Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Thầy cô và các bạn thân mến, một khi rời xa trường lớp, ta tưởng chừng như theo dòng thời cuộc, sẽ không còn có dịp gặp gở nhau nữa…Tuy nhiên cuộc sống hằng ngày nếu có vui buồn, khó khăn, mệt nhọc cũng có lúc tạo cho chúng ta những giây phút vui thú, nhất là khi tình cờ gặp lại người quen biết trong một hoàn cảnh nào đó…Rất có nhiều câu chuyện bạn học cùng trường cùng lớp sau bao nhiêu năm xa cách, gặp lại nhau trong dù ở nước ngoài xa xôi hay gặp nhau tại quê nhà…Thầy, cô trò cũng có khi có dịp gặp lại nhau, tạo cho tình cảm thầy, cô trò thêm đậm đà, vì nếu là học sinh của bao nhiêu năm dưới một mái trường yêu dấu, người học sinh nào mà không nhớ và luyến lưu đến hình ảnh người thầy, người cô thân thương đã dạy mình những năm học ngày xưa..Câu chuyện thầy Nguyễn Hồng Ẩn dù đang sinh sống ở nước Mỹ, chị Hứa Nguyệt Quang, người học trò Hà Tiên ngày xưa, tuy cũng sinh sống ở nước ngoài (Canada..) lại cũng có một cơ duyên được gặp lại nhau…Theo thông tin của anh Trần Văn Dõng (bạn học cùng lớp với chị Hứa Nguyệt Quang), chị Hứa Nguyệt Quang lúc còn học ở Trung Học Hà Tiên xưa thì chị ở trọ nhà của Hia Chiêu (căn nhà sát bên tiệm tạp hóa của Bà Ba Góp (góc đường Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên), chắc có bà con chi đó. Chị Hứa Nguyệt Quang cũng là bạn thân của chị Ngọc Lan, em của cô Nguyễn Thị Sồ. Hình như chị Hứa Nguyệt Quang là người quê ở Hòn Chông, Bình An, lên quận  Hà Tiên trọ để theo học bậc Trung Học.

Về một em cựu học sinh Trung Học Hà Tiên xưa (Thầy Nguyễn Hồng Ẩn)

Nhà có năm đứa con, chúng bỏ lại rất nhiều hình ảnh khi ra riêng, hình rời hoặc album. Hôm qua tôi lướt xem qua thùng ảnh thì tình cờ gặp lại loạt ảnh tôi và hai con, Minh Anh và Minh Hằng, đi dự đám cưới của cô em họ tại Toronto, Canada mà tôi được mời làm chủ hôn cho cô dâu và chú rể khoảng trước năm 1990.

Trong tiệc cưới nầy tôi đã vui mừng gặp lại một người học trò cũ tại trường Trung Học Hà Tiên xưa trong khoảng 1965-1970, đó là em Hứa Nguyệt Quang. Em có kể nhiều kỷ niệm trường lớp, cuộc sống từ 1975… nhưng đến nay tôi không còn nhớ, chỉ nhớ lúc gặp em thì em đang có một tiệm làm tóc tại downtown Toronto.

Em họ tôi đến làm tóc nên biết Nguyệt Quang là học trò của tôi và Nguyệt Quang là khách trong bữa tiệc cưới.

Sau đó cho đến nay tôi không còn biết thêm tin tức của em Hứa Nguyệt Quang.

Nguyễn Hồng Ẩn (21/09/2019)

Bìa phải hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (áo veste), người ngồi bên trái thầy là chị Hứa Nguyệt Quang và cô con gái của chị. Bìa trái hình: Hai người con của thầy tên Minh Anh và Minh Hằng. Hình: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Toronto, Canada, 1990

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HungCuongPC)

Ngả tư Tuần Phủ Đạt – Lam Sơn, Hà Tiên, trong dãy nhà ba căn trên, căn nhà giữa là nhà của « Hia Chiêu », nơi chị Hứa Nguyệt Quang ở trọ đi học ngày xưa. (Hình: HuynhNT)

 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn xưa đến nay, nói đến Hà Tiên thì ai cũng nhắc nhở đến những thắng cảnh xinh đẹp nên thơ như thắng cảnh Hòn Phụ Tử. Tuy Hòn Phụ Tử về mặt địa lý thuộc về xả Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, nhưng không hiểu vì sao mà tên tuổi Hòn Phụ Tử luôn gắn liền với địa danh Hà Tiên. Từ bao nhiêu năm xưa, Hòn Phụ Tử đã là đề tài gây cảm hứng cho biết bao nhà văn, nhà thơ, họa sĩ…  để được các nghệ sĩ nầy cho ra đời biết bao tác phẩm ca tụng vẻ đẹp của Hòn Phụ Tử. Mình còn nhớ ngày xưa mỗi lần Tết đến các báo Xuân đua nhau ra đời và thường là có cho thêm phụ bản một bức tranh khổ lớn vẻ hình Hòn Phụ Tử do họa sĩ Lê Trung vẻ.

Nói về phương diện địa chất, Hòn Phụ Tử là một hòn đảo gồm hai khối đá dính liền nhau đứng trên một bệ đá có chiều cao 5m so với mặt biển. Trong đó hòn Phụ có chiều cao khoảng 33,6m và hòn Tử cao khoảng 30m. Đó là hai trụ đá cao nghiêng nghiêng cùng một chiều tượng trưng cho hình hai cha con quấn quýt bên nhau trông ra biển cả. Hòn Phụ Tử nằm trên eo biển Khu du lịch Chùa Hang,  thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang, được xem là biểu tượng cho cảnh đẹp Kiên Giang và được công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia vào năm 1989.

Chung quanh vùng phụ cận Hòn Phụ Tử cũng có rất nhiều cảnh đẹp:

Hang Tiền: Gọi tên là « Hang Tiền » vì xưa kia cư dân có thu nhặt được nhiều đồng tiền điếu cũ, cũng có tài liệu nói rằng tên Hang Tiền là vì trên vách đá trong hang có hình giống như đồng tiền. Theo tài liệu quyển sách nhỏ « HATIEN PHOTO » do nhà chụp ảnh Quách Ngọc Bá phát hành, Hang Tiền là một hòn đảo cao 206 , dính liền với đất liền và ở trên con đường Hà Tiên – Hòn Chông, cách Tô Châu 25 km. hang to rộng, có 2 cửa: Cửa Đông dính với Bãi Đước, cửa Tây nhìn ra biển. Tuy gắn liền với dất liền nhưng rất khó đi đến Hang Tiền bằng đường bộ. Muốn đến chơi nếu dùng xuồng thì theo con rạch Hang Cây Ớt vượt ra Bãi Đước vào hang cửa Đông. Còn đi vào cửa Tây thì phải dùng ghe biển tại Bãi Bà Lưu trước Mũi Douannes (Mũi Quan Thuế) Hòn Chông. Từ Mũi Bà Lưu qua Hòn Đá Lửa và Hòn Lô Cốc thì đến cửa Tây. Trong Hang Tiền rất tối, phải dùng đèn đuốc soi đường, hang có nhiều thạch nhũ với nhiều hình thù độc đáo. Đặc biệt trong Hang Tiền có một giếng nước ngọt quanh năm, nhân dân trong vùng gọi là Giếng Tiên.

Bãi Dương: Bãi Dương là một bãi cát vàng mịn trên đường từ Hà Tiên xuống Kiên Lương. Đây là bãi tắm lý tưởng có hàng dương chạy dài theo mé biển với tiếng reo vi vu hòa vào tiếng rì rào của sóng biển. Bãi Dương nằm trong quần thể danh thắng Hòn Chông, là một bãi biển quyến rũ. Bờ biển Bãi Dương chạy dài khoảng hai cây số, một nửa bãi có hàng cây dương xanh và nửa bãi kia thì có cây dầu cổ thụ nên người địa phương gọi khu vực này là Bãi Dương và Bãi Dầu. Phía trước Bãi Dương có đảo Kiến Vàng cách bờ khoảng 500 mét án ngữ trước mặt. Cách Bãi Dương khoảng 2 cây số, có bãi Hòn Trẹm, tiếp đến là Chùa Hang (Hải Sơn Tự) và Hòn Phụ Tử.

Sơ đồ vị trí khu du lịch Chùa Hang – Hòn Phụ Tử do nhà chụp hình Quách Ngọc Bá phát hành năm 1973

Chùa Hang (Hải Sơn Tự) phía mặt nhìn ra biển, cách Hà Tiên khoảng 33 km. Ảnh xưa Pháp

Chùa Hang (Hải Sơn Tự),  (Hà Tiên), ảnh xưa Quách Ngọc Bá

Bãi Dầu (Hà Tiên). Hình xưa TuanVo

Bãi Dâu (Hà Tiên), photo: Trần Văn Mãnh 1994

Truyền thuyết về Hòn Phụ Tử

Theo truyền thuyết, xưa kia ở vùng biển này có con thuồng luồng rất hung dữ, hay đánh đắm vào thuyền bè để ăn thịt ngư dân. Bên chân ngọn An Hải Sơn, cạnh Chùa Hang, có hai cha con làm nghề chài lưới. Quá bất bình trước tình cảnh này, người cha quyết lòng tiêu diệt con ác thú trừ hại cho bà con. Sau khi tính hết kế, cuối cùng ông thấy chỉ còn cách hy sinh thân mình mới mong giết được con thuồng luồng này. Thế là ông liền tẩm thuốc độc vào mình, nằm sát mé biển để dụ con ác thú. Thấy mồi ngon, con thuồng luồng đến cắn đứt đầu ông, trúng độc rồi chết. Người con đi tìm cha, bắt gặp xác cha cụt đầu liền ôm lấy khóc thương thảm thiết. Không ngờ chất độc từ người cha thấm vào khiến người con trúng độc mà chết. Trời nổi giông bão, mưa suốt mấy ngày liền. Và nơi hai cha con nằm mọc lên hai hòn đá lớn và nhỏ. Hòn to là cha và hòn nhỏ là con, người ta gọi là hòn Phụ Tử.

Hai bên hòn Phụ Tử là hai hòn đảo có hình dáng giống như một con thỏ quỳ hai chân sau để giỡn với sóng biển và một con rùa. Thiên nhiên đã tạo nên một cảnh quan thật tuyệt. Chắc chắn rằng ai đã đến hòn Phụ Tử thì không thể quên được cảnh non nước hữu tình. (tài liệu Wikipedia mở)

Một hình ảnh rất xưa về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), trích trong một tài liệu Pháp (1934)

Một hình ảnh rất xưa về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), trích trong một tài liệu Pháp (1934)

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) theo tài liệu xưa Pháp.

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử, Nga Lâm sưu tầm

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo:  Houllé Edgard fils 1948

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: Jaubert 1949

Một bức ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: Nguyễn Ngọc Liên

Bãi biển sau Chùa Hang gần Hòn Phụ Tử, ảnh TuanVo, 1956

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên): TuanVo

Hang Tiền, một hòn đảo cao 206 m, dính vào đất liền, nằm trên con đường Hà Tiên-Hòn Chông. Hình xưa: Quách Ngọc Bá

Bức ảnh điển hình về phong cảnh Hòn Phụ Tử do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá 1966

Một ảnh đẹp về Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) do Nhiếp Ảnh Gia nổi tiếng gốc Hà Tiên chụp: Ông Quách Ngọc Bá, Hieu Nguyen sưu tầm và đăng trên trang fb « Tôi Yêu Hà Tiên »

Hình xưa Hòn Phụ Tử (1892) trích trên trang fb « Sài Gòn Xưa »

Hình xưa Hòn Phụ Tử (1892) trích trên trang fb « Sài Gòn Xưa »

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Truman Library (những năm 1960)

Ảnh xưa đảo nhỏ chung quanh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Truman Library (những năm 1960)

Cảnh xưa: đảo nhỏ chung quanh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo 1967

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo 1967

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo

Ảnh xưa Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: TuanVo

Hòn Trẹm (Hà Tiên), hình TuanVo

Bãi Dầu, Hòn Trẹm. Ảnh xưa: Quách Ngọc Bá

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), một góc nhìn hiếm, từ ngoài biển nhìn vào đất liền. Hình Roland Drosson 1953

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)  hình xưa: Bronson Ha

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: Nguyễn Hồng Ẩn, 1974

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), photo: Trần Văn Mãnh 1994

Photo: HauNguyen

Photo: AAFV

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Hòn Phụ Tử (Hà Tiên), hình: NguoiBinhDuong, 2006

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên). Photo: HauNguyen 2005

Toàn cảnh Hòn Phụ Tử (Hà Tiên)

Ngoài ra hình ảnh Hòn Phụ Tử còn xuất hiện trên một số tác phẩm như tem thư, tiền giấy, vé số, bích chương quảng cáo du lịch:

Sau đây là bức tranh vẽ Hòn Phụ Tử do họa sĩ Lê Trung vẽ và ký tên năm 1958, do tờ báo « SaiGon Mới » tặng đọc giả và có đề tựa bức tranh là « Mến cảnh Hà Tiên », có đề 4 câu thơ:


« Đoái nhìn phong cảnh Hà Tiên
Đá chồng phụ tử nước liền trời mây
Nặng lòng đối với cỏ cây
Non sông gắm vóc ai người điểm tô. »


Bức tranh diễn tả một người thiếu nữ đúng trước cảnh Hòn Phụ Tử và có chơi trò chơi đó tìm mẹ của người thiếu nữ trong hình, loại tranh vẽ có đó vui nầy rất thông dụng với tranh của Lê Trung ngày xưa, các bạn sẽ tìm ra mẹ của người thiếu nữ dể dàng….

Ngày đầu tiên phát hành tem thơ hình Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) 7/9/1964

Hình Hòn Phụ Tử (Hà Tiên) trên một tấm vé số (1961)

Tài liệu: Millesime Voyage Indochine VintageVivian

Tem thư Hòn Phụ Tử xuất bản năm 1964

Hình ảnh Hòn Phụ Tử trên tiền giấy 1 đồng (1985)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale » (1993)

Phong cảnh Hòn Phụ Tử được chọn để in thành « Carte Postale », anh Trần Độ, do nhà xuất bản Văn Hóa Hà Nội phát hành.

Hòn Phụ Tử bị gảy đổ:

Khoảng 3 giờ 45 phút ngày 9 tháng 8 năm 2006, phần Phụ của hòn Phụ Tử đã đột ngột ngã xuống biển. Phần gãy của hòn Phụ Tử là phần Phụ 20m, vị trí ngã ngang về hướng đông, phần còn lại chỉ còn khoảng trên 13m. Hòn Phụ Tử giờ chỉ còn lại phần hòn Tử.

Năm 2006, phần « Phụ » (người Cha) của Hòn Phụ Tử đã bị gảy đổ xuống biển, Hòn Phụ Tử chỉ còn lại phần « Tử » (người Con)

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Hòn Phụ Tử bị gảy phần « Phụ », nhìn từ phía biển nhìn vào bờ. Photo: NguoiBinhDuong, 2010

Ngày nay, phong cảnh Hòn Phụ Tử hình như đã bị bỏ rơi, người ta không còn chăm sóc nơi nầy như là một cảnh đẹp cần thăm viếng như xưa nữa, quang cảnh tiêu điều, vắng khách tới lui rất là buồn. Hòn Phụ Tử từ ngàn xưa được xem như là một báo vật của thiên nhiên tặng cho chúng ta, ngày nay báo vật đã mất đi, người ta không còn lưu ý đến nữa, một truyền thuyết đã được khép lại như số phận của « người cha » đã bỏ ra đi, để lại « người con » vẫn còn cô đơn sừng sửng đứng cùng trời đất như thách thức với định mệnh, như muốn nói rằng đối với ta ngàn năm vẫn vậy, ta vẫn còn đứng đây làm nhân chứng cho Hà Tiên qua bao nhiêu tang biến đau thương hay vinh quang, phồn thịnh…Ngẩm lại chúng ta người Hà Tiên vẫn xem Hòn Phụ Tử như một biểu tượng, rất buồn cho số phận của một kỳ quan….một kỳ quan đã cho chúng ta biết bao niềm vui, bao kỷ niệm để rồi ngày nay lặng lẻ cô đơn nhìn ra biển cả….Hòn Phụ Tử vẫn còn mãi trong ký ức của chúng ta….

Một cô giáo dạy trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa, đã cảm tác về Hòn Phụ Tử như sau:

Thấp thoáng ngoài khơi « cha với con »
Nhấp nhô trên sóng nước cùng non
Cảnh đẹp Chùa Hang phô sắc thắm
Tiếng sáo chiều quê nghe véo von

Thiên nhiên hùng vĩ thật đẹp xinh
Sóng biếc lao xao thắm nghĩa tình
Hòn Trẹm – Bãi Dầu du khách viếng,
Ráng chiều trên biển nước lung linh.

Cô Dương Hồng Châu cảm tác về Hòn Phụ Tử 26/08/1986

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)