Tin tức ngày nay (Lê Thị Tám và Lê Kim Chung)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa một trong những người bạn thân và có ảnh hưởng nhiều đến nền ca nhạc Trung Học Hà Tiên là bạn Lê Công Hưởng. Lê Công Hưởng nhà ở đường Đống Đa, phía sau Trường Tiểu Học Hà Tiên.. Bạn Hưởng có người anh trai tên là anh Lê Kim Chung và cô em gái tên là Lê Thị Tám.

Lê Thị Tám vốn là học sinh Trường Trung Học Hà Tiên và cũng có một thời gian làm việc thơ ký tại trường Trung Học Hà Tiên nầy (khoảng từ năm 1973). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hiện Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Nhân dịp Lê Thị Tám có tổ chức đám cưới dâu cho con trai (trong những ngày hôm nay 19 và 20/07/2019), người bạn học cùng lớp với Lê Thị Tám là Huỳnh Ngọc Tuyết có đi dự lễ (tại nhà riêng đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), do đó bạn Huỳnh Ngọc Tuyết có nhã ý chia sẻ hình ảnh bạn Lê Thị Tám hiện nay cho chúng ta biết. Nhân tiện cũng có hình của anh Lê Kim Chung, anh Lê Kim Chung, anh của bạn Hưởng ngày xưa, anh Chung học cùng lớp với anh Đỗ Thành Tâm, Lâm Hữu Dư (1960-1961: lớp Đệ Thất). Được biết tin hiện tại là anh Lê Kim Chung sinh sống ở Tịnh Biên (Châu Đốc).

Lê Thị Tám (em gái của bạn Lê Công Hưởng), hiện Tám sinh sống tại đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

LeKimChung_2019.jpg

Anh Lê Kim Chung (anh trai của bạn Lê Công Hưởng), anh Lê Kim Chung ngày xưa là học sinh Trung Học Hà Tiên, hiện anh sinh sống tại Tịnh Biên (Châu Đốc). Hình: Huỳnh Ngọc Tuyết, 2019

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », chân thành cám ơn bạn Huỳnh Ngọc Tuyết đã đóng góp thông tin và chia sẻ hình ảnh cho bài viết nầy. (TVM)

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 1: hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ ngày thành lập 04/10/2015 đến ngày hôm nay 12/10/2018, đã đạt được 91926 lượt xem, 24733 người đến xem (những đọc giả từ hơn 47 nước trên thế giới đến xem), với 176 bài viết trong đủ các tiết mục và do chính thầy cô và các bạn là tác giả. Tuy nhiên nhìn qua nhìn lại ta chưa thấy bài viết nào nói về quá trình hình thành ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta…! đây quả thật là một điều thiếu sót lớn lao…Bạn Trương Thanh Hùng (Giá Khê) có viết một loạt nhiều bài trong mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và có nhắc đến một phần về sự ra đời và phát triển của trường chúng ta. Thật ra cũng rất khó mà viết ra được một tài liệu đầy đủ và chính xác về lịch sử của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, đó là việc làm của các nhà nghiên cứu mà sớm hay muộn chúng ta cũng hy vọng rằng sẽ có bài viết về đề tài nầy, mong rằng các cây bút có quan hệ nhiều đến trường Trung Học Hà Tiên như Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên,…v..v….và nhiều thầy cô bạn học khác sẽ có ngày cho ra đời nhiều bài viết về lai lịch ngôi trường của chúng ta, như thế khi làm công việc tổng họp lại chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và đầy đủ về trường xưa. Bản thân mình cũng có một tham vọng dựng lên quá trình thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng phần vì ở xa không có điều kiện đến tại chỗ tìm tòi sách vở hay tham khảo các ý kiến tiền nhân tại Hà Tiên, phần lại sinh sau đến muộn, chưa đủ thời gian trải nghiệm từ khi trường được ra đời nên rất khó thực hiện được ý nghĩ nầy…Rồi lại suy nghĩ rằng « kẻ ít người nhiều », nếu mỗi người trong chúng ta đóng góp một vài tư liệu, viết một vài dòng, đăng một vài tấm ảnh kỹ niệm ngày xưa thì có khi kết quả lại bất ngờ rất hay, lý thú và giúp cho một bạn văn nào đó có ý khoa học, biết suy luận, tổng kết và từ đó sẽ có bài viết đầy đủ cho chúng ta về lai lịch ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên. Cần xác nhận là ngôi trường nói trong bài viết nầy là ngôi trường Trung Học Hà Tiên, tọa lạc tại góc đường Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Hoàng, dưới chân Lầu Ba (núi Ngũ Hổ).

Phần 1: Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ:

Sau khi tham khảo ý kiến một số bạn từng là học sinh Trung Học Hà Tiên và chiếu qua các hình ảnh về ngôi trường, ta có thể bắt nguồn như sau: Vào năm 1955, thầy giáo trẻ Trường Minh Đạt sau khi học xong các trường lớn ở Sài Gòn (Trương Vĩnh Ký, Sư Phạm Sài Gòn,…) đã trở về Hà Tiên làm việc với ý định mở trường lớp cho con em Hà Tiên có điều kiện theo học tại chỗ. Thầy giáo Đạt lập hồ sơ xin thành lập trường Trung Học Tỉnh Hà Tiên dưới sự quản lý của các Nha Bộ ở Sài Gòn. Qua năm 1956 trường được thành lập với tên chính thức « Trường Trung Học Hà Tiên » với 4 lớp học và người Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Thanh Tra tỉnh kiêm hiệu trưởng: thầy Hà Văn Điền (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Điền, chính là ba của cô giáo Hà Thị Hồng Loan, sau nầy cô Hồng Loan cũng trở về dạy học ở ngôi trường nầy vào những năm 1960, nhà ông Đốc Điền ngày xưa ở đường Bến Trần Hầu, Hà Tiên).

Thầy Trương Minh Đạt (người gốc Hà Tiên), một trong những vị thầy có công trong công việc thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên. Trái: hình chụp năm 1968, phải: hình chụp năm  2017. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên và đã trở thành một nhà nghiên cứu về Hà Tiên.

Cuối năm 1956, Hà Tiên trở thành quận thuộc tỉnh Kiên Giang, ngôi trường Trung Học Hà Tiên vẫn như vậy nhưng xem như là trường quận. (1956-1957)

Sang năm 1958 có thầy Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu) về Hà Tiên làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy thầy Trương Minh Đạt bắt đầu thuyên chuyển về Phan Rang. Theo một tài liệu trên face book mà mình tìm ra được thì vào năm 1959, trường Trung Học Hà Tiên có một giáo sư đổi về trường dạy, vị thầy nầy tên là Phạm Công Nhựt và thầy có viết trong một nhận xét trên fb như sau:

« Tôi nhận sự vụ lệnh xuống dạy ở trường Trung Học Hà Tiên tháng 9/1959. Hiệu trưởng lúc đó là Ông Hồ Văn Chiếu, thanh tra tiểu học tạm đảm nhiệm. Trường có 4 lớp, từ đệ thất tới đệ tứ. Ban giáo sư gồm có:
– Ông Bảo – dạy toán
– Ông Viên – dạy văn (tức là thầy Nguyễn Văn Viên)
– Ông Tường – Pháp văn (tức là thầy Võ Thành Tường)
– Ông Nam và Ông Điệp – Anh văn (tức là thầy Nguyễn Xuân Nam và thầy Hồ Quang Điệp)
– Ông Nhựt – Vạn Vật- Nhạc- Thể Dục (tức là thầy Phạm Công Nhựt)
– Ông Hoan- Lý Hoá (tức là thầy Lê Trung Hoan)
– ông Ký – giám thị (tức là thầy Trịnh Học Ký)
Niên khoá sau 1960-1961, ông Doãn Quốc Sỹ xuống đảm nhiệm chức hiệu trưởng trung học Hà Tiên. Ông Hồ Văn Chiếu trở về Ty tiểu học Rạch Giá. Hai năm sau, ông Doãn Quốc Sỹ trở về Sài Gòn, ông Lê Trung Hoan (dạy Lý Hoá) được thay thế. Lúc nầy tất cả các GS lần lượt bị đông viên. Ông Lại Xuân Quất được cử làm hiệu trưởng thay thế ông Lê Trung Hoan »

Thầy Phạm Công Nhựt, hình trái chụp năm 1973 (lúc nầy đã đổi về dạy trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá), hình phải năm 2017, hiên nay thầy Nhựt định cư ở nước Canada.

Như vậy qua tài liệu nầy ta biết được diễn biến của trường Trung Học Hà Tiên qua khoảng thời gian 1959 – 1961. Vì bản thân mình là « hậu bối » nên không được biết trực tiếp thầy Phạm Công Nhựt. Tuy nhiên đối chiếu lại trong bài giới thiệu bạn học cùng trường, phần bài về chị Nguyễn Thị Hoa, thì thấy thầy Phạm Công Nhựt có dạy lớp chị Hoa vào niên khóa Đệ Thất 1961-1962; thầy dạy môn Vạn Vật. Sau khi trải qua hai vị hiệu trưởng: Hà Văn Điền (1956-1958); Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu 1958-1960); theo lời thầy Nhựt viết thì đến giai đoạn thầy hiệu trưởng Doãn Quốc Sỹ (1960-1962), mãi sau nầy người Hà Tiên chúng ta mới biết được là thầy Doãn Quốc Sỹ chẳng những là một nhà mô phạm, mà lại còn là một nhà văn rất nỗi tiếng của nền văn học miền nam, ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 ông cũng từng đi học tập cải tạo, ở tù, sau đó ông đi định cư ở nước Úc và hiện nay ông sống ở nước Mỹ. Đến năm nay 2018, thầy Doãn Quốc Sỹ đã mừng sinh nhật 95 tuổi (Xin thầy cô và các bạn chú ý là tên của thầy viết là Doãn Quốc Sỹ chứ không phải là Sĩ).

Thầy hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên và cũng là nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc trẻ và hiện nay.

Kế đến là thầy hiệu trưởng Lê Trung Hoan (1962-1964); đến đây bắt đầu các vị hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên mà mình được biết đến một cách trực tiếp, đó là thầy Lại Xuân Quất (1964-1966), xin thầy cô và các bạn chú ý, tên của thầy phải viết là Quất chứ không phải « Quấc hay Quốc », vì mình còn dấu mộc tên của thầy đóng trong các sổ học bạ của mình vào thời nầy. Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Lê Trung Hoan và Lại Xuân Quất.

Mộc Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên và tên thầy hiệu trưởng: Lại Xuân Quất (1964-1966)

Thầy Lại Xuân Quất  làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên lúc mình vào lớp đệ thất, niên khóa 1964-1965

Trái: Hiệu trướng Lê Trung Hoan, phải: Hiệu trưởng Lại Xuân Quất

Khoảng cuối năm 1962, có thầy Nguyễn Văn Nén từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Nén là một trong ba vị giáo sư cùng về dạy trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 60. Đó là thầy Nguyễn Văn Hiệp (dạy môn Văn), thầy Nguyễn Trí Thuận (dạy môn Pháp văn), và thầy Nguyễn Văn Nén (dạy môn Toán).  Ba vị thầy nầy rất có ảnh hưởng đến riêng cá nhân mình và của lớp học của mình, vì quý thầy dạy lớp học của mình nhiều năm. Qua các lời phê chuẩn, chấm điểm bài làm của riêng mình và của toàn lớp mình, quý thầy đã tỏ ra có sự chú ý rất thân mật, thường khuyến khích, khen ngợi kết quả học tập của riêng mình và của toàn lớp mình. Mỗi buối tối, các học trò Hà Tiên thường thấy ba vị thầy dùng cơm tối ở quán Xuân Thạnh đường Trần Hầu, Hà Tiên.

Từ lúc 1965, trường Trung Học Hà Tiên đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì một lớp phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng từ năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có hai lớp đệ thất và phân ra lớp Anh văn và lớp Pháp văn, tuy nhiên chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích.

Vào năm 1965 có một phong trào các vị giáo sư trẻ từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là một dịp rất may mắn cho học trò Trung Học Hà Tiên vì lực lượng quý thầy cô nầy rất hùng hậu, trẻ tuổi, đầy tâm huyết và trong sự tiếp xúc, giao thiệp quý thầy rất gần gủi với học sinh. Trong số nầy có thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy môn Lý Hóa), thầy Bùi Hữu Trí (dạy môn Anh văn và Pháp văn), cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy môn Anh văn và Pháp văn), thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa)…v…v…Trong thời gian nầy, một trong những vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất với học trò là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy vừa trẻ tuổi, rất đẹp trai, ăn mặc phong độ, và thường hay tiếp xúc, đi du ngoạn với học trò nên các bạn học cùng trường ai cũng rất quý mến thầy, chính nhờ có khối tư liệu hình ảnh riêng tư mà thầy Ẩn đã chụp rất nhiều trong thời gian dạy học ở Hà Tiên mà chúng ta mới có được những hình ảnh ngôi trường xưa và hình ảnh các đồng nghiệp của thầy, mình sẽ trích đăng vào đây các hình ảnh về ngôi trường mà thầy Ẩn đã còn lưu lại được, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn rất nhiều.

Trong khoảng giữa năm 1966 có một giai đoạn ngắn thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn) giữ quyền hiệu trưởng vì thầy hiệu trưởng đương chức là thầy Lại Xuân Quất thuyên chuyển đi nơi khác. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ lục (1965-1966) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Trí Thuận:

Thầy Nguyễn Trí Thuận quyền hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn ngắn giữa năm 1966

Từ giữa năm 1966 trở về sau, thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa) được cử làm hiệu trưởng chính thức trường Trung Học Hà Tiên, đây là một giai đoạn ổn định và thầy Thành làm hiệu trưởng trong một thời gian khá lâu dài (1966-1973). Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Nguyễn Trí Thuận và Nguyễn Văn Thành. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ ngũ (1966-1967) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Văn Thành:

Thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn khá lâu (1966-1973)

Trái: Hiệu trướng Nguyễn Trí Thuận, phải: Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành

Trong lúc nầy vào ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới. Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung Học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : Nguyễn Nên). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Hiện thầy sống ở nước Mỹ. Chính thầy Nguyễn Văn Nén đã cung cấp cho chúng ta một số ảnh hiếm và quý về quý vị giáo sư trong những năm đầu thập niên 1960, xin cám ơn thầy rất nhiều.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Nén, hình trái chụp vào năm 1965, hình phải chụp vào năm 2016

Sau đây là một số hình ảnh về quý thầy cô đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu khi trường mới được thành lập.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. 1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)

1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)

1/ Thầy Doãn Quốc Sỹ, 2/ Thầy Trần Văn Hương, 3/ Thầy Trương Minh Hiển, 4/ Thầy Hồ Quang Điệp, 5/ Thầy Phạm Công Nhựt, 6/ Thầy Lê Trung Hoan, 7/ Cô Quỳnh, 8/ Thầy Nguyễn Xuân Nam, 9/ Thầy Nguyễn Như Bảo, 10/ Thầy Lê Văn Triệu, 11/ Ông Nguyễn Văn Thân, 12/ Thầy Võ Thành Tài, A/ Anh Phan Đình Khải (con trai của bác Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà Tiên ngày xưa), B/ Anh Trần Tuấn Hùng (con trai của bác Trần Thiêm Trung tức Ông Phán Trung, anh Hùng là anh của Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang)

Thầy Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), hình trái chụp năm 1962, hình phải chụp năm 2018. Hiện thầy Võ Thành Tường đinh cư tại nước Mỹ.

Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (giám thị), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Thành (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (thư ký) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước cổng chánh trường Trung học Hà Tiên năm 1968. Bổ túc thêm là vào những năm 1960, trường Trung Học Hà Tiên có hai nhân viên bảo vệ tên là Bác Ngọ và Chú Tỹ.

Thầy Trương Minh Hiển (người gốc Hà Tiên, anh song sinh với thầy Trương Minh Đạt), dạy môn Quốc văn trong những năm 1960-1970. Hình phải thầy Trương Minh Hiển chụp vào năm 1997 tại Hà Tiên. Thầy mất năm 2005.

Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

Bên trái: Cô Hà Thị Hồng Loan, giữa: cô Nguyễn Minh Nguyệt, phải: cô Vương Thị Lành, đang dự tiệc cuối năm (bánh tây và nước ngọt). Sau lưng cô là một bạn học sinh không biết tên, các bạn cố gắng nhận dạng là ai nhé. (Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Bên trái: có thể là thầy Nguyễn Tấn Ngoan, giữa; cô Hà Thị Hồng Loan, phải: cô Trần Diệu Hiền (văn phòng Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Cô Hà Thị Hồng Loan (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. Hình phải, cô Hồng Loan hiện nay sinh sống tại Hóc Môn ngoại ô Sài Gòn.

Cô Vương Thị Lành (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. cô Lành cũng có một thời gian ngắn làm xử lý thường vụ chức Hiệu Trưởng thế cho thầy Nguyễn Văn Thành.  Hình phải, cô Vương Thị Lành (2017) hiện nay cô định cư ở nước Mỹ.

Niên khóa 1965-1966, từ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), Thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Thầy Phùng Tuấn Sinh (Triết học, Công Dân)

Từ trái sang phải: Đại Úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Vật Lý). Hình chụp trong những năm 1965-1966 tai sân quần vợt đường Mạc Công Du, Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa từ năm 1965. Hình phải (2018): hiên nay thầy Nguyễn Hồng Ẩn định cư ở nước Mỹ, thầy đang chào quý thầy cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên đó các bạn…

Thầy Phan Văn Xuân (dạy lớp mình môn Toán trong những năm 1960-1970). Thầy Xuân là người gốc gác Hà Tiên, thầy là vai cậu của các bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên. Hiện thầy Xuân vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Trái: Ảnh chụp lúc thầy còn đi học; phải: ảnh chụp lúc thầy về nghỉ hưu ở Hà Tiên 2017

Đặc biệt trong thập niên 1960-1970, trường Trung Học Hà Tiên có được hai thầy cô dạy môn Sinh Ngữ (Pháp văn và Anh văn) rất nhiệt tình và rất yêu mến học trò. Đó là thầy Bùi Hữu Trí và phu nhân của thầy là cô Nguyễn Minh Nguyệt. Thầy cô trong sinh hoạt giảng dạy, văn nghệ, thể thao rất thân cận với học trò, nhất là cô Minh Nguyệt, cô có rất nhiều học trò « thân yêu », vì các bạn đó học giỏi môn của cô dạy (Pháp văn). Sự có mặt của thầy cô Trí và Nguyệt ở Hà Tiên làm cho giới trẻ học trò rất yêu thích và luôn ngưởng mộ thầy cô. Thầy Trí ngoài giờ dạy còn tổ chức lớp dạy võ Karaté, lấy phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba làm võ đường thực tập, mình cũng có tham dự học lớp võ thuật Karaté của thầy Trí. Còn cô Nguyệt thì tươi trẻ, ăn mặc rất đẹp và tân tiến, đem sắc thái « à la mode » của thủ đô Sài Gòn về Hà Tiên…Một số bạn học giao thiệp rất thân với thầy cô như: Lý Cảnh Tiên, Lý Mạnh Thường, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nhan Hồng Hà, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…(phần lớn là các bạn chơi nhạc và tập võ thuật…). Chúng ta không có tin tức về thầy cô hiện nay, chỉ biết là thầy cô đã định cư ở nước Mỹ.

Thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt, thầy cô dạy môn Pháp văn và Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong thập niên 1960-1970

Cô Tiền Ngọc Thanh (người gốc Hà Tiên, dạy môn Vạn Vật trong những năm giữa thập niên 60). Hình phải: 2018, hiện nay cô Tiền Ngọc Thanh đinh cư tại nước Mỹ. (cô luôn giữ được nết đẹp quý phái)

Trong những năm cuối thập niên 60, có một đợt các vị giáo sư trẻ đổi về Hà Tiên dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là quý thầy: Nguyễn Phúc Hậu (dạy môn Pháp văn), thầy Nguyễn Tấn Ngoan (dạy môn Toán), thầy Bùi Văn Cầm (dạy môn Vạn Vật), Nguyễn Văn Út (dạy môn Sử Địa), thầy Nguyễn Thanh Liêm (dạy môn Toán), thầy Phan Văn Chiếu (dạy môn Công Dân Giáo Dục)… Thầy Nguyễn Phúc Hậu hiện nay định cư ở nước Canada, thầy Nguyễn Tấn Ngoan thì học sinh không có tin tức, thầy Bùi Văn Cầm sau khi về quê Qui Nhơn sinh sống, có lúc vào năm 1986 bạn Trương Thanh Hùng có gặp thầy tại Qui Nhơn nhưng sau đó thì không được tin tức của thầy nữa. Chúng ta cũng không có tin của thầy Nguyễn Văn Út, nghe nói thầy đã mất lâu rồi, Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy lớp mình môn Toán, thầy Liêm rất gần gủi học trò, sau một hai năm dạy học ở Hà Tiên, thầy đã chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thầy chính là phu quân của chị Nguyễn Thị Hoa học trò kỳ cựu Hà Tiên, thầy Liêm sau khi trở về quê thì bệnh và qua đời tại quê Thốt Nốt (2013). Thầy Phan Văn CHiếu cũng đã qua đời tại nước Pháp.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu vào năm 1970, hình phải: thầy Hậu hiện định cư ở nước Canada.

Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy toán những năm 1969-1972; hình phải: thầy Liêm đổi về quê Thốt Nốt và qua đời vào năm 2013

Trong những năm đầu của thập niên 1970, có thêm một đợt quý cô đổi về trường Trung Học Hà Tiên, đó là cô Võ Kim Loan (dạy môn Quốc văn), cô Nguyễn Ngọc Oanh (dạy môn Lý Hóa) và cô Dương Thị Minh Hoa (dạy môn Vạn Vật). Cô Kim Loan hiện định cư ở nước Mỹ, chúng ta không có tin tức của cô Ngọc Oanh, cô Minh Hoa hiện định cư ở nước Mỹ. Vì mình đã rời trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu vào niên khóa 1970-1971 nên mình không được dịp hân hạnh tiếp xúc với quý cô, chỉ sau khi có Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì được bạn học giới thiệu với quý cô và vẫn giữ liên lạc với quý cô.

Cô giáo sư trẻ đẹp Võ Kim Loan (1970), hình phải (2018): hiện cô Vó Kim Loan định cư ở nước Mỹ.

Cô giáo sư tươi trẻ ngày xưa Duong Thị Minh Hoa (1970); hình phải (2017): Cô Minh Hoa hiện định cư tại nước Mỹ

Hình trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (1970), hiện nay ta không có tin tức về cô; hình phải (1970) thầy Phan Văn Chiếu, thầy qua đời bên nước Pháp

Bên trái: thầy Hứa Văn Vàng, dạy học và đồng thời là giám thị, bên phải: cô Trần Diệu Hiền, thư ký văn phòng và cũng là giám thị trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70. Thầy Vàng và cô Hiền đều đã qua đời tại Hà Tiên

Đồng thời trong thời gian nầy, những năm đầu của thập niên 1970, có thầy Huỳnh Văn Xền, người gốc gác Hà Tiên, nhà thầy ở đường Tô Châu, thầy Huỳnh Văn Xền dạy một thời gian tại trường Trung Học Hà Tiên. Hiên nay thầy Huỳnh Văn Xền định cư ở nước Pháp.

Thầy Huỳnh Văn Xền dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên vào những năm đầu thập niên 1970.

Thầy Lê Quang Khải dạy môn Anh văn, Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1970 trở đi, thầy Khải là người gốc Hà Tiên, em của thầy Lê Quang Thuyên và anh của thầy Lê Quang Khanh, thầy Khanh ngày xưa dạy mình ở bậc Tiểu Học Hà Tiên. Ba anh em thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khải và Lê Quang Khanh dều là con của nhà giáo, nhà thơ lão thành Lê Quang Phấn (hiệu là Bach Như), một trong những người Hà Tiên tiếp nối truyền thống Chiêu Anh Các (Mạc Thiên Tích). Chính nhà thơ Bạch Như là tác giả của hai câu đối chưng trong phòng tiền vãng trường Tiểu Học Hà Tiên.

« Hạnh đàn vắng vẻ chạnh tiền nhân soi tỏ đuốc quan hoài

Mộc đạc vang lừng giục hậu tấn bước lên đài tiến hóa ».

Thầy Lê Quang Khải, người gốc Hà Tiên, dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thập niên 70, hiện thầy định cư ở nước Mỹ

Vào niên khóa 1973-1974 có một thầy tên Khải nữa về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là thầy Phạm Văn Khải, thầy Khải dạy môn Anh văn. Xin mở ngoặc ở đây là vì trường có hai thầy cùng tên Khải nên học trò thường đặt tên phụ cho mỗi thầy một biệt danh để phân biệt: thầy Lê Quang Khải có râu rất oai phong học trò gọi là thầy « Khải râu », còn thầy Phạm Văn Khải không để râu, học trò gọi là thầy « Khải trụi »,….đó cũng là tính lý lắc của mấy bạn học trò ngày xưa, mong quý thầy thông cảm tha thứ cho nhé,…

Gần cuối nhiệm kỳ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành, khoảng từ năm 1973 trở đi, trường Trung Học Hà Tiên lại có thêm một cô thư ký nữa, đó là cô Lê Thị Tám, không phải ai xa lạ, cô Tám chính là người em gái ruột của bạn Lê Công Hưởng (Hưởng là bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Cô Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Hiện cô Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên.

Cô Lê Thị Tám, ngày xưa là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên và sau đó là thư ký của Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1973.

Trong khoảng thời gian 1973-1975 có cô Trương Thị Bạch Cúc người gốc Rạch Giá, về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Văn, sau đó cô Bạch Cúc chuyển về dạy tại Kiên Lương. Hiên nay cô Trương Thị Bạch Cúc định cư ở nước Canada.

Thầy Lâm Hữu Quyền, người gốc gác Hà Tiên, và cũng là một học sinh của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, là bạn học cùng lớp với các bạn Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v…Bạn Quyền học trên mình một lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Lâm Hữu Quyền về dạy môn Toán tại quê nhà, trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Lâm Hữu Quyền sau nầy làm hiệu trưởng trường cơ sở Đông Hồ Hà Tiên và hiện nay thầy về nghỉ hưu, vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Thầy Lâm Hữu Quyền dạy môn Toán trường Trung Học Hà Tiên. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Từ nhỏ đến lớn mình vẫn luôn theo học tại hai ngôi trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, đến niên khóa 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên vẫn chưa có lớp đệ nhất (lớp 12) nên niên khóa nầy mình chuyển sang theo học ở trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, vì thế sự hiểu biết về tình hình giảng dạy, đội ngũ thầy cô giáo sư, hiệu trưởng của trường Trung Học Hà Tiên đối với mình trở nên thiếu sót và thông tin hơi khá phức tạp.Tuy nhiên theo sự đóng góp của thầy cô và các bạn có liên hệ đến ngôi trường Trung Học Hà Tiên, có thể tóm tắt tình hình tiếp tục như sau tuy vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Sau khi chuyển giao ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho ban quản lý mới vào tháng 05 năm 1975, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1977. Trong thời gian nầy có cô Lâm Ngọc Mai vốn là một học sinh gốc gác Hà Tiên, đã từng theo học tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nầy từ xưa, và cô đã thành tài trở về dạy học tại ngôi trường nầy từ những năm 1969, 1970. Khi trường do ban quản lý mới điều hành sau tháng 05 năm 1975, cô Lâm Ngọc Mai được cử làm hiệu trưởng trong khoảng thời gian 1975-1976. Sau đó cô Lâm Ngọc Mai chuyển về Rạch Giá làm việc và hiện nay cô về nghỉ hưu tại Sài Gòn. Khoảng năm 1975 có thầy Nguyễn Văn Hợi dạy môn Sinh Vật.

Cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai, trái: hình chụp trong những năm 60, phải: hình chụp hiện nay 2018

Qua niên khóa 1976-1977 có thầy tên Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Dưới đây là hai mẫu học bạ có chữ ký tên của cô Lâm Ngọc Mai và thầy Lê Thanh Chương. Đến đây nếu thầy cô và các bạn chú ý sẽ thấy tên gọi chánh thức của trường Trung Học Hà Tiên đã thay đổi, trong dấu mộc đóng bên cạnh tên của hiệu trưởng, ta thấy có đề tên: Trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên, tuy nhiên dưới chữ « Phổ Thông » trong dấu mộc đóng, ta không nhìn rỏ ra được các chữ tiếp theo là chữ gì, chỉ đọc được chữ « cấp » sau đó nét mực đỏ hơi bị nhòa nên không rỏ là 3 (cấp 3) hay là 2 và 3 (cấp 2 và 3) !!

Hình trái: Chữ ký tên của cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai (1976), hình phải: chữ ký tên của thầy hiệu trưởng Lê Thanh Chương (1977)

Thầy Trần Đại Thắng là học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa (con trai của thầy hiệu trưởng trường Tiểu học Hà Tiên Trần Văn Hương), học chung lớp với các đàn anh đàn chị như Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim, Trần Hồng Khanh,..Sau khi thành tài, thầy Trần Đại Thắng trở về Hà Tiên làm hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc (trường xây tại chân núi Địa Tạng gần Thach Động). Sau 1975 thầy Trần Đại Thắng về dạy môn Sinh Vật trường Trung Học Hà Tiên và tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu. Bạn Thắng cũng có lúc (1973-1975) thường đi chơi chung với mình và một người bạn nữa là La Tấn Lực. Bạn Thắng mất vì bệnh vào ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (Âm lịch) nhằm ngày 11/10/2018 dương lịch. Thầy Trần Đại Thắng an nghỉ tại đất nhà tại núi Đề Liêm (núi Phù Dung) ngày mùng 6 tháng 9 Mậu Tuất, nhằm ngày 14/10/2018.

Hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc Hà Tiên và cũng là thầy dạy Trung Học Hà Tiên: thầy Trần Đại Thắng (hình chụp trong những năm gần đây)

Vào niên khóa 1976, một người bạn thân thiết từ sáu năm trong bậc Trung Học Hà Tiên, học chung lớp với mình là bạn Lý Mạnh Thường, sau một thời gian theo học ngành « Thương Mại Ngân Hàng » ở Long Xuyên, bạn Mạnh Thường trở về quê nhà Hà Tiên và theo ngành giáo, vào dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Mạnh Thường ngoài môn chánh là Anh văn, thầy còn phụ trách văn nghệ cho trường và có dạy thêm các môn ca, vũ, múa,…cho các em học sinh. Thầy Mạnh Thường rất được sự quý mến của các em học sinh trường Trung Học Hà Tiên. Sau một thời gian nghỉ dạy về hưu ngay tại căn nhà xưa ở đường Mạc Công Du, thầy Mạnh Thường lâm bệnh và từ trần vào năm 2013. (trước đó vào tháng 6 năm 2012, nhân một chuyến về thăm quê Hà Tiên mình và bạn Trương Thái Minh có đến thăm bạn Mạnh Thường).

Thầy Lý Mạnh Thường dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên từ năm 1976

Một trong những học trò của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Nguyễn Thúy Vân, người gốc Hà Tiên, bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn,…v…v….cũng vào ngành giáo và dạy học môn Văn tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm (từ năm 1974). Cô giáo Nguyễn Thúy Vân hiện nay đã về hưu và hiện vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thúy Vân dạy môn Văn trường Trung Học Hà Tiên; bên phải (2017) hiện cô Nguyễn Thúy Vân sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Trong khoảng thời gian 1977 – 1981, ngôi trường Phổ Thông Hà Tiên lâm vào tình trạng bị bỏ hoang phế vì dân Hà Tiên đã di tản chạy giặc miền biên giới Khmer đỏ. Học sinh ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông Hà Tiên để tránh tầm pháo. Trường Phổ Thông Hà Tiên lúc đó gồm có cấp 2 và cấp 3 và có tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, vì tình hình thực tế nên phải tách ra thành 2 bộ phận: Học trò cấp hai (từ lớp 6 đến lớp 9) thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba (từ lớp 10 đến lớp 12) thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng …(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính thầy trò học sinh dọn trường nầy trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên (của địa điểm Mạc Tử Hoàng).

Đến đây thì tình hình trở thành khá phức tạp, vì nếu tiếp tục viết theo quá trình trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên thì như trên đã viết, trường nầy đã sát nhập vào trường cấp hai của xả Thuận Yên. Lúc nầy thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cơ sở xã Thuận Yên nên tất cả học bạ của học sinh cấp 2 trường Hà Tiên đều do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, thầy Lâm Hữu Quyền làm hiệu phó cấp 2. Dưới đây là một phần trang học bạ của một học sinh cấp 2 trường Phổ Thông Hà Tiên do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, chú ý trong dấu đóng mộc, tên trường là Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên. Bắt đầu qua niên khóa 1979-1980, tình hình chiến tranh Tây Nam hơi yên ổn, thầy Hứa Nhất Tâm trở về Hà Tiên xây dựng, sửa sang lại trường lớp và năm sau thầy Tâm trở thành hiệu trưởng trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên. Cũng xin nói thêm là năm học 1977-1978 cũng chính là một năm học rất đau buồn đối với học trò cấp 2 trường Phổ Thông Cơ Sở Hà Tiên vì chẳng những phải lìa xa ngôi trường ở Hà Tiên mà lại còn chứng kiến giai đoạn bi thảm của một gia đình thầy cô đang dạy học trong thời kỳ chiến tranh nầy: đó là cái chết của cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy cấp 2 môn Sinh Vật) vì bị trúng đạn pháo kích của quân Khmer đỏ, người con của cô cũng bị chết , chồng của cô là thầy Trương Tự Cường (dạy cấp 2 môn Toán) cũng bị thương tích nhưng thoát chết. Sau đó người ta đưa cả gia đình thầy về Sài Gòn, kẻ sống người chết thật đau buồn, từ đó đến nay học sinh Hà Tiên không có tin tức của thầy Cường.

Thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên, cũng quyền hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 2 Hà Tiên. (1977-1979)

Mặt khác nếu viết theo quá trình của trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên thì như trên đã viết, từ niên khóa 1977-1978, trường di tản về Kiên Lương, lớp học dàn dựng tạm trên những chiếc lán trại, nhà lá, trong thời gian nầy thầy Lê Thanh Chương vẫn tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 1979. Đến từ niên học 1979-1980 thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn toán cấp 3 làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 (trường của Hà Tiên nhưng tạm di tản xuống ở Kiên Lương). Mình không có dịp biết thầy Nguyễn Văn Hùng, nhưng theo học trò Hà Tiên thì thầy Hùng rất dể mến, hiền hậu và rất được học trò kính mến. Thầy Nguyễn Văn Hùng đã từng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên ngay từ năm 1974. Thầy Hùng, người gốc Gò Công, khi giặc Khmer đỏ pháo kích Hà Tiên, thầy Hùng bị thương. Sau này thầy Hùng làm hiệu trưởng rồi được điều sang làm trưởng phòng giáo dục Hà Tiên. Thầy Hùng đã mất vì bệnh vào năm 2015 tại quê nhà Củ Chi ngoại ô Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Văn Hùng từng làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên trong những năm trường di tản xuống Kiên Lương. (Hình thầy về nghỉ hưu ở quê nhà Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn)

Cùng một đợt về trường Hà Tiên với thầy Nguyễn văn Hùng năm 1974, có thầy Trương Minh Tùng dạy môn Lý Hóa, sau đó thầy Trương Minh Tùng kết hôn với chị Trần Diệu Châu, em của cô Trần Diệu Hiền và là con của thầy Trần Hòa Hùng (thầy Hùng là hiệu trưởng một thời của trường Tiểu Học Hà Tiên). Hiện không biết thầy Trương Minh Tùng ở nơi nào.

Cô Trần Thị Mộng Hoàng dạy Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên khoảng những năm 1977 trở đi. Theo lời học trò kể lại (Nguyễn Hữu Tâm): « Cô rất đẹp và rất tây với cặp mắt kính gọng to. Thời trung học cô là nữ sinh trường Marie Curie. Cô hát nhạc Pháp rất hay và chuẩn… Những năm gian khổ nhất của cấp 3 Trung học Hà Tiên là phải đi lao động cực nhọc ở những công trường đắp đập đào kinh, cô luôn theo sát với các học sinh đặc biệt là lớp tụi em.Cô hát bất cứ lúc nào tụi em yêu cầu để quên đi cái cực nhọc về thể xác…rất mong muốn được biết tin của cô đó các bạn ».

Trước lúc nầy có cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên lúc trường còn ở điểm Mạc Tử Hoàng Hà Tiên, sau khi về tạm ở điểm Kiên Lương, cô Huệ Vinh vẫn tiếp tục dạy hết các niên khóa ở đây. Hiên nay cô Dương Huệ Vinh định cư ở nước Canada. Thầy Phương người gốc Rạch Giá dạy môn Toán từ năm 1977.

Cô Dương Huệ Vinh lúc còn học sinh Trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá

Cô Dương Huệ Vinh dạy môn Hóa Học trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1977-1978, Cô Huệ Vinh hiện định cư ở nước Canada.

Trong giai đoạn Trường Trung Học Hà Tiên dời về Kiên Lương, có quý thầy: Thầy Mai, người Thái Bình (không nhớ dạy môn gì), thầy Phan Văn Báo về dạy ngay niên khóa 1980-1981, thầy Phan Văn Thế dạy môn Vật Lý, sau nầy thầy Thế trở thành hiệu trưởng trường Kiên Lương nhiều năm và hiện nay thầy Thế đã về nghỉ hưu. Năm học nầy cũng có một thầy dạy Thể Dục về trường dạy thầy tên Linh, rất đẹp trai, thân hình cân đối như vận động viên quốc tế…, kế đến có thầy Quang người Cần Thơ về trường dạy môn Sinh Vật, thầy Nguyễn Văn Em dạy môn Văn, theo học trò nhận xét, thầy Nguyễn Văn Em dạy rất hay, thầy lại có tài chơi đàn và hát rất giỏi, thầy thường hát bài « Chiều trên phá Tam Giang »…! Năm nầy có thầy Lê Văn Trợ người Sài Gòn về trường dạy môn Địa Lý, thầy Trợ có một thói quen là thức dậy rất đúng giờ và tập thể dục không bỏ ngày nào. Đặc biệt là thời gian nầy có cô Trần Ngọc Cầm, người gốc Hà Tiên, chính là em gái của thầy Trần Đại Thắng, cô Trần Ngọc Cầm dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học Hà Tiên giai đoạn dời xuống Kiên Lương.

Thầy Lê Văn Trợ, dạy môn Sử Địa Trường Trung Học Hà Tiên (khoảng năm 1980 về sau)

Từ trái qua phải: thầy Phan Văn Thế, thầy Lê Văn Trợ, thầy Nguyễn Văn Em và thầy Trương Minh Quang Nguyên, quý thầy gặp nhau tại Cần Thơ 09/2018

Đến niên học 1981- 1982 thầy trò Trung Học Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên dọn trường lớp bàn ghế chuyển về quê nhà Hà Tiên thì ôi thôi!… ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa (địa điểm Mạc Tử Hoàng) đến bây giờ là một ngôi trường hoang cỏ ngập lút đầu, lau sậy um tùm, phòng học chỉ còn bốn bức tường không nóc không cửa vì bị dỡ trộm, lò sát sanh kể bên chất hàng núi xương trâu bò trong khuông viên trường và trong nhà vệ sinh, đầu lâu trâu bò và sừng trâu bò nhiều vô kể. Trong phòng học thì tất cả những bệ cửa sổ là…phân người chất đống vì người ta ngồi trên đó mà phóng uế xuống, họ xem đó là nhà vệ sinh tự nhiên vì cây cỏ trùm kín…Năm nầy trường bắt đầu hồi sinh sau cuộc chiến tranh biên giới, trường tạm thời chỉ có lớp 10 và 11, không có lớp 12. Đến năm sau 1983 trường mở thêm lớp 12 (mặc dầu trước khi trở về Hà Tiên trường đã có lớp 12 rồi). Thầy Nguyễn Văn Hùng vẫn còn làm hiệu trưởng của trường trong thời gian nầy cho đến năm 1985.

Trong thời gian nầy có Thầy Xuân Sơn dạy môn Văn, thầy Nguyễn Văn Tộ, người rất hiền và đạo đức, có thầy Hưng dạy môn Vật Lý, thầy Hưng người rất vui vẻ tiếu lâm, hiện thầy Hưng vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên. Cô Điệp, nhà đối diện với hãng nước đá Cữu Long cũng có dạy trường Trung Học Hà Tiên trong thời gian trở lại Hà Tiên.

Trong khoảng thời gian từ năm 1985 đến năm 1989 thì mình bị mất thông tin, không biết thời gian nầy ngôi trường Phổ Thông Cơ Sở cấp 3 (tên là Cấp 3 vì từ khi hết di tản ở Kiên Lương và trở về Hà Tiên thì trường bắt đầu sinh hoạt trở lại và chỉ có 3 cấp lớp 10, 11 và 12). Thời gian nầy không biết thầy cô nào làm hiệu trưởng, bạn nào có thông tin và hình ảnh thì rất quý, xin bổ túc cho bài chúng ta được đầy đủ, xin cám ơn.

Trong khoảng những năm 1989-1991, có thầy Bùi Đăng Trường làm quyền hiệu trưởng trường Phô Thông Cơ Sở Cấp 3 Hà Tiên và có thầy Trịnh Phú về trường dạy môn Toán (hiện tại 2018 thầy Trịnh Phú làm hiệu trưởng Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, Hà Tiên) . Thời gian nầy có một người thầy gốc gác Hà Tiên và cũng là con trai của thầy Trương Minh Đạt ra trường về dạy học ngay tại ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên nầy. Đó là thầy Trương Minh Quang Nguyên, dạy môn Hóa Học. Chính thầy Quang Nguyên đã cung cấp cho mình một số tư liệu quý giá về ngôi trường Hà Tiên trong khoảng thời gian sau năm 1975, xin cám ơn bạn Quang Nguyên nhé. Đồng thời có thầy Huỳnh Kim Lợi, cũng người gốc Hà Tiên, dạy môn Thể Dục từ năm 1990. Cùng thời gian có thầy Nguyễn Văn Tường dạy môn Toán trường Trung Học  Hà Tiên, hiện nay thầy Nguyễn Văn Tường vẫn còn trong ngành giáo dục tại Sài Gòn. Có thầy Hồ Văn Hải người Quãng Nam về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Vật Lý. Về thầy hiệu trưởng trong thời gian nầy là thầy Bùi Đăng Trường thì mình không có dịp quen biết và cũng không biết chính xác là thầy Trường đã làm hiệu trưởng trong bao nhiêu năm. Thầy Bùi Đăng Trường mất năm 2017.

Hình trái: Thầy Trương Minh Quang Nguyên người gốc Hà Tiên, dạy môn Hóa Học tại trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên trong những năm 1989-1991. Hiện nay thầy Quang Nguyên đã chuyển ngành, lập công ty kinh doanh ở Sài Gòn. Hình phải: Thầy Hồ Văn Hải, dạy môn Vật Lý trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên.

Kế đó thì lại có thêm một thầy cũng gốc người Hà Tiên là thầy Trương Minh Nhật Quang, anh của thầy Trương Minh Quang Nguyên, cũng về dạy tại quê nhà trường Trung Học cấp 3 Hà Tiên, thầy Nhật Quang dạy môn Vật Lý, Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy đến năm 1992 thì ngưng dạy và sau một thời gian khó khăn vì cuộc sống, thầy đã học thêm về môn Công Nghệ Tin Học và đi vào công việc nghiên cứu và đã có công trình phát triển rất nhiều về phần mềm chống virus rất nỗi tiếng khắp cả nước (phần mềm D2 năm 1992 và phần mềm D32 năm 2001). Hiên nay thầy Trương Minh Nhật Quang làm việc tại thành phố Cần Thơ với học vị Tiến Sĩ và với chức vụ Phó Hiệu Trưởng trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ.

Thầy Trương Minh Nhật Quang dạy trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên trong những năm 1989-1992, hiện nay thầy làm Phó Hiệu Trưởng trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Cần Thơ

Trong thời gian nầy có nhiều thầy cô về trường Trung Học Hà Tiên dạy nữa, mình chưa có thông tin chính xác, chỉ biết có thầy An người Hà Tiên (con Cô Lắc). Từ niên khóa 1993 đến năm 2000, lại có thêm cô Trương Thị Uyên Nguyên người gốc Hà Tiên, chính là em gái của hai thầy Trương Minh Nhật Quang và Trương Minh Quang Nguyên (và đều là con của nhà nghiên cứu, thầy Trương Minh Đạt), cô Uyên Nguyên dạy môn Toán trong các lớp 10,11 và 12 tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên quê nhà đường Mạc Tử Hoàng. Sau nầy khi trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến thành lập tại điểm đường tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài thì cô Trương Thị Uyên Nguyên chuyển vào tiếp tục dạy học tại đây. Thầy Phan Hoàng Long, dạy môn Toán nhiều năm (1993-2000), thầy Phan Hoàng Long chính là phu quân của cô Trương Thị Uyên Nguyên.

Cô giáo trẻ duyên dáng Trương Thị Uyên Nguyên dạy môn Toán tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng từ năm 1993, sau đó từ năm 2000 cô Uyên Nguyên chuyển dạy tại trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Thần Hiến, điểm tỉnh lộ 28 phường Pháo Đài.

Thầy Phan Hoàng Long và cô Trương Thị Uyên Nguyên (2018)

Cho đến năm 2000 thì đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sữ của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích !! Từ năm 2000 trở đi, trường Phổ Thông Cơ Sở Cấp 3 được dời ra một ngôi trường mới cất trên đường ra Mũi Nai, tỉnh lộ 28, thuộc phường Pháo Đài và được đặt tên chánh thức là Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên. với vị hiệu trưởng có rất nhiều công trong công cuộc lập ngôi trường mới nầy, đó là thầy Phan Văn Báu, về sau trường nầy được đổi tên là Trường Trung Học Phổ Thông NguyễnThần Hiến và có đặt tượng chí sĩ, nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến để tưởng nhớ người gốc gác Hà Tiên. Riêng về bản thân ngôi trường thân yêu đầy kỷ niệm tại góc đường Mạc Tử Hoàng-Mạc Thiên Tích thì được đổi tên là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 (và có ghi địa chỉ là số 3 đường Mạc Tử Hoàng và thuộc phường Đông Hồ).

Như vậy trong một quá trình lâu dài từ lúc mới thành lập 1956 cho đến năm 2000, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ở đường Mạc Tử Hoàng được phân các lớp như sau:

Địa điểm đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1956-1962 (?): đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ.

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1963-1972: đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, đệ tam và đệ nhị (xong lớp đệ nhị phải đi thi tú tài 1 ở Long Xuyên)

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1973-1976 : lớp 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12

Địa điểm Kiên Lương, 1977-1980: lớp 10, 11 và 12

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1981-1982: lớp 8, 9, 10 và 11

Địa điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, 1983-2000: lớp 10,11 và 12

Về tên gọi chánh thức của trường thì như sau:

a/ Trước năm 1975, tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên (gồm hai cấp: Trung Học đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) và trung học đệ nhị cấp ‘lớp 10 đến lớp 12)

b/ 1975 – 1976: tên trường là Trường Trung Học Hà Tiên cấp II – III 

c/ Từ năm 1977 trở đi, có sự thay đổi là sát nhập hai cấp I và II thành trường phổ thông cơ sở, còn cấp III thành trường cấp III.

Tổng kết về đội ngũ hiệu trưởng, giáo sư, thầy cô, nhân viên văn phòng, bảo vệ của trường Trung Học Hà Tiên từ lúc thành lập (1956) đến năm 2000 (tại địa điểm đường Mạc Tử Hoàng và một giai đoạn ngắn tai địa điểm Kiên Lương):

Danh sách quý thầy (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Trương Minh Đạt (Toán, Lý Hóa), Hà Văn Điền (Thanh Tra, Hiệu Trưởng), Hồ Văn Chiếu (Thanh Tra Hiệu Trưởng), Doãn Quốc Sỹ (Hiệu Trưởng, Văn), Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), Võ Thành Tài (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn), Lê Văn Triệu (Toán), thầy Vũ Quang Vinh (Văn), Nguyễn Văn Nén (Hiệu Trưởng, Toán), Nguyễn Xuân Nam (Anh văn), Phạm Công Nhựt (Vạn Vật), Nguyễn Văn Viên (Thể Dục), Tạ Duy Phong (Lý Hóa), Lê Văn Quang (Sử Địa), Đỗ Huỳnh Có (Sử Địa), Hồ Quang Điệp (Anh văn), Nguyễn Văn Thân (Thư ký), Nguyễn Văn Hiệp (Văn), Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), Nguyễn Đức Sơn (Văn), Trịnh Học Ký (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Trí Thuận (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Đinh Văn Giáp (Sử Địa), Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Phùng Tuấn Sinh (Triết, Anh văn), Nguyễn Văn Thành (Hiệu Trưởng, Lý Hóa), Trần Đức Sinh (Âm Nhạc), Phan Văn Xuân (Toán), Trương Minh Hiển (Văn), Hứa Văn Vàng (Thể Dục, Giám Thị), Nguyễn Tấn Ngoan (Anh văn), Nguyễn Văn Út (Sử Địa), Bùi Văn Cầm (Sử Địa), Phan Văn Chiếu (Công Dân Giáo Dục), Nguyễn Phúc Hậu (Pháp văn), Đỗ Văn Trợ (Lý Hóa), Nguyễn Văn Thái, Đỗ Tấn Sĩ (Anh văn, Pháp văn), Nguyễn Long Hồ (Sinh Vật), Nguyễn Thanh Liêm (Toán), Nguyễn Hùng Dũng (Vật Lý), Trần Phình Chu, Thầy Phương (Toán), Huỳnh Văn Xền (Anh văn), Trần Văn Thuận (Văn), Nguyễn Văn Hài (Sử Địa), Lê Quang Khải (Anh văn), Phạm Văn Khải (Anh văn), Nguyễn Văn Hùng (Hiệu Trưởng, Toán), Trần Đại Thắng (Hiệu Trưởng, Sinh Vật), Trương Minh Tùng (Lý Hóa), Lê Thanh Chương (Hiệu Trưởng), Nguyễn Trí Dũng (Toán), Lê Phước Lộc (Thể Dục), Trần Văn Thinh (Hóa Học), Nguyễn Văn Hợi (Sinh Vật), Nguyễn Văn Tiêu (Sinh Vật), Bùi Đăng Trường (Hiệu Trưởng, Văn), Huỳnh Kim Lợi (Thể Dục), Uông Văn Đính (Văn), Trương Tự Cường (Toán), Lâm Hữu Quyền (Hiệu Trưởng, Toán), Lý Mạnh Thường (Anh văn, Nhạc, Múa), Trương Minh Quang Nguyên (Hóa Học), Thầy Mai, Phan Văn Thế (Vật Lý), Phan Văn Báo (Hiệu Trưởng), Thầy Linh (Thể Dục), Thầy Quang (Sinh Vật), Nguyễn Văn Em (Văn), Lê Văn Trợ (Địa Lý), Thầy Xuân Sơn (Văn), Nguyễn Văn Tộ, Thầy Hưng (Vật Lý), Trịnh Phú (Toán), Nguyễn Văn Tường (Toán), Hồ Văn Hải (Vật Lý), Phan Hoàng Long (Toán), Thầy An, ….

Danh sách quý cô (cần được bổ sung môn dạy và chấn chỉnh tên họ cho đúng, đặc biệt những phần chữ đỏ):

Lý Ngọc Mai (Nữ Công), Phạm Thị Huỳnh (Vẽ), Nguyễn Minh Nguyệt (Anh văn, Pháp văn), Hà Thị Hồng Loan (Toán, Văn), Vương Thị Lành (Văn), Tiền Ngọc Thanh (Vạn Vật), Nguyễn Ngọc Oanh (Lý Hóa), Trần Diệu Hiền (Thư Ký, Giám Thị), Dương Thị Minh Hoa (Vạn Vật), Lâm Ngọc Mai (Hiệu Trưởng, Pháp văn), Võ Kim Loan (Văn), Nguyễn Kim Định (Văn), Nguyễn Thị Rớt (Văn), Nguyễn Thị Sồ (Sử Địa), Trần Kim Phấn (Giám Thị), Phan Thị Tuyết Mai (Sinh Vật), Vũ Thị Thêm (Toán), Ngô Thị Tuyết Dung (Văn), Ngô Thị Bình (Anh văn), Nguyễn Thúy Vân (Văn), Dương Huệ Vinh (Hóa Học), Nguyễn Thị Minh Châu (Pháp văn), Trần Thị Mộng Hoàng (Pháp văn), Nguyễn Thị Nhụy (Sử Địa), Trương Thị Bạch Cúc (Văn), Trần Ngọc Cầm (Hóa Học), Cô Điệp, Trương Thị Uyên Nguyên (Toán)… ….

Quý thầy cô gốc người Hà Tiên và đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên:
Hà Văn Điền, Trương Minh Đạt, Trương Minh Hiển, Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Phan Văn Xuân, Tiền Ngọc Thanh, Hứa Văn Vàng, Trần Diệu Hiền, Lâm Ngọc Mai, Lê Quang Khải, Trần Phình Chu, Huỳnh Văn Xền, Trần Đại Thắng, Nguyễn Thúy Vân, Nguyễn Thị Sồ, Lâm Hữu Quyền, Lý Mạnh Thường, Trương Minh Quang Nguyên, Trương Minh Nhật Quang, Trần Ngọc Cầm, Huỳnh Kim Lợi, Cô Điệp, Thầy An, Trương Thị Uyên Nguyên…

Đến đây hết phần 1, chắc chắn là bài viết trên còn rất nhiều thiếu sót và thông tin có phần thiếu chính xác, biên tập Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » mong mỏi quý thầy cô và các bạn bổ túc thêm nhiều chi tiết, thông tin và hình ảnh để bài viết được chính xác và phong phú hơn.

Mời quý vị thầy cô và các bạn đón xem tiếp phần 2, nói về Trường Trung Học Hà Tiên, hình thể, vị trí và hình ảnh học sinh.

Người biên soạn xin chân thành đa tạ tất cả quý thầy cô, các bạn cùng trường lớp và các em cùng quê hương Hà Tiên đã vui vẻ thông tin, góp ý và cung cấp hình ảnh cho mình rất nhiều, mình cũng có dùng một số hình trích từ những trang fb của quý thầy cô và các bạn, xin thành thật cáo lỗi, mong quý vị thông cảm và lượng thứ cho nhé.

Paris, xong phần 1 ngày 14/10/2018, Trần Văn Mãnh (học sinh Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn 1964 – 1970)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Xin đọc thêm về đề tài ngôi Trường Trung Học Hà Tiên:

https://trunghochatienxua.wordpress.com/gioi-thieu-thay-co-truong-trung-hoc-cong-lap-ha-tien/

https://trunghochatienxua.wordpress.com/chuyen-vui-ngay-xua/

 

Thầy Nguyễn Văn Tiêu

 

Thầy Nguyễn Văn Tiêu.

Trước tiên tôi xin cảm ơn ý tưởng quá xá hay (chứ không còn là “rất hay”) của một cựu học sinh Trung học Hà Tiên – Mr. Trần Văn Mãnh, ông đã mở trang một Blog về ngôi trường trung học mà khi tất cả chúng ta trải qua đều cảm nhận rằng đó là thời gian đẹp nhất, thời gian đáng nhớ nhất của một đời người, tuy dài theo tiếng đếm của nhịp đồng hồ nhưng rất ngắn với kiếp nhân sinh… Đó là thời gian mà chúng ta “mở mắt” với  cuộc đời  một cách “bài bản” được hướng dẫn và dìu dắt bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp, là các nhà khoa học mà chúng ta thân thương gọi là thầy cô (xưa nữa, đối với giao viên trung học người ta phân biệt bằng danh xưng “giáo sư” – professeur).  Đó là lúc chúng ta bước qua một không gian học tập mới, với một tinh thần mới mang tính khám phá một góc thế giới nhỏ bé với đôi mắt trong suốt và trí tuệ đang trong tình trạng “trong vắt”… Đó là lúc chúng ta không còn “mài đũng quần” theo kiểu làm theo và bắt chước thời tiểu học mà chúng ta đã trưởng thành hơn một bậc, để rồi tất cả những gì mà chúng ta được truyền đạt và hướng dẫn bởi những nhà sư phạm chuyên nghiệp đó sẽ làm hành trang cho tất cả chúng ta bước vào cuộc đời một cách tự tin hơn…

Hưởng ứng với tác giả trang Blog này “viết về các thầy cô đã từng dạy tại Trung Học Hà Tiên”,  tôi xin nhắc đến một người thầy – thầy Tiêu dạy môn Sinh Vật. Tôi không nhớ rõ đủ cả tên họ của thầy, nói ra mà không đúng thì thật là bất kính. Về điểm này xin các anh chị hay bạn bè góp ý cho tôi.

Thầy về trường trung học Hà Tiên khoảng năm 1975-1977, khi tôi vào trường niên học 1976-1977 thì đã có thầy rồi, có lẽ thầy về cùng lúc với thầy Bùi Đăng Trường (đã quá cố), cô Châu (dạy Pháp Văn), cô Vũ Thị Thêm… Tất cả các thầy cô đều được điều động từ nơi khác đến dạy tại trường của chúng ta.

Thầy  Tiêu trong ký ức của tôi là một người cao ráo, với mái tóc loăn xoăn mà mỗi khi đi ra gió thì cái mớ tóc ấy của thầy bị gió thốc tung lên, rồi một khi ngọn gió đã đi qua thì để lại “trên đỉnh phù vân” của thầy một … Cái tổ quạ!

Tôi xin dừng lại đôi chút vì tôi chợt nghĩ: “cái kiểu viết này sẽ gây sốc cho nhiều người…”, tuy nhiên xin mọi người đừng hiểu lầm rằng thế này là một sự bất kính, bởi sự kính trọng nó nằm trong tâm tưởng của một người, nó có một trọng lượng tinh thần đáng kể chứ không phải cố gồng mình thể hiện ra ngoài mà thực tâm trống rỗng… Hơn nữa, thầy cô cũng như chúng ta, cũng có những cung bậc cảm xúc, những phút giây tếu táo và những hành động bộc phát táo bạo “rất con người” mà không hề được môi trường sư phạm khuyến khích.

… Thầy đã dẫn một nhóm nhỏ lớp chúng tôi đi Thạch Động, thầy rất thích và thầy nói rằng vùng đất và con người nơi đây rất cuốn hút thầy… Sau khi đi khắp hang động tìm chàng Thạch Sanh để hỏi cách “cứu mỹ nhân” bởi thầy còn “rất độc thân”. Đương nhiên nào có Thạch Sanh? Chỉ có nàng công chúa nhỏ xíu vận tà áo dài rêu phong với mái tóc dài màu đen được tạo bởi một miếng đá vôi đậm màu hơn chút. Nàng được Thạch Sanh “dấu lộ thiên” bằng cách treo nàng lơ lửng trên hốc của một vách đá cheo leo để chẳng ai được đụng đến nàng… Quả thật việc làm của Thạch Sanh đã rất hiệu quả, đến nỗi ngày nay muốn tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ đó, chúng ta phải dùng một cây sào dài mà chỉ gãi gãi được tà áo rêu phong của nàng mà thôi. Thầy Tiêu “rất độc thân” của tôi chỉ đứng trầm ngâm lặng lẽ lắc đầu tiếc nuối và ngao ngán…

Sau khi không thể tiếp cận nàng công chúa bé nhỏ kia, thầy cũng nhanh chóng trở về thực tại, thầy đưa lũ nhóc chúng tôi leo mấy chục bậc thang lên một cái hốc trống hoác ở rìa phía Tây của Thạch Động, rồi sau khi đến được mép của hốc đá này chúng tôi cảm thấy lạnh cả người và sống lưng vì chợt thấy rằng mình đang ở lưng chừng vách đá mà nhìn xuống con đường QL 80 với người ta nhỏ xíu bên dưới… Ở đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt nhìn hết cánh đồng Xà Xía, đường Bà Lý về Núi Đèn Mũi Nai và cả Lục Sơn bên đất Cambodge… Chợt tôi nhìn thấy thầy rùng mình và nhanh chân tụt xuống các bậc thang, mau chóng rời khỏi nơi có cái tầm mắt thu trọn cảnh vật tuyệt vời có một không hai đó một cách lãng phí, không nói không rằng thầy chỉ lên trên vòm hang, cái thứ gì làm cho thầy quá sợ? Một tảng đá to cỡ chiếc xe hơi, chắc nặng cũng chục tấn đang lơ lửng giữa không trung, nó bị kẹt giữa hai khối đá to hơn hai bên, tảng đá ấy như chực hờ rơi xuống cái đám trẻ con và một ông thầy cũng còn đang rất trẻ này…

Hôm sau vào lớp thầy đọc cho chúng tôi một đoạn thơ vì tức cảnh mà sinh tình hôm trước:

“ Hùng vỹ quá! Thạch động nơi ta đến
Thăm một lần rồi khiếp sợ bao đêm.
Nhỡ chiều nào sóng gió chẳng êm
Nó sụp đổ, hỡi đường mô ta chạy?”

Thach Đông nhìn từ QL80, cách trung tâm thị xả Hà Tiên khoảng 3 km. (Photo: Bùi Thị Đào Nguyên 2011)

Một vị trí trên Thạch Đông để ngắm toàn cảnh phía dưới. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Toàn cảnh ruộng lúa từ trên Thạch Động nhìn xuống. (Photo: Trần Văn Mãnh 1994)

Một lối thoát « lên Trời » nhìn từ bên trong Thạch Động

… Hà Tiên trong ký ức của nhiều người trung niên và cao niên, có một nhu cầu tối cần thiết của con người mà Hà tiên của chúng ta luôn đối mặt hàng năm đó là: Nước!

Nhu cầu nước của vùng đất này luôn nhiều hơn khả năng cung cấp của tất cả những gì người ta có thể, ngày xưa họ Mạc đã cho đào ao to chứa nước, các chùa chiền đều có ao chứa nước, nhà dân có đất rộng cũng đào ao chứa nước ngọt, dùng lu hoặc xây bồn hứng triệt để nước mưa, hoặc đào thêm giếng để có nước rửa nhằm tiết kiệm nước ngọt để nấu ăn và nấu nước uống… (Tuy nhiên, có mấy ai biết được là nấu cháo bằng nước giếng lờ lợ sẽ rất ngon và rất béo…)

Hàng ngày người ta phải lên Ao Sen lấy nước, ba cái ao đó không bao giờ đủ cho nhu cầu của người Hà Tiên dù chính quyền xa xưa đã tăng từ một ao lên đến ba như ngày nay… Mùa hạn, cả ba ao đều cạn khô, người ta phải vét nước moi đầy bùn sét từ đáy ao bằng cách đào lỗ chỗ các miệng giếng nhỏ, nhìn đáy ao như vừa qua một trận bom rải thảm thu nhỏ… Các ao nhà dân và ao chùa cũng cạn, người ta phải đi xa hơn để lấy nước trên Giếng Tượng núi Tam Phu Nhơn, hay các giếng khoan “vùng đất linh hồn” núi Đề Liêm mà không một ai nghĩ tới nước giếng khoan đó ngấm cả những phần tử hửu cơ được phân hủy từ nghĩa trang bao đời ngay đó… Rồi sau khi hết tất cả nước của xứ sở giàu tình mà nghèo nước này thì… Ghe nước về.

Ghe nước mang nước từ dòng Vĩnh Tế, là nước ngọt của dòng Bassac của Campuchia chia xẻ cho chúng ta khi trôi về hạ nguồn, nơi ấy nước mặn không xâm nhập, ghe thương hồ thay vì đi chở hàng, nay vì nhu cầu nước của xứ Hà Tiên nên họ đã cải tạo chiếc ghe chút ít để khả dĩ chứa được nước ngọt bơm thẳng vào lòng ghe chứ không chứa đựng vào đâu cả… Nước ghe về thì bến Đông Hồ vui như hội, hàng trăm chiếc xe cây chở nước (bằng thùng phuy hay thùng tôn hàn) xếp dài dọc theo con đường cập theo đó, hết chiếc này được bơm đầy nước sông trắng bạc thì lần lượt đến chiếc khác, “văn hóa xếp hàng” được tôn trọng tuyệt đối nơi đây…

Thầy Tiêu cũng phải tự đi lấy nước và phải xếp hàng trong đó dù ông là … Thầy.

Trải qua mùa hạn đầu tiên của năm 1976-1977 thầy đã thật sự ngao ngán mà thốt lên rằng”

… “Hà Tiên ơi! Cỏ cháy!
Hà Tiên ơi! Người khô.
Ta ngồi đây im lặng
Nhìn mặt nước Đông Hồ
Xót xa…Toàn nước mặn!”

Thầy không ở Hà Tiên đủ lâu để hiểu là người Hà tiên không hề khô, và biết đâu có thể con người của xứ sở này sẽ xoá cái thế “rất độc thân” của thầy mà không có một đòi hỏi gì khác ngoài chuyện – phải yêu xứ sở đó! Và có lẻ, thầy Tiêu còn nhiều thơ về Hà Tiên nữa vì thầy thích làm thơ và có khả năng “xuất khẩu thành thơ”, tuy nhiên tôi đã không còn nhớ…

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước lớn (Photo: Ngọc Viên)

Ao Sen trước Lăng Mạc Cửu mùa nước cạn. (Photo: Trần Văn Mãnh, 1994)

Nay tôi không biết thầy đang sống nơi đâu, vì năm 1977 Hà tiên bị Khmer đỏ đánh ác liệt, các thầy cô sơ tán, một số thầy cô đã thuyên chuyển đi và không bao giờ quay lại, trong đó có thầy Tiêu.

Tôi cũng mong muốn rằng nhờ Blog này giúp sức, chúng ta sẽ lan tỏa thông tin để tìm kiếm lại những thầy cô bạn bè và đã từng đến gắn với ngôi trường Trung học Hà Tiên, để cùng ôn lại những kỷ niệm thời cắp sách đến trường, để chúng ta còn lưu được những điều đẹp đẽ nhất.

TruongMinhQuangNguyen_1Quang Nguyên (Việt Nam)

10/2017

 

 

 

 

 

Hình ảnh: Trần Văn Mãnh, Trương Minh Quang Nguyên

Tái bút:

Cô Lâm Ngọc Mai chị của bạn Lâm Thị Lan cho chúng ta biết là thầy tên nguyên họ là Nguyễn Văn Tiêu và môn thầy dạy là môn Sinh Vật. Xin cám ơn cô Mai và bạn Lan nhiều. (dỉ nhiên là một người thầy trên bậc Trung Học có thể dạy nhiều môn khác nhau tùy theo tình hình thiếu giáo sư trong trường nên có thể là thầy Nguyễn Văn Tiêu ngoài môn Sinh Vật, còn dạy môn Địa Lý cho lớp của bạn Quang Nguyên (tác giả bài viết trên)

Bạn Hồ Anh Dũng có thông tin cho biết thêm là thầy Nguyễn Văn Tiêu về dạy trường TRung Học Hà Tiên trước năm 1975, cô Nguyễn Thị Bình dạy môn Anh văn tại Trung Học Hà Tiên (niên khóa 1974-1975) là vợ của Thầy Tiêu lúc đó..

Cô Võ Kim Loan có thông tin thêm là hiện thầy Nguyễn Văn Tiêu định cư ở Sydney Úc Châu, thầy Tiêu có thông tin tìm người quen trên mạng (Blog Tha Hương, thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá), địa chỉ e-Mail của Thầy Tiêu như sau:

tuannguyenaus1@yahoo.com.au

Thông tin tìm người quen của thầy Nguyễn Văn Tiêu đăng trên Blog Tha Hương (thầy trò trường Nguyễn Trung Trực Rạch Giá)