Đến đây tôi chợt nhớ ra tại sao có cái số 18!, có lẻ toàn bộ thành gồm 18 căn phòng chăng?

Rồi có lẽ người ta chưa kịp sửa sang lại cho có thể sử dụng được thì nạn Miên Đỏ đến, mọi người di tản, từ đó Thành Mười Tám bị hoang phế, sau khi Hà Tiên yên giặc bà con lục tục kéo về, người ta lo xây dựng lại nhà cửa, mở mang phố thị ..v.v.,  thì Thành Mười Tám lúc ấy lại là một nguồn sống cho gia đình đông đúc và nghèo khó của chúng tôi.

Do nhu cầu “thùng nền nhà” của những vùng đất mới như Pháo Đài và Xóm Đạo lúc ấy còn rất nhiều đầm lầy, hai anh em chúng tôi (Quang và Nguyên) đã “nhận thầu” đổ nền nhà, thoạt đầu là lấy đất núi chở bằng xe cây (sau khi tháo thùng phuy chở nước xuống), đổ dày đủ cao độ nền nhà theo ý gia chủ, nhưng Trời ít chìu lòng người, các cơn mưa Hà Tiên kéo dài mấy ngày liên tục, nên đất núi hóa thành đất sét nhão nhoẹt, đứng yên còn té hoặc lún mất dép chứ nói chi đến đi lại? Ngày ấy ai cũng nghèo khó, không thể nói chuyện tráng xi măng, nhận thấy gần nhà mình là một kho gạch ngói tan hoang là Thành Mười Tám, chúng tôi đề nghị gia chủ thêm một lớp ngói đỏ vụn lên trên. Hiệu quả vô cùng! Cả năm trời chúng tôi đi hốt gạch ngói Thành Mười Tám để mưu sinh… Quả thật nghĩ lại mới thấy đất nước quê hương Hà Tiên không những nuôi dưỡng chúng tôi bằng những sản phẩm làm ra như khoai, ngô, gạo, sắn mà chính cái bản thân đất đá quê hương Hà Tiên cũng phải tự hy sinh để nuôi dưỡng chúng tôi nữa…

Xét cho cùng, tàn tích của Thành Mười Tám đã được rải khắp Hà Tiên…thấy vậy mà số phận của cái Thành Mười Tám nầy sướng hơn ai hết thẩy, vì nó được bám víu với quê hương Hà Tiên muôn đời…

Rồi thì rất lâu sau, chính quyền Hà Tiên đã cải tạo lại làm một nơi để diễn văn nghệ, làm meeting, chiếu phim công cộng… Tuy nhiên công năng của nó đã không được sử dụng nhiều.

Gần đây Hà Tiên cần cải tạo để có một bộ mặt mới để “lên đời” từ Thị trấn thành Thị xã, chính quyền đã san bằng Thành Mười Tám, di dời bệnh viện… Để có được một quảng trường to rộng như hôm nay, và chiều chiều hai hàng đài nước phun khoan nhặt dập dìu, là nó đang phun trên nền xưa cũ của hai dãy nhà Thành Mười Tám, hàng đêm trẻ con đang đi patin, chạy xe điện, vui chơi… là con trẻ đang chơi trên sân giữa của Thành Mười Tám.

Đổi thay, đó là sự vận động tất yếu của vạn vật.

Sẽ có rất nhiều phát hiện lý thú chung quanh câu chuyện “Thành Mười Tám” của chúng ta. Rất mong các bạn tham gia góp ý.

Quang Nguyên. (01/2018)

Trường Tiểu Học Cộng Đồng Hà Tiên, bên phải hình là đường Mạc Công Du, ta thấy một phần mái ngói của Trại Gia Binh (Thành 18) ngày xưa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm 1970.

Vị trí Thành Mười Tám sau khi bị san bằng để chuẩn bị xây dựng Quảng Trường Hà Tiên. Hinh: IvanQuach 2015

Quảng trường Hà Tiên ngay tại vị trí Thành Mười Tám ngày xưa. Phía trái là hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Hai cây sao rất cao ngay trước cổng thành còn sót lại. (Hình TamHuynh 2016)

Chú thích: Sau khi tìm tòi, hỏi thăm thông tin thì được biết Thành Mười Tám lần lượt được mang những tên sau đây:

Trại « Thái Lập Thành »: Ông Thái Lập Thành (1899-1951) là một nhân sĩ trí thức, chính khách Việt Nam. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc Phủ Sứ, nguyên Tổng trấn Nam phần kiêm Đô trưởng Sài Gòn. Dù là một nhân sĩ hoạt động bí mật cho Việt Minh, ông vô tình bị tử thương trong vụ ném bom của Việt Minh nằm giết chết tướng Pháp Charles Marie Chanson ở Sa Đéc. Thời xưa ở Sài Gòn và Gia Định có hai con đường mang tên Thái Lập Thành, ở Rạch Giá cũng có một con đường mang tên Thái Lập Thành. Dỉ nhiên ngày nay các đường nầy đã có tên mới.

Trái: Ông Thái Lập Thành, phải: viên tướng Pháp Charles Marie Chanson. Hình ThaoLQD

Sài Gòn,  đường Thái Lập Thành 1969, hình: Brian Wickham

Trại « Cái Văn Ngà »: Ông Cái Văn Ngà (1920-1962) quê quán ở xã Tây Yên, quận Kiên An, tỉnh kiên Giang, từng làm quận trưởng ở Hà Tiên nhưng không nhớ rỏ năm nào. Cấp bậc là Đại Úy trong quân đội ngày xưa. Ông tử trận tại Tri Tôn năm 1962. Tại Rạch Giá ngày xưa có một con đường mang tên Cái Văn Ngà, nay đã đổi tên. Ông cũng là bác ruột của bạn Cái Thị Bạch Loan, tác giả của bài viết « Những kỹ niệm về anh Lý Mạnh Thường (Cái Thị Bạch Loan) » trong mục Chuyện vui buồn ngày xưa » của Blog THHTX của chúng ta.

Trại « Huỳnh Quốc Sắt »: Ông Huỳnh Quốc Sắt ngày xưa làm trưởng đồn (không nhớ rỏ vị trí đồn), ông cùng các người lính trong đồn tử thủ trong cuộc tấn công của Việt Minh và đều tử trận hết cả. Tên trại « Huỳnh Quốc Sắt » đặt cho Thành Mười Tám là tên sau cùng vì mình còn nhớ rỏ tên trại nầy ghi đậm trên bảng cổng vào trại hình bán nguyệt. Ông chính là em của ông ngoại của bạn Lê Phước Dương.

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn thầy Trương Minh Đạt, hai bạn Cái Thị Bạch Loan và Lê Phước Dương đã thông tin đầy đủ chi tiết cho bài viết nầy.

Hình ảnh: ThaoLQD, TamHuynh, Brian Wickham, Nguyễn Hữu Tâm