Nhớ về những người bạn quen không cùng trường lớp nhưng cùng xóm chợ Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, từ lâu mình có ý nghĩ là viết một bài về những người quen biết và những người bạn tuy không học chung cùng trường lớp Trung Học Hà Tiên xưa nhưng rất gần gũi nhau vì đó là những người quen biết và bạn bè thường hay tới lui giao thiệp vì cùng ở chung quanh khu chợ Hà Tiên (đây là nói về khu chợ rất xa xưa của Hà Tiên, khu có ngôi nhà lồng chợ ở giữa hai con đường Tham Tướng Sanh và Tuần Phủ Đạt).

Mình sắp nói về những người quen biết và cũng là bạn bè hàng xóm, có người mình đã biết và có chơi qua lại từ rất lâu, ngay cả những ngày còn nhỏ thời trẻ nít, có người thì mình xem như đàn anh, nhưng cũng rất quen thuộc vì mỗi ngày đều có dịp gặp gở,..Trong số bạn bè người quen ở đây, một ít người thì đã ra người thiên cổ, ra đi đã lâu, có thể người Hà Tiên chúng ta đã quên rồi, vì thế mình muốn nhắc lại trong bài viết nầy, mong quý bà con, bạn bè còn ở Hà Tiên và những vị ở các nơi khác trên trái đất nầy, đọc bài và hãy suy tưởng nhớ lại, xem mình có quen biết người được nhắc đến ở đây hay không, tất cả đều là người quen biết và đều có thể được xem như là « những nhân vật quen thuộc » của đất Hà Tiên xa xưa.

Anh Tây Đen:

Từ nhỏ đến giờ, mình không biết tên thật của anh, chỉ nghe mọi người gọi anh là « Tây Đen »,…Cho đến tháng 8 năm 2018 khi mình đăng một thông tin trên trang fb để hỏi thăm về anh thì các bạn có góp ý nên mình mới biết được tên thật của anh. Anh tên thật là Phan Văn Sinh, đó là tên do cha mẹ nuôi của anh đặt cho. Cha nuôi của anh tên là Phan Văn Anh (tự Mạnh). Theo nội dung của phần thông tin của mình đăng lên để hỏi tin tức về anh Sinh, mình có viết như sau: « Các bạn ở Hà Tiên ngày xưa và nhất là các bạn ở Kiên Lương cho mình hỏi thăm về một người: Người nầy hồi xưa ở Hà Tiên, có tên thật là Mạnh nhưng mọi người đều gọi là « Tây Đen » vì anh là người lai có lẽ cha anh là người Phi Châu …Lúc xa xưa trong những năm 1960 ở sát bên nhà mình, do hai ông bà VN nhận làm con nuôi, (căn nhà chính là ngay nhà chế Gái Đen ngày xưa), lúc đó còn là một dãy nhà ngói đối diện với biệt thự ông Bầy đường Bạch Đằng, sau đó căn nhà đó do vợ chồng ông Huống ở, ông Huống làm nghệ giặt ủi quần áo và bà Huống thì bán rau hành ngoài chợ đường Tham Tướng Sanh. Sau nầy anh bạn Tây Đen về Kiên Lương ở, có một lúc có mâu thuẩn theo kiểu tuổi trẻ muốn đánh nhau với nhóm học trò Trung Học Hà Tiên của mình. Trong thời gian ở Kiên Lương anh bạn Tây Đen đăng vào lính và bị thương phải cưa hết một chân nên anh chỉ có một chân phải chống nạn đi, anh Tây Đen tuy rất đen nhưng nói chung vẫn đẹp trai, mũi cao, thân mình cân đối, hơi ốm..Sau nầy không biết anh ấy sống chết thế nào, các bạn có biết tin không, nhất là các bạn thường sống ở Kiên Lương sau nầy ».

Sau khi thông tin nầy được đăng lên ngày 20/08/2018 thì có nhiều bạn quen biết ở Hà Tiên và Kiên Lương góp ý và cho mình nhiều tin tức về anh Sinh. Như mình đã viết trong phần trên, từ xưa đến giờ mình cứ ngở tên anh là Mạnh, hóa ra đó chính là tên thân mật của cha nuôi của anh. Trong thời trẻ con của mình, khoảng 9, 10 tuổi, nhà cha mẹ nuôi của anh Sinh ở sát bên phải nhà mình, chổ  mà ngày xưa là một dãy nhiều căn ngói, kết sát bên nhà mình đó là nhà cha mẹ anh Sinh, kế đến là nhà ông Sừng làm nghề sửa chữa máy móc, kế nữa nhà của gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, ….v..v…lúc xưa chưa có căn nhà lầu của chế Gái Đen.  Thời đó lối xóm có nhiều trẻ con, mình cũng thuộc loại trẻ con của xóm đó, mình thường thấy anh Tây Đen nầy chơi với thằng bé con trai của ông Sừng nhà kế đó, nghĩ cũng vui vì thời xưa đó chỉ nội cái xóm khu nhà mình ở cũng có hai ba loại tây lai, tây trắng cũng có, tây đen cũng có,…(đó là anh em nhà mình, rồi bác Tây Đô ba của bạn Kiệt, rồi anh Sinh Tây Đen…).

Đây là những chi tiết mà người ta biết về anh Sinh: anh rất đam mê tốc độ, anh chạy xe honda rất tài tình về kỹ thuật lạng lách,…Sau khi anh và gia đình dời về Kiên Lương sinh sống, có thời gian anh vào lính, anh lái xe cho ông Trung Tá Liên Đoàn Trưởng BĐQ. Mỗi lần có dịp hành quân về Kiên Lương thì anh Sinh phô diễn tài chạy xe jeep, với kỹ thuật lái xe chỉ chạy trên hai bánh vòng vòng khu chợ tròn khiến cho người dân đứng xem hai bên đường vỗ tay khen rầm trời… Thời gian sau anh không may mắn vì bị thương và phải bị mất một chân, anh trở về cuộc sống dân sự ở Kiên Lương, mình cũng có nhiều dịp gặp gở anh khi đi Kiên Lương thăm bà con anh chị làm việc ở đó. Sự liên hệ giữa cá nhân mình và anh Sinh không có gì đặc biệt, ngày xưa là bạn con nít lối xóm chơi chung với nhau, khi lớn lên thì gặp nhau chào hỏi và thân thiện không có mâu thuẩn gì cả…Chỉ có một thời gian khi anh về Kiên Lương sống và chưa vào lính thì không biết tại sao có lúc nhóm học trò trung học Hà Tiên và anh Sinh ở Kiên Lương có hiềm khích gì đó, hai bên khích nhau gần như muốn đánh lộn với nhau, lúc đó học sinh Hà Tiên cũng không dám xuống Kiên Lương chơi vì sợ anh Sinh kiếm chuyện,…chỉ vậy thôi nhưng trên thực tế thì chưa hề có việc đánh nhau thật sự, đó chỉ là những xích mích theo kiểu thời học sinh, chắc cũng là vì lý do muốn dành chiếm con tim của một hai người đẹp Hà Tiên hay Kiên Lương nào đó…

Có nguồn tin bạn cho hay sau nầy khi anh rời khỏi đời lính vì bị thương tật, anh về sống cuộc đời bình dị làm ăn với gia đình. Mình không biết được tin tức của anh nữa. Nghe các bạn thông tin là anh có đi buôn bán thuốc lá tuyến đường Hà Tiên-Kiên Lương, có lúc thì anh bán vé số, về sau không buôn bán nữa thì anh về xã Hòa Điền sống với vợ con và mất ở đó. Mình cũng không biết chính xác anh Sinh mất năm nào, chỉ mới biết tin do bạn bè chia sẻ cho biết mà thôi, nghĩ lại thấy rất tội nghiệp cho cuộc đời của anh, vì rốt cuộc anh cũng là một nạn nhân của thời chiến tranh tang tóc…phải chịu cảnh thương tật đến khi rời xa cuộc sống. Ngày xưa khi chào đời anh được cha mẹ nuôi nhận đem về sau khi mới sanh ra có 3 tiếng đồng hồ ở Vĩnh Long. Thời gian đi học ở Hà Tiên bậc Tiểu Học anh học chung với anh Tòng con dì Tám Tiền cũng ở gần nhà mình đường Bạch Đằng. Khi anh Phan Văn Sinh mất, gia đình chôn cất anh ở Hà Tiên.

Về gia đinh cha mẹ nuôi của anh Sinh, mình cũng không biết nhiều, chỉ còn nhớ cha của anh ngày thật xa xưa mình có gặp mặt vì là người lối xóm, nhưng hoàn toàn không biết gì về những người thân khác trong gia đình của anh Sinh. Sau nầy mới được bạn bè thông tin thêm cho biết là anh có một người chị trong gia đình tên là Phan Thị Lang, chị Lang hay lên xuống Hà Tiên đi buôn bán và chị cũng là bạn thân với chị Huỳnh Thị Huệ người chị bạn dì với mình sống ở Kiên Lương. Chị Phan Thị Lang ngày xưa cũng là một cô giáo dạy ở trường Tiểu Học An Bình, Kiên Lương, nhà chị ở khu chợ dài ở Kiên Lương.

Anh Phan Văn Sinh với chiếc nạn gỗ lúc anh bị thương tật ở chân.

Chị Phan Thị Lang và bức chân dung của người cha là ông Phan Văn Anh, cũng là cha nuôi của anh Phan Văn Sinh

Bìa trái hàng đứng: chị Phan Thị Lang (chị của anh Phan Văn Sinh), bìa trái hàng ngồi: bạn Lý Mạnh Thường.

Tái bút: Sau khi viết phần về anh Phan văn Sinh xong, đến ngày hôm nay 25/06/2020, mình có nhận được mail thông tin của người con gái lớn của anh Sinh, người con gái nầy có cho mình biết vài thông tin về gia đình của anh hiện tại. Anh có tất cả 4 người con, người con út là con trai vẫn còn độc thân, ba người con lớn thì đã có gia đình. Cuộc sống tất cả đều ổn định. Người vợ của anh vẫn còn sinh sống ở xã Hòa Điền tuy sức khỏe có phần yếu kém. Theo hình ảnh của thẻ căn cước ngày xưa của anh Sinh thì tên chánh thức trên giấy tờ của anh là PHAN VĂN XIN. Theo thông tin gia đình thì anh Phan Văn Xin mất ngày 18/05/2001. Mình xin cám ơn người con gái lớn của anh Xin về những thông tin nầy và về những tấm hình mà cô đã chia sẻ qua email.

Chân dung anh Phan Văn Xin trong giấy căn cước ngày xưa. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Giấy căn cước ngày xưa của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Chân dung của anh Phan Văn Xin. (Nguồn hình: gia đình anh Xin)

Bạn Phách:

Tiếp tục kể chuyện hàng xóm đường Bạch Đằng, ngày xưa lúc mình còn nhỏ, mình thường chơi thân với bạn Phách, bạn bè khu chợ thường gọi bạn là Phách, nhưng tên chữ của Phách chính là Chung Nghiệp Phát. Ngày xưa mình với Phát chơi nhau rất thân, mình thường hay qua nhà Phát chơi, má của Phát rất tử tế, rất vui vẻ nói chuyện với mình tuy nhiều khi thì cũng rất nghiêm. Ba của Phát làm việc ở khách sạn Đại Tân phía sau nhà mình ở đường bến Trần Hầu. Gia đình ba má Phát có hai người con trai, Phát là lớn và có một em trai tên là Tài. Nhà của Phát ở sát bên phải căn biệt thự nổi tiếng ngày xưa của ông Bầy, ở đường Bạch Đằng. Ở chợ Hà Tiên, có nhiều gia đình người Hoa có tiệm buôn bán chung quanh chợ, thường là những người có quan hệ bà con với nhau. Má của bạn Phát chính là người chị của ông Thái Dũ (tên của ông là Huỳnh Diệc Hỹ, ở Hà Tiên ai cũng biết ông, vì gia đình ông có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Hà Tiên, nhất là trong những năm xưa 60-70, người dân Hà Tiên tiêu thụ xăng dầu do trạm cây xăng của gia đình ông cung cấp). Má của bạn Phát còn có một người chị lớn nữa chính là bà Thái Sầm, một trong những người cố cựu ở Hà Tiên và cũng là chủ của nhiều dãy phố chung quanh khu chợ Hà Tiên, bà Thái Sầm cũng là chủ nhân của khách sạn Tô Châu xưa ở bến tàu sông, góc đường bến Trần Hầu – Tô Châu.

Ngày xưa trước mặt căn biệt thự của ông Bầy có một lề đường tráng xi măng sạch sẽ, nhóm con nít khu xóm thường tụ  tập tại đó để chơi các trò chơi trẻ con. Trò chơi thì có rất nhiều loại, thay đổi tùy theo « mùa màng », mình cũng không biết ai là người có ảnh hưởng quyết định khi nào là mùa phải chơi trò chơi nào, nhưng rỏ ràng là theo nhóm chơi của trẻ nít xóm mình thì có khi có mùa chơi dây thun, có mùa chơi bao thuốc lá, có mùa chơi hình cắt nhỏ từng miếng, có mùa chơi nút ve chai nước ngọt, đặc biệt có mùa chơi « chẻ mía » rất hấp dẫn. Tất cả các trò chơi nầy được diễn ra ở hai bên lề đường Bạch Đằng ngay khu mình ở. Tham gia các trò chơi nầy đều có các bạn lối xóm của mình, dĩ nhiên là bạn Phát cũng có mặt trong các trò chơi nầy, thực ra mình cũng ít chơi trực tiếp, chỉ thích đứng xem cả buổi các bạn chơi với nhau xem ai ăn ai thua mà thôi. Ngay cả lúc căn biệt thự của ông Bầy cho người Mỹ mướn ở trong đợt những cố vấn Mỹ đầu tiên đến Hà Tiên, thì mình cũng qua nhà của Phát để xem họ dọn đồ đạc đến trong căn biệt thự, vì lúc đó, trẻ con thường hay theo các người Mỹ nầy để xin kẹo Chewing Gum và các lon nước ngọt…Có khi thấy thầy hiệu trưởng Trần Văn Hương tình cờ chạy xe đạp ngang thì phải trốn dấu mặt vì sợ bị thầy kêu lên văn phòng rầy la ngày hôm sau…

Chơi với nhau nhiều năm sau đó thì bạn Phát đi qua nước Campuchia một thời gian, lúc đó có lẽ để tránh tình trạng chiến tranh ở Việt Nam, mình và Phát mất liên lạc nhiều năm trong thời gian đó. sau đó Phát cũng trở về nhà ở Hà Tiên sinh sống, mình và Phát gặp lại và cũng thường xuyên qua lại với nhau. Thời gian sau 1975 mình và Phát mất liên lạc vì mỗi người đều có hướng đi riêng của mình. Hiện nay mình và Phát đã « gặp » lại nhau trên mạng, Phát sống với gia đình ở nước Canada.

Anh Thái và bạn Khuôn:

Kế căn biệt thự của ông Bầy về bên trái thì có căn nhà ngói do gia đình ông Trương Thái Phong mua cho ông ở riêng trong căn nhà nầy, sau đó có em Huỳnh là em của bạn học cùng lớp với mình là Trương Kim Ô ở căn nhà nầy. Kế căn nhà ông Trương Thái Phong về bên trái là nhà của một gia đình rất đông người ở. Đó là gia đình của anh Thái, anh Thái họ Tạ, tên đầy đủ là Tạ Hữu Thái, là con trai trong gia đình ở trong căn nhà nầy, đối diện với căn nhà lầu của chế Gáí Đen. Đây là một gia đình kỳ cựu đã ở trên con đường Bạch Đằng nầy rất lâu đời. Lúc xưa trong căn nhà đó có hai gia đình cùng ở chung, cũng đều là bà con ruột với nhau. Trong gia đình bạn Thái thì phía anh chị lớn có anh Hạo (là bạn với anh Lê Quang Chánh, anh bạn dì với mình), rồi chị Khiếm (chồng chị Khiếm là anh Ngoán, lúc xưa làm việc lái xe cho ông quận trưởng Hà Tiên, hai anh chị có con trai và gái, người con trai tên Tùng, cháu Tùng thường qua nhà mình ngồi ở hàng ba trước nhà mình xem mình đàn guitare vì Tùng rất thích chơi đàn nầy). Kế đến là anh Thái, sau anh Thái còn có nhiều em trai và gái nữa, trong số đó có ba người con gái, có cô tên Kim là phu nhân của anh Lý Cảnh Tiên (anh Tiên là anh của bạn học mình là Lý Mạnh Thường). Vì là lối xóm ngày ngày hai bên nhà nhìn qua nhìn lại, nhất là những buổi chiều gió mát nhà anh Thái thường hay trải chiếu ngoài hàng ba và cả nhà quây quần ngồi chơi nói chuyện rất vui. Thông thường thì hằng ngày ba anh Thái thường đan lưới trước nhà vì cả gia đình làm nghề đánh bắt cá, có tàu lớn ra vào ngoài cửa biển Pháo Đài. Vì anh Thái lớn tuổi hơn mình, là đàn anh nên mình không có học chung lớp với anh, chỉ có một người nữa trong nhà, hồi xưa mình chỉ biết tên bạn là Khôn (nhưng sau nầy xem tin tức của anh Thái mới biết tên đúng là Khuôn), bạn có tên đầy đủ là Lâm Mậu Khuôn, là anh em cô cậu với anh Thái, ngày xưa hồi học Tiểu Học, mình học chung lớp với bạn Khuôn, bạn Khuôn có một đặc điểm là bạn bị cận thị rất nặng, mà hồi rất xưa ở Hà Tiên, cũng không có việc phải đi khám mắt và mang kính cận nên bạn Khuôn không có đeo kính, trong lớp học mỗi lần muốn đọc một tờ giấy gì mình thấy bạn Khuôn đưa tờ giấy gần sát trên mắt để đọc… Một thời gian sau đó, cha mẹ bạn Khuôn, dọn nhà ở riêng ở phía dưới đường Trần Hầu, mình cũng biết căn nhà nầy vì có nhiều lần đi chơi ngang nhà. Ngày xưa lúc còn nhỏ chơi với nhau khá thân nên lúc Khuôn dọn nhà đi xuống xóm đường Trần Hầu thì mình cũng hơi buồn vì không gặp lại bạn thường xuyên. Từ lúc Khuôn dọn nhà đi thì mình và bạn ít có dịp tiếp xúc nhau, cho đến khi sau nầy có phong trào vượt biên đi ra nước ngoài, Khuôn cũng theo gia đình đi  nên không còn biết tin tức nhau. Cho đến lúc gần đây, nhìn hình ảnh anh Thái về Việt Nam đi thanh minh ở Hà Tiên, có chụp hình chung với bạn Khuôn, mình nhìn hình và nhận ra ngay Khuôn, mặc dù là đã xa nhau có hơn trên 50 năm…Hiện nay, anh Tạ Hữu Thái sinh sống ở nước Úc, còn bạn Lâm Mậu Khuôn thì ở nước Mỹ.

Từ trái sang phải: bạn Chung Nghiệp Phát, anh Tạ Hữu Thái và bạn Lâm Mậu Khuôn. Những người bạn ngày xưa nhà ở cùng đường Bạch Đằng, Hà Tiên.

 Anh Trần Bình:

Ngày xưa khi còn học bậc Tiểu Học, mình có học chung lớp với anh Trần Bình, anh Trần Bình người khá cao, nét mặt rất đẹp trai, nhà anh ở ngay góc đường Lam Sơn-Bach Đằng, gần như đối diện với nhà mình (ngày nay chính là quán bán mì của anh Cáo Di và chị Hoa). Gia đình anh Trần Bình rất quen thuộc với nhà mình, má của anh thì quen biết nhiều với má và ông bà của mình, còn ba của anh thì thường hay qua nhà mình hút thuốc phiện với ông ngoại mình…Ở Hà Tiên ngày xưa có rất nhiều bậc ông cha có tên là Tỹ, đó là một tên quen thuộc của người Việt gốc Hoa, ông ngoại mình tên là Trần Đệ, vì ông rất cao lớn, lưng lại hơi tôm nên người ta gọi ông là ông Tỹ Tôm, còn ba của anh Trần Bình người cũng cao lớn, người ta gọi tên là ông Tỹ « Cọn », đó là tên theo phát âm chữ Hoa ra tiếng Việt nên mình viết ra đây cũng không chính xác.

Có một kỷ niệm lúc ba của anh Trần Bình qua nhà mình, ông đi bằng cửa sau, từ phía mặt đình Thần Thành Hoàng về phía nhà mình, vì ông thường qua nhà mình chơi với ông ngoại mình nên cũng rất dè dặt, kin đáo nên thường đi theo cửa phía sau nhà. Lúc đó sân phía sau nhà mình còn đất rộng cây cỏ mọc nhiều, anh em mình đang chơi trò phóng một mũi tên nhọn qua lại, lúc anh mình phóng mũi tên nhọn về phía mình, nghĩ lúc đó sao mình cũng ngu dại thật, mình đưa ngay bàn chân phải ra đón mũi tên, ai dè mũi tên cấm phập ngay trên bàn chân, chắc cũng đau lắm, nhưng cũng không sao, không có chảy máu, ngay lúc đó thì ba anh Trần Bình vừa đến ngay cửa sau, khi thấy kiểu chơi như vậy, ông nói: « Mấy đứa tụi bây chơi gì mà nguy hiểm quá vậy… »

Ngày còn con nít, anh em nhà mình chơi rất thân với anh Trần Bình, lúc đó mình chịu ảnh hưởng rất nhiều về các nội dung truyện Tàu, loại truyện hồi xưa tiệm thuốc Tây Thanh Bình ở dưới chợ cá cũ cho mướn sách để đọc. Mình đọc gần như hết tất cả các truyện Tàu có trong tiệm Thanh Bình nên chịu ảnh hưởng nặng nề về nội dung các câu chuyện nầy, nhất là truyện Tàu Tề Thiên Đại Thánh, Thái Tử Na Tra lóc thịt, các câu chuyện Thần Tiên về Đông Du bát tiên hay Phong Thần…Lúc anh Trần Bình qua nhà mình chơi, mình thường hay dừng màn trướng làm như trong gánh hát, rồi chơi trò theo các câu chuyện trong truyện Tàu, anh Trần Bình lấy cái thùng giấy sửa ông Thọ và phía mặt ngoài có vẽ hình các bông sen, rồi cầm thùng giấy đó đưa lên ngang ngực mình ngay chỗ mình đứng giống như là mình đang ngồi trên tòa bông sen theo kiểu các hình Bồ Tát, Đức Phật ngồi trên tòa sen…Hồi thời đó, anh Trần Bình có tài vẽ hình rất hay, anh thường vẽ hình các vị Phật, vẽ hình ông Lý Tịnh trên tay cầm bửu tháp, cha của Na Tra, theo kiểu nội dung thần tiên trong truyện Tàu. Vì ngôi nhà anh ngay trước mặt nhà mình, chỉ cách con đường Bạch Đằng, nhà lại có một tầng lầu và các cửa sổ lầu nhà anh cũng ngó sang nhà mình nên thường khi anh ở trên lầu, mình cũng thấy được anh Trần Bình ngồi vẽ trên đó và hai bên cũng liên lạc nói chuyện với nhau được mặc dù cách nhau một con dường và có độ cao khác nhau…

Lúc còn học chung ở Tiểu Học, mình và anh Trần Bình còn có một người bạn chung tên là Thành, Thành hơi nhỏ con, là con trai của một gia đình công chức sống trong cư xá của Ty Quan Thuế thời đó (tức là khu nhà ở sau Ty Quan Thuế nhìn ra đường Trần Hầu, khoảng có cầu đoan quan thuế ở bến sông Hà Tiên). Có lần anh Trần Bình có mua một số đồ chơi bằng nhựa mủ, các đồ chơi nầy là mô hình các người lính, các chiếc xe nho nhỏ rất xinh đẹp mà mình cũng rất thích nhưng thời đó không có tiền túi nhiều để mua chơi, một lúc thời gian sau, khi anh sắp lên Sài Gòn tiếp tục học thì anh Trần Bình cho bạn Thành đó tất cả các món đồ chơi đó.

Khi mình bắt đầu lên Trung Học thì mình và anh Trần Bình ít có dịp chơi với nhau, vì có lúc anh lên Sài Gòn ở, bạn bè ít liên lạc với nhau. Anh lập gia đình với người Hà Tiên và từ đó về sau mình không có tin tức gì về anh nữa. Sau nầy qua con gái của anh, mình biết được là anh đã qua đời vì bệnh từ lâu. Anh Trần Bình mất năm 2016, gia dình chôn cất ở trên cao, ngay đỉnh núi Đề Liêm Hà Tiên.

Anh Trần Bình, rất đẹp trai, vừa là bạn thân lúc còn nhỏ, vừa là bạn lối xóm.

Bạn Sện, hai anh em bạn Đệ và Úi:

Một trong những người bạn trong khu chợ tuy không có lúc nào học chung trường lớp nhưng có nhiều thời gian chơi khá thân với nhau là bạn Sện, người Hà Tiên gọi bạn bằng tên thân mật là Sện nhưng tên thật của bạn là Huỳnh Vạn Tường. Bạn Huỳnh Vạn Tường là con trai của một gia đình người Việt gốc Hoa có tiệm làm ăn ở đường Tham Tướng Sanh, bên hông ngôi chợ Hà Tiên xưa. Tiệm của gia đình bạn Tường có hiệu là Phục Hưng, ba của bạn Tường làm nghề trồng răng và má của bạn thì có nghề uốn tóc. Không biết từ lý do gì mà mình và bạn Tường chơi thân với nhau và từ lúc nào, chỉ biết là má của Tường rất mộ Đạo Phật nên thường hay lui tới nhà mình để tham gia việc cúng kiến quý thầy tu, và mỗi lần có người em của bà ngoại mình (bà ngoại mình thứ chín, có hai người em tu trong chùa ở Châu Đốc nên mấy đứa cháu như mình thường kêu là bà Mười lớn và bà Mười nhỏ), bà Mười nhỏ thỉnh thoảng vào Hà Tiên thăm bà ngoại mình, lần nào má của Tường nghe tin cũng đến nhà mình để tiếp xúc với bà Mười nhỏ về việc tu hành. Tường thường kể cho mình nghe về việc bạn học nghề võ, hình như là học với anh Hà Văn Long (anh Hà Văn Long là cháu ngoại của bà Cô Tư có thời gian trụ trì nhiều năm ở chùa Lò gạch ngày xưa, người Hà Tiên thường gọi anh Long bằng biệt danh « Long bảy búa », anh Hà Văn Long nay đã mất). Tường thường kể là học theo võ bùa, mỗi lần có bùa nhập vào là đánh võ rất hay và mạnh. Ở nhà của bạn Tường có một sân thượng phía sau nhà, đứng trên sân thượng nầy có thể nhìn thấy phía bên đường Bạch Đằng, và mặt tiền khu nhà đường Lam Sơn, Tường thường hay dẫn mình lên sân thượng sau nhà nầy và biểu diễn múa võ cho mình xem…

Hồi xưa lúc chơi với nhau, Tường cũng rất thích về môn đàn guitare và nghe nhạc hòa tấu đàn điện do nhóm The Shadows chơi. Bạn Tường thường dẫn mình đến nhà hai bạn Đệ và Úi, dó là hai anh em nhà ở đầu đường Lam Sơn – Tham Tướng Sanh, ngay phía trước nhà có một gốc cây me rất to lớn và phía trước đó cũng là chỗ thường xuyên của chiếc xe bánh mì « pa tê » rất nổi tiếng ở Hà Tiên, đó là chỗ bán của bà bán bánh mì « pa-tê », bà cũng có bán kèm theo vài trái mít rất to lớn.  Vì nhà của anh em Đệ và Úi có một cái máy hát dỉa loại xưa, hát bằng dỉa đá lớn màu đen, loại 78 vòng, có một dỉa đặc biệt về các bài hòa tấu của nhóm The Shadows, thường là nghe các bài Apache, FBI, Kon-Tiki,…Hồi xưa mình và các bạn đó rất mê nghe các bài hòa tấu guitare điện nầy nên nhóm bạn ở khu chợ nầy thường tụ họp ở nhà của hai bạn Đệ và Úi để nghe các bài nầy, nhiều khi cứ nghe đi nghe lại rất nhiều lần, lúc nào cũng thấy thật hay, mà vào thời đó ai cũng mê các bài hòa tấu đàn điện nầy của nhóm The Shadows, thường là các bài nầy được hát ở những rạp chiếu bóng ở Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ trong khi chờ vào giờ chiếu phim. Thời đó mình rất mê đàn guitare, nhất là mê tiếng đàn guitare điện, nhưng đâu có được đàn điện mà chơi, chỉ chơi bằng loại đàn kêu là đàn thùng (guitare acoustique) và thường là nghe bập bởm âm điệu của các bài của The Shadows rồi cứ đàn theo trí nhớ lại, chỉ biết được tên của hai bài chánh là Apache và FBI, còn nhiều bài khác thì biết nghe, ghiền nghe nhưng hoàn toàn không biết tựa bài là gì.

Bây giờ nói thêm về hai anh em bạn Đệ và Úi, bạn Đệ tên thật là Liêu Thọ Hoa, Đệ người cân đối, nhỏ con, cũng khá đẹp trai, rất hiền, còn Úi tên thật là Liêu Thọ Vĩ. Hai anh em Đệ và Úi còn có một người anh trai lớn nữa, lúc đến nhà chơi mình cũng có gặp người anh lớn nầy. Hàng ba trước nhà của hai anh em Đệ và Úi ngày xưa có cho ông thợ hàn thiếc mướn để hành nghề, hồi xưa mình cũng thường hay đến đây ngồi xem ông thợ nầy làm việc, mình rất mê xem ông cắt từng miếng thiếc, rồi đập, uốn, hàn thành những dụng cụ như bình tưới nước có cái búp sen ở đầu vòi hoặc máng xối hứng nước..v..v..Lúc ngồi xem ông làm việc thì cũng có vài người bạn của ông đến chơi và nói chuyện vui với nhau, thời đó có một ông làm thợ uốn tóc ở tiệm của nhà bạn Tường, mấy ông nầy thường có thú vui là cá độ với nhau số kiến thiết xổ ra là số mấy (loại số xổ trước hết gồm hai con số, người dân Hà Tiên thời đó dùng kết quả số nầy để chơi số đuôi, còn gọi là đánh số đề), mấy ông nầy chia 100 con số ra làm bốn phần (phần một từ số 01 đến số 25, phần hai từ số 26 đến số 50, phần ba từ số 51 đến số 75, phần bốn từ số 76 đến số 00 (tức số 100), mỗi ông cá vào một trong bốn phần nói trên nên khi số xổ ra đều có người trúng …Đó là cách chơi cá xổ số của mấy ông mà mình vẫn còn nhớ đến bây giờ. Về sau nầy, khi ông thợ hàn thiếc không còn mướn phía trước nhà của anh em bạn Đệ, Úi nữa thì có chị Lâm Thủ Điệp, phu nhân của bạn Lý Cui (bạn Lý Cui học chung lớp với mình trong thời Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ từ lớp đệ thất đến hết bậc Trung Học Hà Tiên) mướn để làm tiệm may y phục phụ nữ.

Nhắc lại thêm vài chi tiết vui ngày xưa với bạn Tường, ngày xưa ở Hà Tiên có thông lệ là nếu có một người bạn quen phải đi Rạch Giá vì có công việc riêng hay đi học hoặc đi trình diện đi lính thì sáng sớm hôm đó thường có bạn bè đi đưa người lên đường ra bến tàu, xe, và để thưởng công cho người đi đưa phải thức sớm, người sắp đi sẽ mời bạn ăn sáng một tô mì và một ly cà phê đá, thường là ngay tại quán Quảng Phát vì quán nầy ở gần bến tàu, xe nên rất tiện cho việc lên đường. Nhiều lần bạn Tường cũng rủ mình thức sớm ra đưa Tường đi Rạch Giá hay Sài Gòn như vậy, lần nào thì Tường cũng khao mình một tô mì và ly cà phê đá và dĩ nhiên là do bạn Tường trả tiền. Không những thế, ngay cả vào những ngày bình thường, bạn Tường thường hay có thói quen là thỉnh thoảng vào buổi trưa hay ăn một tô mì hay hủ tiếu ở quán ông Phan trong nhà lồng chợ, gần nhà của Tường, nếu trước đó bạn Tường đang ở nhà mình chơi đàn hay ngồi nói chuyện ở trước hàng ba mái hiên nhà mình thì Tường cũng rủ mình ra ăn luôn với Tường cho vui, lần nào bạn Tường cũng chiêu đãi trả tiền, vì thời xưa còn học sinh, mình cũng không có tiền túi dư để khao bạn bè ăn hủ tiếu thịnh soạn như vậy, tóm lại nếu nói nợ nần thì mình cũng đã nợ bạn Tường rất nhiều về những lần được khao ăn mì, hủ tiếu như vậy…

Sau nầy khi mình đi dạy học thì ít về Hà Tiên nên ít có dịp gặp lại các bạn cùng xóm chợ. Về sau khi có chiến tranh biên giới 1977-78, đa số người Hà Tiên đều tản cư đi các nơi khác, bạn Huỳnh Vạn Tường qua Rạch Giá và có mở tiệm hành nghề trồng răng tiếp nối nghề gia đình. Hiện nay Tường đã trở lại Hà Tiên sinh sống và thỉnh thoảng cũng có làm việc. Bạn Đệ (Liêu Thọ Hoa) thì định cư ở nước Mý, còn bạn Úi (Liêu Thọ Vĩ) thì vẫn còn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hồ:

Mình quen biết với bạn Hồ qua sự trung gian của bạn Huỳnh Vạn Tường, nói chung Hồ, Sện và Phách đều là quen biết và bà con với nhau cả. Bạn Hồ tên chánh thức là Huỳnh Minh Hà, con trai của ông Thái Dũ mình đã có dịp nói ở trên, vì thế bạn Chung Nghiệp Phát và bạn Huỳnh Minh Hà là hai anh em cô cậu (má của Phát là chị của ba của Hồ). Trong thời gian mình và Tường chơi đàn guitare thì Tường có giới thiệu mình với Hồ để có dịp chơi đàn chung với nhau. Bạn Hồ người cao ráo, thanh nhả và cũng rất đẹp trai. Hồ nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng tôn trọng bạn bè. Tường và Hồ cũng thường đến nhà mình chơi buổi trưa và như đã kể ra ở trên, sau đó hai bạn thường rủ mình ra quán ông Phan ăn hủ tiếu, khi thì Tường khao, khi thì bạn Hồ khao…Vì không thể chấp nhận đi hoài nhiều lần phải để cho hai bạn trả tiền cho mình nên thỉnh thoảng mình cũng từ chối, viện cớ nầy nọ…Thời xa xưa đó cuộc sống học trò thì đâu có dư tiền túi, trong khi đó các bạn ở quanh chợ thì nhà khá giả nên có phương tiện chi tiêu rộng rải…

Vì bạn Hồ rất thích chơi đàn guitare nên có thời gian trước đó Hồ có chánh thức học đàn với anh Mẫn. Mình nói thêm về anh Mẫn, ngày xưa anh Mẫn là một quân nhân làm việc ở Chi Khu Hà Tiên, anh Mẫn là một người yêu âm nhạc và có trình độ âm nhạc rất cao, anh chơi đàn theo phương pháp cổ điển rất điêu luyện. Thời đó có các bạn Bùi Văn Tư, Phan Văn Hữu, mình, anh Trần Văn Dõng, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…thường kết bạn thân thiết với anh Mẫn. Mỗi buổi chiều anh Mẫn thường đến sớm ở quán Ti La để giúp thầy Đạt dọn ra các loa phát ra nhạc buổi tối khi quán bắt đầu mở cửa. Các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên kể trên tối nào cũng lên quán Ti La để uống cà phê nghe nhạc và nói chuyện với anh Mẫn và thầy cô Đạt đến khuya mới tan hàng,…Sau nầy anh Mẫn trở thành con rể của thầy Đạt và anh có một người con trai, anh Mẫn đã mất từ lâu rồi. Bạn Hồ có mời anh Mẫn dạy kèm cho Hồ cách chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển. Mình còn nhớ có vài lần đầu gặp Hồ, mình và Tường, Hồ cùng nhau ngồi chơi trước hàng ba nhà mình, bạn Hồ có đàn cho mình nghe vài âm điệu, khi nghe Hồ đàn một lúc, tiếng đàn rất phong phú, lúc thì theo hợp âm đô trưởng (C), lúc thì theo hợp âm la thứ (Am), vừa có tiếng đàn trầm giử nhịp (basse), vửa có nhiều âm thanh cùng phát ra một lúc theo kiểu đàn nhạc cổ điển, mình giựt mình vì nhận thấy Hồ đàn rất hay và rất căn bản, hỏi ra mới biết đó là bài tập thứ nhất do anh Mẫn mới dạy cho Hồ tập đàn. Đó là bài N°1 Valze, nhịp 6/8 trong quyển sách học đàn « Méthode complète pour Guitare » của tác giả Ferdinando Carulli. Thời đó nghe tiếng ai mà học đàn theo quyển sách đó thì đó là tay chơi đàn gạo cội rồi đó…Nếu muốn chơi đàn guitare theo phương pháp cổ điển, ai cũng phải qua quyển sách đó, trong sách có 56 bài tập (exercices) và sau khi tập xong 56 bài tập đó thì phần cuối sách có 6 bài trình độ cao (études). Không biết anh Mẫn có chơi hết các bài trong quyển sách nầy hay không, vì thời đó rất khó mà có được quyển sách nầy. Sau nầy khi đi dạy học ở Mỹ Luông, mình gặp một người bạn đồng nghiệp tên Lê Việt Ánh, người Huế, dạy môn Anh văn, Ánh chơi đàn cổ điển rất hay, lúc đó mình mới bắt đầu đi vào phương pháp đàn guitare cổ điển, tập được hết 56 bài tập và 6 bài études của quyển sách Carulli nầy. Đến thời gian khi qua Pháp định cư, mình cũng tìm mua được quyển sách Carulli nầy, bản gốc theo tiếng Pháp để giữ đó làm kỷ niệm nhớ lại thời chơi đàn ở Việt Nam.

Sau năm 1975, đa số các gia đình người buôn bán chung quanh chợ Hà Tiên đều có phương tiện đỉ nước ngoài bằng tàu ghe, bạn Hồ cũng ra đi cùng với gia đình rất sớm, từ đó mình mất liên lạc với Hồ. Sau nhiều năm sau nầy, khi mình bắt đầu hay sưu tầm, tìm tòi các hình ảnh xưa về Hà Tiên, vào năm 2006, tình cờ mình thấy được một bức hình do một người lính hải quân Mỹ chụp tại Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, hình chụp các em trẻ nít người Hà Tiên, có lẽ do người lính Mỹ kêu tập họp lại để anh chụp hình cho vui, đó là vào năm 1965, người lính Mỹ nầy tên là Cliff Rocheleau, khi thấy được bức hình nầy mình rất mừng và rất thú vị, vì trong hình thấy rỏ cảnh Đài Kỷ niệm với một phần chợ cá cũ của Hà Tiên, nhất là bên phải hình mình nhìn ra rỏ ràng có mặt bạn Hồ đang đứng trong đó. Hình được mang tên « vn0146 » trong một bộ tập hình về Việt Nam do anh Cliff Rocheleau đăng trên trang web của anh mang tên « Coast Guard Warriors » (Chiến binh bảo vệ bờ biển), dưới bức hình chụp trẻ em tại Đài Kỷ niệm Hà Tiên (1965) anh có chú thích « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien. » (Những đứa trẻ luôn bị thu hút bởi những chiếc tàu thuyền mỗi khi tàu thuyền dừng chân ở Hà Tiên).

Sau nầy trên mạng face book mình có « gặp » lại bạn Hồ, mới biết bạn tên là Huỳnh Minh Hà, mình rất vui tìm lại được bạn bè thời xưa ở Hà Tiên. Bạn Huỳnh Minh Hà hiện định cư ở nước Úc và thường xuyên đi du lịch với niềm đam mê là chụp hình phong cảnh đẹp khắp nơi.

 Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, bạn Hồ đứng bìa phải. « Kids were always attracted to the boats whenever they stopped in at Ha Tien ». Cliff Rocheleau (1965)

Từ trái sang phải: Bạn Huỳnh Vạn Tường, bạn Huỳnh Minh Hà và bạn Liêu Thọ Hoa. Những người bạn ngày xưa cùng xóm chợ Hà Tiên.

Bạn Mạnh, bạn Sáu và bạn Hủi:

Bạn Mạnh, tên đầy đủ là Hồ Văn Mạnh, người hơi nhỏ con giống như mình, nhà bạn ở đường Đống Đa, Hà Tiên, phía khúc gần mặt sau trường Tiểu Học Hà Tiên. Mạnh là con của bác Phụng Đài, (chắc tên là Hồ Phụng Đài, mình không nhớ rỏ), bác Phụng Đài (còn gọi là bác Tư Đài) là một họa sĩ tài danh của Hà Tiên, ở Hà Tiên ai cũng biết ông. Chính ông là tác giả của hai bức tường dựng ở hai bên cầu bắc Hà Tiên, nơi có ghi những địa chỉ buôn bán, quán ăn, khách sạn, tiệm bán vật kỷ niệm cho du khách đến Hà Tiên tham khảo, đó là khoảng những năm 60-65, sau nầy có hia của mình là hia Phón (tên thật là Thái Văn Bằng) tiếp tục vẽ thêm bổ túc cho hai bức tường nầy. Hồi lúc học bậc Tiểu Học, vì bạn Mạnh có vừa tên vừa họ cũng gần y như tên họ của mình, chỉ khác dấu thôi (một người dấu nặng, một người dấu ngã) nên mỗi lần có sắp xếp chỗ ngồi để thi (thi trong lớp hay thi lên lớp đệ thất) là Mạnh và mình thường ngồi kế nhau.  Có một lần mình còn nhớ là Mạnh chắc cũng muốn kiếm thêm chút tiền bỏ túi nên lãnh phần sơn mấy tấm sáo treo trước hai căn nhà lầu của chế Gái Đen sát nhà mình, bạn Mạnh đang đứng trên ghế cao sơn thì có ba của bạn chạy xe đạp ngang, ông không vừa lòng chút nào khi thấy bạn Mạnh đi sơn như vậy nên rầy la bạn Mạnh, mình còn nhớ lúc đó đang ở mái hiên nhà mình và nghe ông rầy như thế nầy:  » Ba muốn con học làm họa sĩ có danh tiếng chớ đâu có muốn con làm thợ sơn nhà như vậy!! ».

Về sau nầy, bạn Mạnh có dọn nhà về ở đường Bạch Đằng, lập gia đình, có vợ có con. Nhà ở sát căn nhà của anh em tên là Ba và Tư, con người thợ máy. Mạnh cùng bà xã làm ăn theo nghề mua bắt tôm, cá bán sỉ lại cho các người bạn hàng ngoài chợ cá Hà Tiên. hai vợ chồng làm ăn rất khá. Một thời gian sau, hai vợ chồng cất nhà lầu đúc rất tốt đẹp, cũng ở trên con đường Bạch Đằng. Hiện nay không biết bạn Mạnh có dọn đi đâu không, tuy nhiên vẫn sinh sống ở Hà Tiên.

Bạn Hồ Văn Mạnh, hình lúc còn học lớp nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963

Bạn Sáu, tên đầy đủ là Đỗ Văn Sáu, không biết tại sao bạn bè hay người Hà Tiên thường đặt cho bạn cái biệt danh không hay chút nào là « Sáu Bò » !! Vì là bạn học cùng chung ở thời Tiểu Học, mình và bạn Sáu rất hiểu biết nhau nên mình không bao giờ gọi bạn bằng cái biệt danh như vậy. Sáu rất đàng hoàng, nói chuyện lịch sự, lúc nào cũng gọi mình bằng tên rất thân mật. Nhà bạn Sáu ở trên con đường Tuần Phủ Đạt, gần như đối diện với rạp chiếu bóng Phát Minh sau nầy. Bạn Sáu là con trai trong một gia đình kỳ cựu Hà Tiên, rất đông anh em. Có người anh lớn là anh Đỗ Bảo Khén (hoặc Đỗ Bổ Khén) mình biết mặt nhưng không quen vì anh thuộc bậc đàn anh học chung lớp thời anh Tùng Phương, anh Huỳnh Hữu Điền,…(ba người anh kể tên đây cũng đã qua đời lâu rồi). Sáu có hai người em gái mà một trong hai người đó chính là phu nhân của bạn Trần Bình. Trong gia đình bạn Sáu, có một người anh nữa tên Đỗ Bảo Yến, hình như hồi xưa cũng có học bậc Tiểu Học cùng trường với mình. Ở Hà Tiên người ta thường gọi anh Yến là anh « Be Be »…không biết tại sao. Chỉ biết anh Yến có mang một căn bệnh rất nặng là bệnh kinh phong, mình cũng đã có nhiều lần thấy cơn giựt kinh phong nỗi lên, lúc đó cặp mắt như nhìn ngược lên phía trên, miệng thì có bọt trào ra, rất là tội nghiệp. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường anh Yến không khuấy phá ai cả. có một lần chính mình thấy tận mắt mà mình còn nhớ đến bây giờ, chuyện xảy ra rất lâu rồi, lúc đó mình còn nhỏ, mới ở nhà đi ra chợ trên con đường Lam Sơn, thì thấy anh Yến đang bồng trên tay một em bé gái, mình bị ướt sủng và có khói bốc lên, mặt anh Yến thì rất nghiêm trọng, không nói tiếng nào, sau đó mới biết đó là em Kim Hoàng, con gái của hai ông bà bác Ba Nhan ở sát nhà mình, và Kim Hoàng vửa bị phỏng nước sôi nên anh Yến đã kịp thời mang em đi thẳng về nhà bác Ba Nhan để thông báo cho hay tin…Đó là một việc làm rất tốt đẹp, anh đã cứu em bé gái kịp thời không bị phỏng cháy trong nước sôi như vậy…Anh Đỗ Bảo Yến đã mất khoảng năm 1985 hay 1986, hiện tro cốt còn thờ trong chùa Phật Lớn ở Hà Tiên.

Trở lại chuyện về bạn Sáu, có một lần vì công chuyện làm ăn, bạn Sáu có ra Long Xuyên mua vật liệu máy móc, bạn có đến nhà kiếm mình và hai người kéo nhau ra mấy cái quán ăn ở cạnh bờ sông Long Xuyên, dọc mé cầu Hoàng Diệu để vừa lai rai mồi vừa uống chút đỉnh vừa nói chuyện xưa. Sáu cứ nhắc mình : »Dùng đi Mãnh, dùng đi! » (tức là kêu mình ăn mồi đi!!). Đó là lần mình gặp lại bạn Sáu, vì sau đó tuy mình có về Hà Tiên vài lần nhưng cũng ít khi gặp lại mấy người bạn năm xưa. Hiện nay thì bạn Đỗ Văn Sáu cũng vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Bạn Hủi tên đầy đủ là La Văn Hủi, là bạn học chung các lớp ở bậc Tiểu Học với mình. Nhà của bạn Hủi ở ngay đầu đường Phương Thành và Lam Sơn, hồi nhỏ mình cũng có vài lần tới nhà bạn Hủi chơi. Trong bức hình chụp nguyên lớp Nhứt do thầy Nguyễn Văn Pho dạy, có hình bạn Hủi trong đó. Bạn Hủi ăn mặc thanh lịch, nói chuyện rất lịch sự, lúc nào cũng kêu mình bằng tên rất thân mật. Bạn Hủi có người em trai tên La Văn Gồi là bạn học cùng lớp ở bậc Trung Học với em Trần Văn Phi của mình. Mình không hiểu tại sao có nhiều bạn cùng thời ở chung quanh chợ Hà Tiên, cùng học với mình bậc Tiểu Học, nhưng sau đó khi qua bậc Trung Học thì không gặp lại ở trường lớp nữa, một phần các bạn đó không tiếp tục học, một phần thì lại qua bên trường Hoa học theo chương trình tiếng Hoa, một phần nữa chắc theo học trên Sài Gòn. Vì thế sau khi xong bậc Tiểu Học thì mình và Hủi không còn học chung nữa, hình như Hủi lên Sài Gòn tiếp tục học, thỉnh thoảng mỗi dịp Tết thì có về Hà Tiên ăn Tết thì lại gặp nhau. Sau đó Hủi lập gia đình, phu nhân của Hủi là em gái của bạn Trần Bình, ở ngay trước nhà mình. Hiện nay cũng nhờ qua mạng face book, mình cũng đã « gặp » lại bạn La Văn Hủi, hiên bạn định cư cùng với gia đình ở nước Mỹ.

Bên trái: bạn Đỗ Văn Sáu, bên phải: bạn La Văn Hủi

Những bạn quen biết chung quanh chợ Hà Tiên:

Ngoài các bạn mình đã kể trên, có nhiều quan hệ về tính chất bạn bè, mình còn quen biết một số bạn khác, cũng cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, gặp nhau thì quen biết, chào hỏi, thỉnh thoảng cũng có nhóm bạn đi chơi chung nhau thông qua những người bạn chung. Trong số người nầy có anh Nhiều, lúc xưa có tiệm chụp hình Tô Châu trên đường Chi lăng. Ba má anh Nhiều có tiệm bán cà phê ở ngay trong nhà lồng chợ Hà Tiên. Mình cũng có vài kỷ niệm với anh Nhiều, lúc đó, có một người bạn của anh Nhiều ở bên Campuchia  (hay ở Hong Kong mình không nhớ chính xác) qua chơi với anh Nhiều, hình như anh nầy ở bên nhà máy nước đá Triều Quang gần đó. Có nhiều lần anh Nhiều, cùng với anh bạn nầy và mình đi chơi chung, uống cà phê nói chuyện về phim ảnh Hong Kong, và anh đó có kể nhiều về chuyện đi nhảy đầm vì anh nói anh rất mê nhảy đầm. Một kỷ niệm khác với anh Nhiều, khi Hà Tiên làm lễ khánh thành chùa Bà Mã Châu ở phía trên bên trái núi Lăng, ngay ngả ba đường Lam Sơn, một bên phải thì về phía lăng ông Mạc Cửu, một bên trái thì đi ra Mũi Nai, chùa Bà cất ngay gần chùa Giải Thoát. Hai bên cánh của chùa Bà được hia Phón của mình (Thái Văn Bằng) vẽ hình hai vị thần canh gát cửa, đó là hai vị thần có tên là Thần Đồ, Uất Lũy, hia Phón vẽ rất đẹp, rất linh động. Vì lúc đó mình thường hay theo chơi với mấy người bạn gốc Hoa ở chợ nên mình cũng theo cả nhóm lên chùa để tham dự việc khánh thành. Lúc đó anh Nhiều lãnh phần chụp hình, chụp tất cả các hoạt động trong buổi lễ, gồm có đi rước kiệu Bà, bài vị, lư hường từ xóm bên Tô Châu về chùa bên Hà Tiên, rồi làm lễ cúng kiến ngay tại chùa mới nầy. Lúc đó mình tuy còn nhỏ nhưng cũng khoái muốn giựt le nên nói với anh Nhiều là khi nào anh mệt thì đưa máy cho mình « chụp tiếp » cho, tuy nhiên lúc đó mình chưa hề biết chụp hình nhà nghề như thế nào và dĩ nhiên là anh Nhiều đâu có phó thác việc chụp hình phóng sự quan trọng như vậy cho tay trơn như mình được…Hiện nay mình cũng có liên lạc lại được với anh Nhiều qua face book. Anh Nhiều hiện đinh cư ở nước Mỹ.

Anh Nhiều, tiệm chụp hình Tô Châu, đường Chi Lăng, Hà Tiên ngày xưa.

Một vài người quen biết khác cũng ở chung quanh chợ Hà Tiên là anh em của anh Huỳnh Lâm, cháu nội ông Thái Sơn, có tiệm hiệu Thái Sơn ở đường Tham Tướng Sanh cùng dãy với các tiệm Phục Hưng, Hòa Hiệp,…Anh Huỳnh Lâm thì mình chỉ biết nhưng không có chơi chung, có mấy người em của anh, tên Huỳnh Phát (người Hà Tiên kêu là « cá lốc », không biết tại sao), và một người em nữa tên là Huỳnh Lợi (tên thân mật là Sài), Huỳnh Lợi sau nầy đi không quân, có lần mình đi dám cưới anh Trần Văn Dõng (khoảng những năm đầu thập niên 80) cùng với cả nhà lên thành phố cao nguyên Bảo Lộc, khi ra chợ Bảo Lộc thì có gặp Sài tại đây. Sau đó Sài tức Huỳnh Lợi đã mất vì bệnh. Trong nhà còn có một người em trai nhỏ nữa tên là Huỳnh Xuân, thời còn ở Hà Tiên thì mình không biết Xuân vì Xuân lúc đó còn rất nhỏ. Sau nầy khi sang Pháp có một lúc đi làm về trên xe lửa, tình cờ gặp nhóm người Việt nam nói chuyện, mình bắt chuyện làm quen thì không ngờ toàn là nói chuyện ở Hà Tiên, hỏi ra ai cũng biết người nầy người nọ ở chợ Hà Tiên, hóa ra một người trong nhóm đó chính là Huỳnh Xuân, em sau cùng của các anh em cháu nội ông Thái Sơn. Từ đó về sau và ngay cả đến hiện tại, mình vẫn thường liên lạc vói Huỳnh Xuân, vì Xuân cũng ở gần nhà mình ở ngoại ô Paris, nhiều khi cùng đi chùa chung xe, cùng đi ăn nhà hàng và nghe nhạc ở ngoài quận 13 Paris. Lúc còn đi làm thỉnh thoảng tình cờ mình và Xuân gặp nhau trên cùng một chuyến xe lửa, lần nào cũng nói chuyện về Hà Tiên không bao giờ cạn nguồn, cho tới khi đến trạm cả hai đều cùng ra khỏi xe ai về nhà nấy, mình rất thích những lần gặp Xuân trên đường về nhà như vậy vì được nói chuyện về Hà Tiên rất vui.

Trần Văn Mãnh và Huỳnh Xuân (em của anh Huỳnh Lâm, Huỳnh Phát, Huỳnh Lợi, cháu nội ông Thái Sơn ở Hà Tiên), đi chùa nhân lúc Lễ Phật Đản tháng 05/2011 tại ngoại ô Paris.

Có hai anh em người quen cũng trạc độ tuổi như mình, nhà ở trên đường Lam Sơn, gần nhà tiệm bánh mì Tân Thái, người anh tên là Quý, người em tên Chiêu, mình cũng quen biết và thường hay chào hỏi nói chuyện vui chơi. Nhớ ở Hà Tiên hay có tập tục là dù có đi đâu rời xa Hà Tiên nhưng khi gần Tết thì phải về Hà Tiên ăn Tết. Vì thế, có mấy lúc vào dịp gần Tết thì các bạn bè ở Hà Tiên thường hay trông ngóng các bạn năm xưa đã rời Hà Tiên lên Sài Gòn học, trở về nhà ăn Tết, mình cũng còn nhớ có lúc thì bạn bè phóng tin cho nhau hay, « Quý mới về hôm qua »,….Sau nầy nghe tin là hai anh em Quý và Chiêu cũng đã mất cả rồi… Nếu bạn nào còn nhớ và biết được tên họ đầy đủ của hai anh em Quý và Chiêu thì xin thông tin cho mình biết để bổ túc nhé.

Mình cũng nhắc lại ở đây ba anh em nhà ở phía bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá, đường Trần Hầu, kế bên khách sạn Tô Châu ngày xưa. Đó là ba anh em tên Toản, Túc và Tiêu. Mình không biết tên họ đầy đủ của mấy anh em nầy, chỉ biết hồi xưa lúc thường đi ra Đài Kỷ Niệm tụ họp ở các băng đá và nói chuyện chơi, thường có các bạn Tiền Công Thành (tiệm Tiền Thành Ký bán nước mắm), anh em Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt, ..v..v..thì có hai bạn Toản và Túc đến chơi. Ngày xưa mình có người bạn ở ngoài Hòn vào Hà Tiên học, ở trọ nhà của các anh em Toản, Túc và Tiêu, đó là bạn Trần Văn Yến, khi mình đến nhà chơi với Yến thì thường gặp ba anh em nầy, em trai nhỏ là Tiêu rất lịch sự, thường chào hỏi các bạn của mấy anh lớn và nói chuyện rất đàng hoàng. Ba anh em nhà nầy là con của một gia đình mà người cha tên là Mã Chính Yên (tên mình chỉ nghe phát âm nên có thể viết không chính xác), còn người mẹ trong nhà thì có bệnh về tâm thần, tuy nhiên chỉ ngồi yên một chỗ và thường thì chỉ nhìn mọi người chung quanh và hơi mỉm cười mà thôi chứ bà không có khó khăn gì cả. Thường lúc mình đến nhà, ra tận nhà sau, có gặp bà thì mình cuối đầu chào bà, trong bụng mình cũng hơi sợ nhưng không có việc gì cả.  Toản là anh lớn, đeo kính cận, người có vẻ thông minh, trí thức và cũng cư xử rất đàng hoàng. Túc là em trai giữa, Túc hơi có da ngâm nhưng cũng rất đẹp trai, mặt thon, còn người em sau tên là Tiêu như đã nói, chỉ là em út không có giao thiệp với các bạn của anh trai mình, tuy nhiên Tiêu chào hỏi các bạn của anh mình rất lịch sự.

Theo tin tức của bạn bè cho hay thì lúc đi vượt biển với người vợ là Nguyễn Kim Tuyến (Kim Tuyến là người Việt kiều từ Campuchia về Hà Tiên định cư và theo học tại trường Trung Học Hà Tiên, và cũng là bạn học của nhóm bạn mình Lê Phước Dương), hai vợ chồng bạn Túc và Kim Tuyến đều bị tai nạn và đã mất tích. Toản còn ở Việt Nam sinh sống, Tiêu thì hồi xưa qua Mỹ định cư, nhưng sau nầy cũng thường về Việt Nam ở dài hạn.

Tác giả xin cám ơn tất cả các bạn học, các bạn quen biết và các em con cháu của những bạn đã được nhắc nhở tên trong bài viết nầy về sự đóng góp thông tin, chi tiết tên họ và các sự kiện. Ngoài ra cũng xin mạn phép trích đăng hình một số bạn trên đây, xin quý vị thứ lỗi và thông cảm nhé. Chắc chắn là mình còn quen biết với một số bạn nữa cũng ở ngay tại khu chợ Hà Tiên, nhưng tạm thời không thể nhớ ra hết, vậy nếu các bạn quen biết nào còn nhớ mình mà mình chưa kể tên và nhắc kỷ niệm xưa ra đây thì cho mình xin lỗi nhé, khi nào có thông tin thêm thì sẽ bổ túc vào bài.

Paris, viết xong ngày 13/05/2020, Patrice Tran (Trần Văn Mãnh)

 

Thach Động Hà Tiên và những câu chuyện thực hư

A/ Vị trí và hình thể Thạch Đông Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến địa danh, thắng cảnh Thạch Động thì không còn gì xa lạ đối với người Hà Tiên chúng ta, chẳng những thế mà đa số du khách các nơi khác cũng đều nghe tiếng về Thạch Động nên mỗi lần có các đoàn du khách đến tham quan Hà Tiên, đều có mục thăm viếng Thạch Động.

Ngày xưa trước khi Pháp chiếm Hà Tiên (1867) vùng Thạch Động và Đá Dựng thuộc hai thôn Sa Kỳ và Nhượng Lộ, sau đó Pháp nhập hai thôn lại lập thành làng tên là Làng Kỳ Lộ. Trong những năm 60-70, Thạch Động thuộc xã Lộc Kỳ. Đến sau 1975, Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, ngày nay Thạch Động là một địa điểm du lịch thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên. Từ trung tâm chợ Hà Tiên, theo quốc lộ 80 đi thẳng về phía cửa khẩu Xà Xía về hướng bắc hoặc từ con đường Phương Thành đi tiếp tục ra biên giới Hà Tiên – Campuchia, khoảng được 3 hoặc gần 4 cây số, trên đường nhìn về bên tay phải ta sẽ thấy Thạch Động sừng sửng hiện ra, cứ trơ gan cùng tuế nguyệt có hơn bao nhiêu triệu năm về trước.

Về mặt hình thể, Thạch Động là một khối đá vôi rất to lớn dựng đứng như một ngọn tháp, chiều cao so với mực nước biển là khoảng 93 m và có đường kính ở phần dưới chân khoảng 45 m. Từ xa Thạch Động được bao phủ bởi một phần đá vôi màu trắng bạc, và một phần có rất nhiều cây xanh tô điểm nên nhìn giống như một chiếc mũ lông của những kỵ binh người Anh, do đó người Pháp, trên các bưu ảnh chụp về Thạch Động, ngay từ những năm đầu thế kỷ thứ 20 đã đặt tên Thạch Động trong bưu ảnh là « Bonnet à poils ». Cửa chánh để vào Thạch Động ở hướng đông, nhìn về phía thành phố Hà Tiên và có độ cao khoảng 50 m.

Về phương diện địa chất học, các nhà địa chất học xác định khối đá vôi Thạch Động được thành hình trong kỷ Permi (tức thời kỳ tầng địa chất kéo dài từ khoảng 298 đến 252 triệu năm về trước). Đá vôi của Thạch Động có nguồn gốc trầm tích hóa học  chứ không phải do trầm tích sinh vật học. Người ta còn tìm thấy cùng loại đá vôi của Thạch Động ở vùng ven biển Kiên Lương, ở phía tây nam Campuchia và ở phía nam Thái Lan. Nếu ta phân biệt ý nghĩa của các từ tiếng Pháp: Tunnel: loại hầm, kéo dài theo một con đường (đường hầm); Cave: hang, động (hang sâu như một căn phòng) thì Thạch Động thuộc dạng hang động (Cave).

Thạch Động có hai cửa chánh: cửa vào chánh ở phía đông, nhìn về thành phố Hà Tiên, tai đây có xây bậc thang bằng gạch đá từ dưới đất liền lên đến cửa hang, ngay cửa vào ngôi chùa tọa lạc bên trong Thạch Động. Một cửa khác ở phía tây, tại đây người ta có thể nhìn ra được quang cảnh đồng lúa và núi non của phường Mỹ Đức. Ngoài ra còn có hai cửa theo hướng đông bắc và tây nam, ra đứng tại các cửa nầy, người ta được tận hưởng những cơn gió mát thổi lồng lộng, được nhìn ra một không gian trống khoáng, cả vùng trời biên giới có biển xanh, núi non, đảo nhỏ xa xa và một bầu không khí tỉnh lặng tạo cho ta một cảm giác rất thú vị…

Vị trí Thạch Động : Thạch Động ở về phía bắc thành phố Hà Tiên, cách trung tâm Hà Tiên khoảng 3 hoặc 4 cây số.

Hình thể bên ngoài và các cửa ra vào Thạch Động (Nguồn: Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo)

B/ Hình thể bên trong Thạch Động:

Vào bên trong Thạch Động theo cửa chánh hướng đông, trước hết ta sẽ thấy ngôi chùa tọa lạc bên trong phần có thể tích rộng lớn, đó là chùa Tiên Sơn (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp). Nếu du khách tiếp tục đi vào các ngỏ ngách theo các hướng khác nhau, lần lượt sẽ thấy có một lối trống rất cao và thông lên đến trên đỉnh Thạch Động, từ dưới ta có thể nhìn thấy như là một lối thoát lên trời vì nhìn thấy cả những đám mây xanh, người ta đặt tên là « đường lên trời ». Rồi đến xem một hang nhỏ khác ăn sâu vào lòng núi, nhìn vào chỉ thấy màu đen thẩm như hang không đáy, đó là « đường xuống địa ngục ». Ngày xưa tục truyền hang đó ăn thông ra đến tận biển ở Mũi Nai, vì người ta có thả một trái dừa khắc làm dấu và sau nầy tìm vớt lại được trái dừa nầy ở ngoải bờ biển…Từ những năm 1960 vì sự nguy hiểm của cái hang nầy, người ta đã lấp kín hang lại, chỉ còn xây bờ chung quanh để làm dấu cho khách tò mò đến xem. Ngoài ra trong vách đá bên trong Thạch Động còn có rất nhiều thạch nhũ, đặc biệt là có một khối thạch nhũ nhìn thấy từ bên ngoài có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái. Chung quanh đó còn có nhiều dây leo rừng to lớn thòng xuống, tuy nhiên vì tính hiếu kỳ và thiếu kỷ lưởng của du khách các sợi dây to lớn nầy đã bị lôi kéo và bị đứt mất dần dần. Bên trong vách đá còn có các vết xâm mòn do nước đọng chảy quanh năm tạo ra các hình dáng giống như một người con gái, hay hình Phật…

Tất cả những hình thù do các khối đá thiên nhiên và do tác động của nước mưa bào mòn vách đá tạo nên như vậy đã cung cấp nguồn cảm hứng cho dân gian bao nhiều đời đã qua, kết tạo lại nhiều truyền tích, huyền thoại. Mỗi hình thù vách đá, mỗi cọng dây leo, …được gắn liền với một hành động và một giai đoạn của một câu chuyện huyền thoại có tên « Thạch Sanh và Lý Thông ». Đây là một câu chuyện được truyền đi trong dân gian và có tác giả cho là có nguồn gốc ở quận Cao Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi đông bắc Việt Nam (sẽ viết thêm ở phần kế tiếp).

C/ Ngôi chùa « Tiên Sơn Tự » trong Thạch Động:

Hiện nay muốn tim hiểu về nguồn gốc ngôi chùa có tên « Tiên Sơn Tự » bên trong Thạch Động cũng rất khó khăn vì còn thiếu thông tin chính xác.

            C1/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ nhất:

Theo sách Đại Nam nhất thống chí đoạn nói về tỉnh Hà Tiên, mục Tự quán có chép rằng:  Chùa Bạch Vân (Bạch Vân Tự hay Bạch Vân Am) ở núi Thạch Động (tức núi Vân Sơn) ở thôn Mỹ Đức, huyện Hà Châu, nguyên do phú hộ Minh Hương là Đoàn Tân lập ra.  Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) Tuần phủ Phan Tông trùng tu…”.

Có nguồn cho rằng từ năm 1790, có vị hoà thượng tên Minh Đường (người Trung Quốc) đã tìm đến hang Thạch Động và ở lại đây để tu hành, hòa thượng đặt tên cho cái am nơi tu là Bạch Vân Am, sau đó vị nầy giao am tu lại cho đồ đệ là Bạch Vân cư sĩ và dời ra lập chùa Địa Tạng ở một ngọn núi cách đó khoảng 800m về phía đông nam, từ đó núi lấy theo tên chùa trở thành núi Địa Tạng.

Cuối thế kỷ thứ 19, có một nhóm người Minh Hương đến trùng tu am xưa và thỉnh hai nhà sư tới trụ trì ngôi chùa. Vị thứ nhất là hòa thượng Thích Chánh Quả (chưa biết tên đúng hay sai) ) tục danh là Lê Thế Diên (có sách viết Duyên), quê ở Phú Yên, thuộc dòng tu Lâm Tế đời thứ 39. Hòa thượng cho đúc tượng Phật và Bồ Tát và đổi tên chùa là Linh Sơn Tự. Ngài viên tịch ngày 21 tháng 12 năm Quý Sửu (1913), thọ 78 tuổi.  Vị thứ hai là hòa thượng Thích Thiện Sĩ thế danh là Trịnh Tấn Phước, người Bình Định, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40. Ngài tổ chức trùng tu và mở rộng ngôi chùa và đặt tên mới là Tiên Sơn Tự, tên còn giữ cho đến ngày nay. Ngài từ trần ngày 02 tháng 09  năm Ất Dậu (1945), thọ 75 tuổi.  Sau đó có người đệ tử của sư tên là Cam Thị Nam (thường gọi là cô Hai Nàm) kế thừa trụ trì ngôi chùa. Về câu chuyện của cô Hai Nàm có nhiều nguồn do người dân kể lại:

     C1a/- Nguồn thứ nhất kể lại rằng vào ngày 29 tháng 04 năm 1948 quân lính Pháp bắt gặp trong chùa ở Thạch Động có lương thực và cán bộ Việt Minh đến hội họp nên bắt giải giam tất cả bốn người đang hiện diện trong đó có cô Hai Nàm về đồn ở Hà Tiên. sau đó lính Pháp hành hình giết bà và các cán bộ tại cầu tàu chợ Hà Tiên vì kết tội bà là người nằm vùng nuôi dấu cán bộ.

     C1b/- Cũng có nguồn tin thứ hai kể lại rằng ngày hôm đó trong chùa ở Thạch Động có lễ cúng kiến nên có dự trữ thức ăn và có nhiều người tham dự, lính Pháp đi lùng bố càn quét cán bộ Việt Minh vì trước đó có xảy ra vụ vị sĩ quan Pháp bị phục kích giết chết trong vùng Thạch Động, nên cả nhóm người hôm đó đều bị bắt và bắt oan luôn cả cô Hai Nàm. Rốt cuộc cô Hai Nàm bị giết oan ức.

Đó là hai nguồn thông tin về chuyện cô Hai Nàm ở Thạch Động, hiện nay chưa có độ chính xác về câu chuyện nầy,  cần được kiểm chứng và đưa ra tư liệu chính xác.

Từ biến cố đó, ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động bị bỏ hoang gần 4 năm liền không ai tới lui chăm sóc.

Đến năm 1952 có vị Phật Tử Hồng Phúc, người Hà Tiên, thế danh Trình Kim Huê (theo thiển ý, đây có thể là ba của thầy giáo Trình Kim Chung dạy tại trường Tiểu Học Hà Tiên ngày xưa), đệ tử của hòa thượng Thiện Sĩ, ngài Hồng Phúc đến trông coi chùa và tu ở đó. Được 7 năm trời, hình dáng ông lúc đó có để bộ râu bạc trắng trông rất đẹp, giống như một vị tiên ông, sau thời gian đó ông trở về cuộc sống bình thường tại nhà riêng ở Hà Tiên và qua đời vào năm 1968. Người Hà Tiên ai ai cũng biết và nhớ đến hình ảnh của ông được đăng trong tờ tạp chí « Thế Giới Tự Do » do Chi Thông Tin Hà Tiên thường phát cho dân chúng đọc, Trong tờ tạp chí nầy do có bài giới thiệu vè thắng cảnh Thạch Động Hà Tiên nên có đăng hình Thạch Động và vị trụ trì là phật tử Hồng Phúc.

Trong những năm 70, Thạch Động nói riêng cũng như với ngọn núi Đá Dựng nói chung về tình hình các thắng cảnh vùng biên giới, hai địa điểm nầy đã trở thành căn cứ quân sự trọng yếu nên đều có quân đội Địa Phương Quân VNCH trấn đóng. Trong thời gian nầy, người dân không được lui tới thăm viếng thắng cảnh như thời trước được. Ngôi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động có lẽ bị bỏ hoang không sư trụ trì và nhang khói trong thời gian nầy.

Sau năm 1975, tình hình còn biến động vì chiến tranh biên giới cho đến năm 1979, có người Phật Tử Thiện Thành, thế danh Tiết Văn Lương, người gốc Mỹ Đức, Hà Tiên, tình nguyện đến trông coi chùa Tiên Sơn trong Thạch Động.  Đến năm 1989, phật tử Thiện Thành cùng với phật tử địa phương cung thỉnh đại đức Thích Minh Luận, thế danh Giang Văn Khép, về trụ trì chùa Tiên Sơn trong Thạch Động. Đại đức Minh Luận bắt đầu cho trùng tu ngôi chùa, xây dựng lan can và các bậc tam cấp, an vị tượng đức Bổn Sư trong chánh điện. Đến ngày 09 tháng 06 năm 1990 phật tử Thiện Thành lâm bệnh và qua đời. Năm 1991 đại đức Minh Luận tiếp tục trùng tu ngôi chùa, thiết lập tượng đài Quan Âm trước của chùa, năm 1995 lát gạch toàn bộ khu chánh điện, trồng thêm cây xanh chung quanh khuôn viên chùa. Năm 1997 ngài cho khởi công xây dựng tăng xá để chư tăng các nơi xa đến có chỗ an nghỉ. Trong tương lai sẽ cho trùng tu thêm giảng đường, tổ đường và nhà từ thiện. Toàn bộ khu Thạch Động với ngôi chùa xưa Tiên Sơn Tự trở thành một nơi du ngoạn cho khách du lịch đến thăm, người người ra vào đông đúc, tuy quang cảnh sầm uất, nhộn nhịp nhưng đã mất phần uy nghiêm, thơ mộng và cổ kính trầm mặc của một không gian yên tỉnh ngày xưa.

            C2/ Quá trình trụ trì chùa theo nguồn thông tin thứ hai:

Có một nguồn thông tin khác về gốc gác của ngôi chùa Tiên Sơn Tự như sau: Thời ông Mạc Thiên Tích trấn nhậm vùng Hà Tiên, có một vị đạo sĩ pháp hiệu Huỳnh Phong chân nhân từ Thanh Hóa vào Hà Tiên tìm nơi tu luyện và ông cũng là một thành viên trong thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích thành lập năm 1736. Đạo sĩ thấy hang động ở Thạch Động thích hợp nên ẩn tu tại đó. Sau một thời gian, ngài đổi pháp hiệu thành Huỳnh Phong (hay Hoàng Long ?) hòa thượng, đến năm 1785 ngài viên tịch, thọ 108 tuổi, nhục thân ngài được nhập tháp do đề đốc trấn nhậm Bác Giác Sơn tên là Đỗ Như Liêm cùng các tín đồ xây dựng. (Bác Giác Sơn tức núi Phù Dung thời ông Mạc Thiên Tich, sau nầy tại ngọn núi nầy cũng có ngôi mộ của ông đề lại Đỗ Như Liêm nói trên nên núi được mang tên là Đề Liêm). Tuy nhiên nguồn thông tin nầy có thể sai trái vì ông đề lại Đỗ Như Liêm mất khoảng 1860 – 1870 tức là lúc năm 1785 khi Hoàng Long hòa thượng viên tịch thì ông đề lại Đỗ Như Liêm còn rất nhỏ, thậm chí chưa sanh ra.   Một điểm khác làm sai lệch nguồn thông tin trên là theo như các điều ghi chép trong hai quyển Gia Định Thành Thông Chí và Đại Nam Liệt Truyền Tiền Biên thì thời ông Mạc Thiên Tích có vị sư tên Hoàng Long (hay Huỳnh Phong) hòa thượng người gốc Qui Nhơn Bình Định, vào tu ở Bạch Tháp Sơn (tức là núi Đá Dựng) và khi ông viên tịch đồ đệ lập tháp bảy cấp để giữ xá lợi, tuy nhiên tài liệu nầy không nói rỏ ngọn tháp của Hoàng Long hòa thượng nằm chính xác ở đâu và nếu ở trong vùng núi Đá Dựng thì ngày nay ngọn tháp đó có còn được bảo tồn hay không? Như vậy theo hai quyển sách xưa thì Hoàng Long hòa thượng không có lập chùa trong Thạch Động mà tu ở bên núi Đá Dựng.

Nói tóm lại về nguồn gốc ngôi chùa Tiên Sơn Tự trong Thạch Động, thông tin còn rất mơ hồ chưa có những điểm chính xác về năm thành lập và người tạo ra ngôi chùa. Tuy nhiên ta có thể xem như ngôi chùa đã có dưới dạng một cái am nhỏ bằng gỗ từ trước năm 1790, sau đó có nhóm người dân Minh Hương đến trùng tu và thỉnh thầy về trụ trì, quá trình trụ trì chùa có thể xem vào nguồn thông tin thứ nhất nói trên.

D/ Truyền thuyết « Thạch Sanh – Lý Thông » có liên quan đến Thạch Động:

Theo sách « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, ấn bản 1957, có kể câu chuyện như sau:

“Thời rất xưa, ở quận Cao Bình. Hai vợ chồng già, nghèo, lòng tốt, nhưng không con. Ngọc Hoàng sai thái tử đầu thai làm con nhà họ Thạch. Bà cụ có thai, lâu cả mấy năm đến khi ông cụ Thạch bệnh, chết. Thạch Bà sinh con trai. Cụ bà chết. Cậu bé dựng lều sống dưới gốc đa, được dân gọi là Thạch Sanh. Cậu chỉ có một lưỡi búa. Ngọc Hoàng sai tướng trời xuống dạy cậu võ, và phép thần.

Có người bán rượu, tên Lý Thông, thấy Thạch Sanh có sức khỏe, nên kết thân. Trong vùng có con chằn tinh, thường ăn thịt người. Quan quân trừ không nổi, nên dựng miếu, mỗi năm cúng một mạng người. Năm ấy, tới phiên Lý Thông nạp mạng. Lý lừa gạt Thạch, nhờ thay Lý đi canh miếu thay một đêm rồi sáng hôm sau về. Nửa đêm, chằn tinh hiện ra, Thạch Sanh rút búa xả đôi chằn tinh, mới thấy là con trăn. Thạch Sanh cắt đầu trăn và cầm cung tên vàng của chằn về.

Khi Thạch Sanh về, kể lại, Lý Thông nói, rằng trăn đó là của vua nuôi, rằng Thạch Sanh hãy trốn đi. Lý Thông đem đầu chằn nạp cho vua. Vua khen, phong chức tước cho Lý Thông. Trong triều có công chúa, chưa ưng ai. Vua tổ chức hội tuyển phu, cho hoàng tử các nước và trai tráng trong dân tới chờ quả cầu do công chúa ném từ lầu cao xuống. Khi cô sắp ném cầu, Đại bàng bay ngang, sà xuống cắp công chúa bay về núi. Thạch Sanh đang ở gốc đa, ngó lên mây, thấy, mới rút cung tên, bắn trúng cánh Đại bàng. Thạch Sanh dò theo vết máu, biết cửa hang Đại bàng.

Vua sai đô đốc Lý Thông đi tìm, hứa gả công chúa và truyền ngôi. Lý Thông nghĩ chỉ có Thạch Sanh mới cứu được công chúa. Khi gặp Thạch Sanh, Lý Thông nhờ dẫn đường tới cửa hang Đại bàng. Hang sâu không ai dám xuống. Thạch Sanh tự nguyện buộc dây ở lưng rồi xuống hang. Đại bàng đang dưỡng thương. Thạch Sanh đưa thuốc mê để cho Đại bàng uống. Khi Đại bàng ngủ say, Thạch lấy dây buộc công chúa, hiệu cho quân Lý Thông kéo lên. Cứu công chúa xong, Lý Thông lấy đá lấp hang. Dưới hang, Thạch Sanh giết chết Đại bàng, cứu một thanh niên ra khõi cũi sắt, mới biết đó là thái tử con vua Thủy Tề, bị Đại bàng bắt về hơn cả năm. Thái tử mời Thạch Sanh xuống Thủy phủ chơi. Vua Thủy phủ gặp con, vui mừng, xin đền ơn. Thạch Sanh từ chối, chỉ xin một cây đàn, rồi về lại gốc đa.

Hồn của chằn tinh và Đại bàng sau khi chết, đói vì không được ai cúng tế, tình cờ gặp nhau, bèn lẻn vào kho vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ. Lính theo dấu tìm, đến gốc đa thì gặp tang vật, bắt Thạch Sanh về giam. Công chúa về triều, tự nhiên bị câm, buồn hoài, nên vua hoãn hôn lễ với Lý Thông. Thấy quân bắt Thạch Sanh về, Lý Thông mới tính xử tử Thạch Sanh. Trong tù, Thạch Sanh buồn, lấy đàn của vua Thủy ra chơi, không ngờ đàn thần vẳng tiếng như than, như oán, vạch tội Lý Thông. Công chúa nghe tiếng đàn, vui mừng, cười nói, xin vua mời người đàn vào cung. Thạch Sanh kể cho vua nghe mọi chuyện. Vua sai bắt hai mẹ con Lý Thông, giao Thạch Sanh xét xử. Thạch Sanh tha, cho hai mẹ con Lý Thông về quê. Nửa đường, hai mẹ con bị sét đánh chết. Vua làm lễ cưới công chúa cho Thạch Sanh. Hoàng tử các nước bị từ hôn nổi giận, tụ họp lính 18 quốc gia tới hỏi tội vua. Thạch Sanh lấy đàn thần ra khảy, lính 18 nước buông vũ khí. Thạch Sanh sai dọn cơm cho lính các nước ăn no để về. Niêu cơm nhỏ, nhưng ăn hoài lại có cơm  ra hoài. Vua không con trai, nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.” (Hết tóm lược)

Liên quan giữa câu chuyện « Thạch Sanh-Lý Thông » và Thạch Động: Vì phía đông của bên trong Thạch Động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là « đường lên trời ». Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga. Còn về cái hang thông sâu thẩm không thấy đáy hang thì truyền thuyết cũng cho rằng đó là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được lắp kín lại để đảm bảo an toàn cho du khách như đã nói ở phần trên. Ngoài ra từ bên ngoài Thạch Đông, người ta còn thấy một khối thạch nhũ có hình dạng như một cái đầu con đại bàng to lớn đang quặp một cô gái, truyền thuyết cho rằng đó là hình con đại bàng đang quặp công chúa Quỳnh Nga về Thạch Động.

Nói tóm lại, tuy rằng câu chuyện thuộc về truyện cổ tích dân gian và theo giáo sư Nguyễn Đổng Chi, chuyện xảy ra ở Cao Bình là xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, hiện ở nơi đó còn có một cái hang được cho là nơi Thạch Sanh đã chém chằng tinh và còn có nhiều đền thờ Thạch Sanh trong thôn làng cùng với một số phong tục văn hoá gắn liền với tích chuyện Thạch Sanh không có liên quan gì với cái hang Thạch Động ở Hà Tiên, tuy nhiên vì trong hang Thạch Động có nhiều hình thù và dạng hang đá phù hợp với câu chuyện được kể ra trong dân gian, thêm nữa tên họ Thạch Sanh trùng với họ Thạch là họ thông thường của người Việt Nam gốc Campuchia nên người ta vẫn tiếp tục gắn liền huyền thoại Thạch Sanh-Lý Thông với thắng cảnh Thạch Động, ta nên xem đó là chút thi vị được thêu dệt cho cái hay và cái đẹp của một thắng cảnh có tên tuổi như Thạch Động, tuy không phải là sự thật nhưng cũng không gây ra điều tai hại hoặc hiểu lầm làm méo mó lịch sử, mọi nơi, mọi dân tộc đều có những câu chuyện huyền thoại như vậy để được truyền tụng lâu đời trong dân gian.

E/ Câu chuyện lên núi Thạch Động cầu tiên của ông Ngô Văn Chiêu:

Theo quyển sách  » Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926″ (Nxb Thuận hóa, 1996) do Huệ Khải (Dũ Lan Lê Anh Dũng) viết, có đoạn nói về cuộc đời của ông Ngô Văn Chiêu đạo hiệu là Ngô Minh Chiêu (1878-1932), ông là người sáng tạo và là môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài. Ông Ngô Văn Chiêu tuy xuất thân từ một gia đình thanh bạch, không giàu có nhưng ông là người có học cao, đỗ đạt thời Pháp và được bổ nhiệm làm công chức tại nhiều nơi ở miền nam. Khi thân mẫu ông mất, xong tuần bá nhật (100 ngày), vào ngày thứ hai 01/03/1920 (nhầm ngày 11 tháng giêng năm Canh Thân), ông đổi ra tỉnh Hà Tiên làm việc. Tại đây ông kết giao với nhiều bậc thân sĩ địa phương và thường lên núi Thạch Động cầu tiên. Một vị tiên cô xưng danh Ngô Kim Liên ban cho ông hai vế thơ, ngụ ý khuyên ông đi tu:

Văng vẳng nhạn kêu bạn giữa thu,
Rằng trời cùng đất vẫn xa mù.
Non tây ngoảnh lại đường gai góc,
Gắng chí cho thành bực trượng phu.
Ngần ngần trăng tỏ giữa trời thu
Cái cảnh Tây phương vẫn mịt mù.
Mắt tục nào ai trông thấy đấy,
Lắm công trình mới đúng công phu.

Đêm Trung thu năm Canh Thân (chủ nhật 26-9-1920), ông Chiêu cùng các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu lập đàn tại nhà ông Lâm Tấn Đức. Tiên ông ban cho bốn câu thơ vừa xưng danh vừa điểm danh như sau:

Cao Đài minh nguyệt Ngô Văn Chiêu,
Linh lung vạn hộc thể Quan, Diêu.
Vô thậm Sự, Đức nhiệm ngao du,
Bích thủy, thanh sơn tương đối tiếu.

Theo tác giả  Lê Anh Dũng, thì bài thơ trên có kể ra các tên của những vị thân hữu với ông Ngô Văn Chiêu, trong câu thứ hai có tên Quan, không biết là ai. Còn hai ông Diêu và Sự thì đã rõ. Riêng Đức tức là ông Lâm Tấn Đức (1866-1934), tự Hữu Lân, không con) là anh ruột của ông Lâm Tấn Thoại, và ông Thoại là cha của thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969).

Sau đó đến ngày 26-10-1920 (nhằm ngày rằm tháng chín năm Canh Thân), tiền bối Ngô Văn Chiêu đổi ra đảo Phú Quốc. Tại hòn đảo này, tiền bối thường lập đàn cầu tiên trên núi Dương Đông. Đàn được lập ở một Phật đường của đạo Minh Sư, tục gọi là chùa Quan Âm, cách dinh quận chừng 500 m.

Về câu chuyện ngài Ngô Văn Chiêu thường lên núi Thạch Động Hà Tiên cầu cơ tiên trong năm 1920 với quý ông Lâm Tấn Đức, Diêu, Sự,…thì đó là một sự kiện trong tiểu sử cuộc đời ngài do tác giả Lê Anh Dũng kể lại, tuy nhiên là người Hà Tiên, chúng ta lại ít nghe nói về sự kiện nầy, mong các bậc cao niên và học giả góp ý thông tin thêm để làm sáng tỏ các chi tiết nầy, vì có liên quan đến thắng cảnh Thạch Động của chúng ta.

F/ Câu chuyện về cái đầu lâu trong hốc đá trên Thạch Động:

Trong sách « Truyện tích Việt Nam » do Lê Hương sưu tầm xuất bản năm 1970 có kể lại một câu chuyện liên quan đến Thạch Động như sau:

« Vào cuối năm 1945 khi Pháp tái chiếm miền nam, trong khi lục soát hang Thạch Động ở Hà Tiên thì tìm thấy được một đầu lâu gói trong một mảnh vải trắng nhét trong một hốc đá phía dưới hình tượng bà Quan Âm nổi trên vách. Người Pháp cho rằng đó là cái đầu sọ của một người lính Nhật tạm dấu trong đó chờ ngày đem về nước vì đầu được gói trong miếng vải sang trọng không phải của dân thường thời đó.

Truy tìm ra nguyên nhân thì có nguồn gốc như sau: Khi Nhật chiếm Đông Dương, có một chàng trung sĩ quân đội Thiên Hoàng yêu một cô thôn nữ người Việt nhà ở cạnh quốc lộ 17 (tên đường xưa đi đến Thạch Động). Cô gái tuy quê mùa nhưng cũng rất xinh đẹp nên chàng trai xứ Phù Tang say mê và nhờ viên thông ngôn người Việt đưa chàng đến nhà cô gái để bày tỏ lòng mong muốn của mình với cha mẹ cô gái. Hai bên cũng đã đồng lòng và chuẩn bị ngày cưới hỏi. Tuy nhiên tai họa lại xảy đến khi viên đại úy cấp trên của chàng trung sĩ thấy cô gái liền sanh tâm quyết cướp đoạt cho bằng được. Nghe hung tin như vậy, chàng trung sĩ nổi máu anh hùng võ sĩ đạo, quyết bảo vệ người yêu của mình nên chàng vào ngay văn phòng viên đại úy để thách thức đấu kiếm, phân định hơn thua để người đẹp sẽ thuộc về bên chiến thắng. Viên đại úy nhận lời và hai bên hẹn gặp nhau trên mảnh sân sát bên chân núi Thạch Động vào một đêm trăng sáng. Mỗi bên có một người bạn làm nhân chứng đi theo, theo thủ tục dân Phù Tang. Ngoài ra còn có một khán giả duy nhất đó chính là cô gái trong câu chuyện, vì nghe tin người yêu báo nên cô gái cũng đi đến, lén núp vào kẹt đá để theo dỏi trận đấu. Nàng thầm van vái các vị thần linh xui khiến cho viên đại úy đổi ý bỏ trận đấu để tránh thảm họa cho đôi bên và nàng cũng sợ rằng người yêu không đủ tài năng để chiến thắng. Nàng thầm nguyện nếu có gì thì thà chết chớ không thất ước với người yêu. 

Thế rôi sự thật phải đến, hai lưởi gươm dài sáng chói đã chạm vào nhau dưới ánh trăng bật thành những tiếng động rợn người kèm theo tiếng quát tháo làm cho nàng khiếp sợ run lên. Sau hơn nửa giờ thi thố tài nghệ, chàng trung sĩ bị viên đại úy đánh văng kiếm, kẻ thắng trận cười ngạo nghễ, tra kiếm vào vỏ và gọi người nhân chứng ra xe về chợ Hà Tiên, thình lình thấy bóng cô gái trong kẹt đá đứng nhô ra xem người yêu mình có bị giết không…Viên đại úy cười to và tiến tới dang tay như đón mời người đẹp, cô gái hoảng sợ vụt ù té chạy xuống chân núi và biến mất trong bóng tối. Viên sĩ quan không đuổi theo, lái xe về chợ Hà Tiên.

Chàng trung sĩ thua trận không thể sống chịu nhục và nhìn người yêu qua tay người khác, anh nhờ người bạn giúp mình để anh tự xử sự theo lối anh hùng võ sĩ đạo (harakiri). Trước đó chàng thảo hai bức thư, một gởi về cho cha mẹ và một gởi cho người yêu rồi dùng dao ngắn tự rạch bụng. Người bạn đứng sau lưng đưa gươm chém chàng đứt đầu, dùng vải trắng gói đầu lại và đem vào hang trong hốc đá trên Thạch Động dấu rồi chở thân mình về đơn vị làm lễ mai táng.

Cô gái không hề biết thảm trạng nầy vì trong đêm đó cô cùng bà mẹ vượt biên giới qua đất Miên lánh nạn vì cô không muốn làm vợ viên đại úy. Khi ông đại úy hay liên tiếp hai tin buồn: viên trung sĩ tự tử và cô gái đã bỏ xứ đi vì ý muốn không tốt đẹp của mình, ông rất hối hận nên cho tổ chức lễ hỏa thiêu xác của viên trung sĩ trước đội quân và hứa sẽ tự tay mang đầu người quá cố về nước Nhật sau nầy khi thắng trận. Sau đó vì đau buồn ông xin thuyên chuyển đi tỉnh khác để cố quên câu chuyện đó.

Vài thắng sau, Nhật đầu hàng, chiến tranh kết thúc, quân Pháp trở lại chiếm đóng miền nam nước Việt. Bên địa phận Cao Miên, Việt kiều gặp phải nạn « cáp duồn » và cướp bóc vì người Miên kỳ thị, cô thôn nữ theo một số kiều bào trở về hồi cư ở Hà Tiên. Nghe tin bà con trong xóm kể lại cái chết của chàng trung sĩ Nhật, cô gái rất đau đớn. Nàng đem vàng hương, hoa quả đến mảnh sân cạnh Thạch Động cúng kiến và khóc than cho người xấu số vì không biết chàng Nhật có được ngôi mộ ở đâu không, từ đó nàng thường đến nơi đấu kiếm ngày trước để trút nỗi nhớ niềm thương ».

Câu chuyện đầu lâu trong hang đá ở Thạch Động nầy ngày xưa khi còn đi học mình cũng có nghe người ta kể lại, người ta còn chỉ cho mình thấy cái hốc đá bên trong vách của Thạch Động, nơi có để cái đầu trong đó. Không biết câu chuyện tình đẩm lệ nầy có thật hay không, tuy nhiên câu chuyện không thuộc loại huyền thoại như kiểu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông. Câu chuyện nầy có phần thực tế theo hoàn cảnh lịch sử thời Nhật và Pháp chiếm miền nam Việt Nam, nhưng các tình tiết trong câu chuyện thì không ai xác định được độ chính xác.

G/ Thạch Động trong thơ văn và điện ảnh:

Nói đến thắng cảnh Thạch Động ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nhớ đến cái tựa bài thơ vịnh 10 thắng cảnh đẹp của Hà Tiên, đó là tựa « Thạch Động thôn vân », bài thơ lúc ra đời viết bàng chữ Hán trong tập thơ « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích được khắc bản in vào năm 1737 sau khi thành lập tao đàn Chiêu Anh Các vào năm 1736, sau đó có tập thơ chữ nôm cũng của Mạc Thiên Tích viết ra là tập « Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh » và tập thơ này chưa được khắc in. Bản hiện nay do thi sĩ Đông Hồ sưu tập được.

« Thạch Động thôn vân » là động đá nuốt mây, từ xa ta thấy những áng mây trôi nhẹ nhàng trên miệng hang Thạch Động rồi từ từ có đám mây khuất vào trong miệng hang, người ngoạn cảnh có cảm tưởng như chính hang động đã nuốt mây. Xin chép lại bài thơ ở đây để mọi người thưởng thức:

Quỷ trổ thần xoi nổi một tòa,
Chòm cây khóm lá dấu tiên gia
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại;
Cửa rộng thinh thinh gió thổi qua.
Trống lổng bốn bề thâu thế giới;
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy
Cân đái hèn chi rở ỷ, la.

Khi viết tập « Hà Tiên thập cảnh & Đường vào Hà Tiên », tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, phần bàn về Thạch Động, nhà thơ Đông Hồ đã có viết cảm nghĩ riêng về việc thắng cảnh Thạch Động. Đai khái là ông rất chống đối việc xây cất ngôi chùa kiên cố bên trong hang Thạch Động, ông viết: « Không như ở đây, chỉ riêng có một ngọn núi, cũng là loại đá xanh mà trong bụng núi thì rộng thênh thang, lại có hai cửa thông, đủ cho bóng trời soi sáng, y như một cảnh cung thẩt. Ở đây, như chúng ta thấy hiện nay, phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên. Ngôi chùa ngay giữa động, chùa gỗ lợp ngói, đã làm cho cảnh Thạch Động mất đẹp đi nhiều. Nếu không có ngôi chùa đó, thì chúng ta sẽ được nhìn thấy một cảnh động đá thênh thang, rộng rãi, chung quanh vách đá uốn nét, giữa có khoảng thông thiên, nhật quang tỏa khắp lên các thạch nhũ, đẹp biết mấy ».

Nhà thơ Đông Hồ còn nói rỏ thêm về việc sơn màu vôi trắng tô đắp vẽ vời tượng nọ hình kia trên vách đá là dại dột…Ông khuyến cáo nên dời chùa ra ngoài có nhiều chỗ rộng rải để khỏi làm mất vẻ đẹp của thiên nhiên.

Trong những năm 50-60, có hảng phim tại Sài Gòn xuống Hà Tiên thực hiện cuốn phim về sự tích Thạch Sanh-Lý Thông, người đạo diễn đã nhờ ông cụ ba của thầy giáo Trình Kim Chung, ông cụ lúc đó tu ở trên Thạch Động, vì tướng mạo ông phương phi, râu bạc trắng, tay cầm phất trần rất giống tiên ông nên ông đóng vai Tiên Ông trong bộ phim nầy.

Ngoài ra Thạch Động cũng còn là nơi được chọn là bối cảnh cho các bộ phim như « Cuộc chiến với chằn tinh » (hay còn có tên là « Thạch Sanh ») với các nhân vật thằng An, thằng Cò của cố đạo diễn Đỗ Quang Hải Âu năm 1997 và bộ phim « Đất Phương Nam »  của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn.

H/ Ký ức riêng về Thạch Động:

Vốn là dân gốc gác Hà Tiên, mình biết rất nhiều về Thạch Động, mỗi lần theo bạn bè đi xe Honda chạy ra đường biên giới về phía chùa Xà Xía, mình có dịp ngắm nhìn Thạch Động và rất có ấn tượng về thắng cảnh nầy. Trong những năm 50, người dân Hà Tiên có thể lên Thạch Động viếng cảnh, ngắm thiên nhiên và thả hồn với không gian  trầm mặc của vùng núi non bao quanh Thạch Động. Tuy nhiên khi mình trưởng thành và trong thời gian đi học tại Trung Học Hà Tiên, khu vực Thạch Động trở thành một nơi chiến lược do có quân đội địa phương đóng điểm trên đó nên không ai còn được lên Thạch Động ngoạn cảnh. Hằng ngày chỉ chạy xe Honda qua lại bên phía dưới con lộ chánh dẫn ra biên giới và nhân lúc đó nhìn ngắm Thạch Động mà thôi. Có một điều may mắn là trong lúc đi học, mình có tham gia vào ban nhạc do bạn Lê Công Hưởng là trưởng ban, thời đó các đơn vị nhà binh đóng quân tại Hà Tiên như trên đồi Ngũ Hổ (Lầu Ba Ông Chánh), Thạch Động, trại biệt kích Tô Châu,..v..v..thường hay tổ chức chơi văn nghệ giúp vui nên có một lúc đại đội đóng quân trên Thạch Động có mời ban nhạc học sinh trường Trung Học Hà Tiên lên chơi nhạc trên Thạch Động. Nhờ dịp như thế, mình và các bạn, cùng các bạn gái ca sĩ học sinh được vào hang Thạch Động để ca hát giúp vui trên đó.

Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người đàn anh gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Mũi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ… Kỷ niệm nầy mình có kể với nhiều chi tiết trong bài « Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh) » các bạn có thể bấm vào đường link nầy để đọc bài thêm.

Lần về thăm nhà Hà Tiên vào tháng sáu năm 2012, mình có gặp lại người bạn thân Nguyễn Đình Nguyên thời xưa đi chơi chung với nhau, hai dứa đi chơi ở Thạch Động,..Nguyên có nói với mình: » Lần sau về mầy sẽ thấy tao có thể đi tu ở ngay trong chùa Thạch Động nầy… »  (vì là bạn thân nên mình và Nguyên thường xưng hô mầy tao…). Tự dưng mình nghĩ thấy cuộc đời sao nhẹ nhàng và không có gì phải vướng bận cả, cuộc đời người như một quán trọ, người đến rồi đi, kẻ ở trước vài đêm rồi sáng lại đi, người mới đến cho qua đêm vài hôm, kẻ sẽ đến quán trọ và rồi cũng sẽ rời quán ra đi…kẻ trước người sau…Biết bao nhiêu người bạn thân thời chơi nhạc Hà Tiên đã ra đi: Nguyễn Ngọc Thanh, Lý Mạnh Thường, Lê Công Hưởng, Lý Cui, Tống Châu Thành, ….Hà Tiên của mình đã xa dần và mất mát nhiều quá,…Sông Giang Thành đã mất đi chiều ngang khá nhiều, cát đen Mũi Nai cũng đã bị đào xới phủ lên cát mới trắng trẻo,…Đôi bờ ao sen cũng đã bị nền xi măng vây kín, ngôi chùa gỗ Tiên Sơn Tự cũng dần dần được phủ lên nền gạch đá rắn chắc và cổng vào chùa cũng được sơn phết điểm tô màu sắc,…còn đâu nét đẹp thiên nhiên ngàn năm cổ kính của một thời mà hồn đất Hà Tiên hòa nhập với cây xanh, bóng mát và không gian trầm lặng một Thạch Động yên nghỉ nhìn về hướng chợ Hà Tiên…

Paris, Trần Văn Mãnh, viết xong ngày 02/05/2020

Một bức hình có thể xem như là xưa nhất về Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1900, hình rửa theo giấy Citrate

Thạch Động (Bonnet à poils) do người Pháp chụp năm 1901. Hình rửa theo giấy Citrate

Quang cảnh Thạch Động in trên bưu ảnh do người Pháp phát hành. ta thấy cửa vào Thạch Động và có hai vị hòa thượng đứng trước cửa. Dưới bưu ảnh có ghi hàng chữ: « COCHINCHINE – Hatien- Le bonnet à poils. Entrée de la Bonzerie à l’intérieur du rocher » (Lối vào chùa bên trong hòn đá)

Quang cảnh Thạch Động trong bưu ảnh do người Pháp phát hành năm 1926 (Nadal). Dưới bưu ảnh có ghi: « HATIEN – Bonnet à poils. Chemin dans les grottes, 3 km 500 du chef-lieu » (Mũ lông – Lối đi trong hang động, cách thị trấn 3 cây số rưởi)

Hình cửa vào Thạch Động do hảng chocolats SUCHARD của người Pháp in trong tập hình sưu tầm.

Hình Thạch Động do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Hình Thạch Động (mặt tây) do người Pháp chụp khoảng trước năm 1931 (Nadal)

Quang cảnh Thạch Động hình chụp năm 1956. (TuanVo)

Thạch nhũ trước Thạch Động có hình như mỏ đại bàng. Hình chụp năm 1959. (TuanVo)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BronsonHa)Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 1994. (TVM)Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (BuiVanTam, năm 2004)

Quang cảnh Thạch Động (mặt đông nam). (Herman Hermanson, năm 2006)

Trước cổng vào Thạch Động, chùa Tiên Sơn Tự năm 2008. (TuấnMinh)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (2017)

Quang cảnh Thạch Động mặt tây, ở mặt nầy ta thấy hình mặt người ta bằng đá trên sườn núi. (PhamKhang, năm 2018)

Quang cảnh Thạch Động mặt đông nam. (PhamKhang, năm 2018)

 

 

Những bưu thiếp đươc lưu chuyển qua Hà Tiên

A/ Bối cảnh lịch sử:

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi gợi nhớ Hà Tiên qua các phong bì ngày xưa, hôm nay chúng ta sẽ đến với Hà Tiên xa xưa qua các tấm bưu thiếp (hay bưu ảnh = cartes postales) đã từng trên đường lưu chuyển có liên quan đến văn phòng bưu điện ở Hà Tiên. Mục đích chính không phải sưu tầm những bưu thiếp có in hình phong cảnh đẹp ở Hà Tiên mà là xem qua các chi tiết trên những bưu thiếp được gởi đi từ văn phòng bưu điện Hà Tiên hay từ các nơi khác gởi đến Hà Tiên hay chỉ thông qua giai đoạn trung gian Hà Tiên để đi nơi khác.

Vào thời kỳ người Pháp chiếm toàn phần miền nam nước Việt Nam (1859: Pháp chiếm Saigon, 1862: Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, 1867: Pháp chiếm ba tỉnh miền Tâu Nam Kỳ, 1874: Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp) , người dân bản xứ chúng ta ít có phương tiện đi lại, thiếu dụng cụ và cũng không có điều kiện in ấn, phát hành các sản phẩm hình chụp của mình. Đa số các nhà nhiếp ảnh, các nhà phát hành bưu thiếp thời kỳ nầy đều là người Pháp. 

Việc lưu chuyển các bưu phẩm đã phát xuất từ thời 1870, chủ yếu  là nhu cầu liên lạc giữa những người Pháp đến Việt Nam và gia đình của họ ở bên Pháp: các viên chức, binh lính, giáo sĩ đi truyền đạo và ngay cả dân sự người Pháp…Gia đình của những người nầy bên Pháp tò mò muốn biết sinh hoạt ở cái xứ sở xa xôi, sự kỳ lạ, phong cảnh không quen thuộc và ngay cả lịch sử của xứ sở nầy…Vì có nhu cầu như vậy nên đội ngũ thợ chụp hình người Pháp tỏa ra khắp nơi ở vùng Nam Kỳ (Cochinchine) để chụp phong cảnh, sự sinh hoạt hằng ngày, chùa chiền, nhà cửa….Đa số là người ở trong nhà binh, sau đó khi họ rời khỏi quân đội, một số người tiếp tục hành nghề chụp ảnh, mở các tiệm chụp hình, hợp tác với các nhà sản xuất bưu thiếp từ nước Pháp sang miền Nam hoặc có khi chính họ trở thành nhà xuất bản bưu thiếp…

B/ Nhà xuất bản bưu thiếp:

Sau đây là một số nhà xuất bản bưu thiếp người Pháp, nỗi tiếng trong thời kỳ nầy (1859 – 1945), hoạt động ở Saigon.

Claude et Cie: Trong số các nhà xuất bản bưu thiếp lâu đời nhất làm việc tại Saigon trước tiên phải nói đến nhà in mới Claude et Compagnie. Nhà in được thành lập năm 1881 tại số 125-127 đường Catinat Saigon. Đây là nơi phát hành các bưu thiếp trên toàn liên minh Đông Dương với nhiều chủ đề: chủ đề về Saigon, chủ đề về Nam Kỳ…Ngoài ra nơi đây cũng là nhà in, nhà sách, nhà văn phòng phẩm…

Fernand Nadal: Sinh vào cuối thập niên 1890, ông tới Saigon trong những năm 1920 và lập cơ sở tại số 150 đường Catinat Saigon. Ông cho đăng hình ảnh trong nguyệt san « Le Monde colonial illustré » (Thế giới thuộc địa có hình minh họa) giữa 1920 – 1931. Ông làm vừa việc cho phủ thống đốc, vừa làm việc cho các địa chủ xây cất dinh thự tại các nơi du lịch và các thương gia tại Saigon. ông phát hành rất nhiều bưu phiếu và một số vẫn còn tái bản lại cho đến năm 1950.

Poujade De Ladevèze: Trên một số bưu thiếp thường ký tên « Collection Poujade de Ladevèze » (Bộ sưu tập Poujade de Ladevèze), xuất hiện khoảng năm 1922. Có tài liệu cho rằng ông không phải là nhà chụp hình, ông cho xuất bản những bưu thiếp có màu mà hình ảnh đăng trên đó không đề tên tác giả.

Mme Terray: Bà là nhà chụp hình chuyên nghiệp, có cơ sở tại số 134-136 đường Catinat Saigon. Bà xuất bản các danh thiếp có vẽ hình chân dung. Đầu tiên là nhà xuất bản « Collection G. Wirth » và vợ ông chính là bà Terray, bà kế nhiệm ông từ năm 1903. Đây là một nhà xuất bản bưu thiếp hiếm hoi thường có để tên tác giả của các bức hình mà nhà nầy phát hành khi không phải là hình của nhà xuất bản tự chụp.

Francis Alexandre Decoly: Ông đặt cơ sở tại số 10 đại lộ Charner, nơi ông cùng hoạt động với nhà chụp hình Planté, tuy nhiên Decoly không phải là nhà chụp hình mà là nhà xuất bản bưu thiếp. Các bưu thiếp do ông xuất bản có dấu hiệu nhỏ ở góc dưới hình một ngôi chùa, sau nầy thành chữ ký « Editions La Pagode Saigon » (Phiên bản ngôi chùa Saigon). Ông xuất bản các bưu thiếp trắng đen và cả màu.

C/ Hình thức mặt sau của một bưu thiếp:

Nếu ta chỉ việc chiếu theo dấu đóng trên bưu thiếp hoặc phần chữ viết của người gởi để biết ngày tháng của bưu thiếp thì việc nầy hiển nhiên, nhưng để biết năm xuất bản bưu thiếp hoặc ngày tháng hình được chụp trên bưu thiếp thì rất khó. Tuy nhiên có một nghị định ra ngày 18 tháng 11 năm 1903 cho phép ghi địa chỉ ở bên phải và phần viết thư bên trái ở mặt sau của tấm bưu thiếp. Vì thế nếu mặt sau của tấm bưu thiếp không chia thành hai phần theo chiều đứng thì bưu thiếp nầy xuất bản trước tháng 12 năm 1903, nếu mặt sau bưu thiếp được chia thành hai phần dọc, bưu thiếp nầy xuất bản sau tháng 12 năm 1903.

Hai hình thức mặt sau của một tấm bưu thiếp: bên trái: bưu thiếp xuất bản trước năm 1903; bên phải: bưu thiếp xuất bản sau năm 1903

D/ Một số bưu thiếp liên hệ đến Hà Tiên:

Năm 1901;

1/ Bưu thiếp từ thành phố Laon nước Pháp gởi đến Hà Tiên. Ngày gởi 7/3/1901, ngày đến Hà Tiên 11/4/1901.

1a/ Bưu thiếp gởi cho Monsieur Edouard Cudenet, percepteur à Hatien Cochinchine (Ông Edouard Cudenes, nhân viên thâu thuế ở Hà Tiên, Nam Kỳ) . Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Laon (ở vùng đông bắc nước Pháp), gởi ngày 7/3/1901. Bưu thiếp đến Sài Gòn ngày 6/4/1901 (Saigon Central – Cochinchine = Văn phòng trung tâm Sài Gòn, Nam Kỳ), và đến Hà Tiên ngày 11/4/1901 (Hatien – Cochinchine = Văn phòng Hà Tiên, Nam Kỳ). Đặc biệt có một dấu đóng hình chữ T trong một hình tam giác lật ngược: đó là dấu hiệu của văn phòng xuất phát cho biết bưu thiếp nầy chưa dán tem đủ số tiền và người nhận bưu thiếp nầy phải trả tiền thêm khi nhận bưu thiếp. Hình: Delcampe

1b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Bưu thiếp có in hình Porte d’Ardon (cổng vào thành lũy thành phố Laon, xây vào thế kỷ thứ 14). Bên trái phía dưới thiệp có ghi dấu hiệu nhà xuất bản: B.F., Paris = Berthaud Frères, hai anh em Jean và Michel Berthaud là nhà chụp hình hoạt động ở Paris trong những năm 1863 đến năm 1908. Trên bưu thiếp có lời viết như sau: « Laon, 7 Mars 1901 Monsieur, Ayant vu votre adresse sur la lecture pour tous, j’espère que vous me ferez le plaisir d’échanges des cartes postales. Monsieur René Maguier, Lycée de Laon Aisne France » (Laon ngày 7 tháng 3 năm 1901, thưa ông, nhân thấy được địa chỉ của ông trên phần cho mọi người đọc, tôi hy vọng rằng ông sẽ làm tôi vui thú về việc trao đổi các bưu thiếp. Ông René Maguier, trường Trung Học Laon, tỉnh Aisne, Pháp). Hình Delcampe.

2/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Mantes-La-Ville nước Pháp. Ngày gởi 7/5/1901, ngày đến Mantes-La-Ville nước Pháp 5/6/1901.

2a/ Bưu thiếp gởi cho ông Da…ry (không rỏ tên), địa chỉ Mantes-la-Ville, (Seine et Oise), France. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là văn phòng Hà Tiên (Hatien – Cochinchine), dấu đóng ngày 7/5/1901. Bưu thiếp đến thành phố Mantes Sur Seine, Seine et Oise nước Pháp ngày 5/6/1901 (trên dấu đóng ghi Mantes s/ Seine – Sne et Oise, 5 Juin 01). Phía trên có hàng chữ « imprimé » (Thiệp in) và hàng chữ Carte Postale bị gạch bỏ, điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền (ở đây là 5 centimes thay vì phải dán tem 10 centimes). Hình Delcampe.

2b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên.  Hình ảnh trên bưu thiếp là ngôi chùa ở thành phố Pnom Penh (Nam Vang, nước Cambodge), phía trên bên phải có ghi Souvenir de Pnom Penh (Kỷ niệm Nam Vang). Bên phải có hàng chữ viết tay đứng: E. Cudenet, Percepteur à Hatien Cochinchine. (E Cudenet, nhân viên thâu thuế ở Hà Tiên, Nam Kỳ). Không rỏ nhà xuất bản bưu thiếp nầy. Hình Delcampe.

Năm 1903;

3/ Bưu thiếp từ thành phố Kampot nước Cambodge gởi đến thành phố Tanger nước Maroc thông qua thành phố Hà Tiên. Ngày gởi 9/12/1903, qua Hà Tiên tháng 12/1903 và ngày đến Maroc không rỏ.

3/ Bưu thiếp gởi cho cô Luna Benasuli, Tanger, Maroc. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Kampot, nước Cambodge (Kampot ở về phía nam nước Cambodge, xưa kia là một thành phố quan trọng thời thuộc địa Pháp, cách Hà Tiên khoảng 41 km đường chim bay). Bưu thiếp khởi hành ở Kampot ngày 9/12/1903 (Kampot – Cambodge), chuyển qua Hà Tiên cùng tháng 12/1903, không thấy rỏ ngày đến Hà Tiên (Hatien – Cochinchine), chuyển lên Sài Gòn ngày 17/12/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Trên bưu thiếp không có dấu đóng ngày tháng đến Tanger, Maroc. Phía trên bưu thiếp có chữ viết tay Impreso (Thiệp in), điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền. Hình trên bưu thiếp Tonkin – Sontay, Mans du Mont Bavi (Bắc Kỳ – Sơn Tây, người miền núi Ba Vì). Nhà xuất bản bưu thiếp là Collection Dieulefils, Hanoi. Phía dưới hình có hàng chữ viết tay: Kampot (Cambodge) 9 décembre 1903. Hình Delcampe.

4/ Bưu thiếp từ thành phố Kampot nước Cambodge gởi đến thành phố Tanger nước Maroc thông qua thành phố Hà Tiên. Ngày gởi 11/12/1903, qua Hà Tiên ngày 14/12/1903 và ngày đến Maroc không rỏ.

4/Bưu thiếp gởi cho cô Luna Benasuli, Tanger, Maroc. Nơi xuất phát bưu thiếp nầy là thành phố Kampot, nước Cambodge. Bưu thiếp khởi hành ở Kampot ngày 11/12/1903 (Kampot – Cambodge), chuyển qua Hà Tiên ngày 14/12/1903 (Hatien – Cochinchine), chuyển lên Sài Gòn ngày 17/12/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Trên bưu thiếp không có dấu đóng ngày tháng đến Tanger, Maroc. Phía trên bưu thiếp có chữ viết tay Impreso (Thiệp in), điều nầy chỉ áp dụng cho các loại gởi bưu thiếp không riêng tư để được hưởng chi phí dán tem rẻ tiền. Hình trên bưu thiếp Tonkin – Tuyen Quang, Rivière et Village (Bắc Kỳ – Tuyên Quang, Sông và Làng). Nhà xuất bản bưu thiếp là Collection Dieulefils, Hanoi. Phía dưới hình có hàng chữ viết tay: Kampot (Cambodge) 11 décembre 1903. Hình Delcampe.

5/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Bouvesse nước Pháp. Ngày gởi 27/7/1903. Ngày đến Bouvesse nước Pháp 21/8/1903.

5a/ Bưu thiếp gởi cho Mademoiselle Jeanne Favel, Chez Mr Robin, à Bouvesse par Montalieu-Vercieu (Isère), France (Cô Jeanne Favel, ở nhà ông Robin, tại làng Bouvesse, hướng Montalieu-Vercieu, tỉnh Isère, Pháp). Bưu thiếp xuất phát từ Hà Tiên ngày 27/7/1903 (Hatien – Cochinchine), đến Sài Gòn ngày 30/7/1903 (Saigon Central – Cochinchine). Bưu thiếp đến Montalieu-Vercieu, tỉnh Isère, Pháp ngày 21/8/1903 (Montalieu-Vercieu – Isere). Phía trên bưu thiếp có ghi « Carte Postale (ce côté est exclusivement réservé à l’adresse) »  (Bưu thiếp, phía nầy chỉ dành riêng cho địa chỉ). Hình PicClick

5b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Bưu thiếp in hình Rue de Bangkok à Saigon (Đường Bangkok ở Sài Gòn). Bên trái có in hàng chữ đứng Série de Cochinchine –  Claude et C°, Editeurs, Saigon. (Loạt hình Nam Kỳ – Nhà xuất bản Claude và C°, Sài Gòn). Phía dưới là phần chữ viết tay như sau:  » Mademoiselle, je profite que vous êtes en vacances à Bouvesse pour vous donner de nos nouvelles dont vous aurez le plaisir d’en faire part à mon père, à ma belle soeur et mon neveux ainsi qu’aux bons amis de Bouvesse et nous vous souhaitons une meilleure santé pendant vos vacances. Les deux fillettes ne vous au point oublier elle chantent souvent » (Thưa cô, tôi thừa lúc cô đang nghỉ hè ở Bouvesse để cho cô hay tin tức chúng tôi mà cô sẽ thích thú báo tin đó cho cha tôi, cho chị và cháu trai của tôi cũng như cho các bạn thân ở Bouvesse và chúng tôi xin chúc cô sức khỏe tốt đẹp trong lúc cô nghỉ hè. Hai cô bé gái không hề quên cô, các cô ấy ca hát thường xuyên). Bên trái có hàng chữ viết tay đứng: « Bonsoir Mme la lune. Toujours à vous amicalement » và có chữ ký tên. (Chào buổi tối bà mặt trăng, lúc nào cũng thân hữu với bà). Hình PicClick

Năm 1907:

6/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Tunis nước Tunisie. Ngày gởi 26/4/1907, ngày đến Tunis nước Tunisie 31/6/1907.

6a/ Bưu thiếp gởi cho Mademoiselle Marie Bertin, 13 rue d’Espagne, Tunis, Tunisie (Cô Marie Bertin, số 13 đường Espagne, Tunis, Tunisie). Nơi phát xuất bưu thiếp nầy là văn phòng Hà Tiên, gởi đi ngày 26/4/1907 (Hatien – Cochinchine). Bưu thiếp đến nước Tunisie (ở Bắc Phi Châu) ngày 31/6/1907. Trên bưu thiếp có dấu đóng chữ T tức là bưu thiếp chưa dán tem đủ số tiền nên khi đến Tunisie người nhận phải đóng thêm tiền tem 10 Centimes (tem và dấu đóng bên trái bưu thiếp). Hình Delcampe.

6b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Hình trên bưu thiếp là « Vue d’ensemble de MYTHO (Cochinchine) » (Quang cảnh chung Mỹ Tho, Nam Kỳ). Nhà xuất bản bưu thiếp là Mme Terry, Photographe, Saigon (Bà Terry, nhiếp ảnh gia, Sài Gòn). Chữ ký tên người gởi bưu thiếp là Guénéval. Tem dán trên bưu thiếp giá 5 Centimes. Hình Delcampe.

Năm 1908:

7/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đi, không rỏ nơi đến. Ngày gởi 21/10/1908.

7/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, ngày 21/10/1908. Dấu đóng Hatien – Cochinchine 21 Oct 08. Trên bưu thiếp có in hình: Cochinchine – Un groupe d’Indigènes (Nam Kỳ – Một nhóm người bản xứ). Không có mặt sau nên không có tên và địa chỉ người nhận. Không biết nhà xuất bản. Hình Delcampe.

Năm 1909:

8/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đến thành phố Toulouse nước Pháp. Ngày gởi không rỏ nhưng theo chữ viết ngày 6/3/1909.

8a/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, không rỏ ngày tháng trên dấu đóng. Trên bưu thiếp có in hình một người Pháp đứng trước Mạc Công Miếu Hà Tiên. Bên phải có hàng chữ viết theo chiều đứng « Pagode de Ma-Keu-Ou à Hatien, Hatien 6 Mars 1909 » và có chữ ký tên (Miếu Mạc Kính Cửu ở Hà Tiên, Hà Tiên 6 tháng 3 năm 1909). Không biết nhà xuất bản. Hình Delcampe.

8b/ Đây là mặt sau của tấm bưu thiếp trên. Phía trên có hàng chữ viết Hatien 6 Mars 1909 (Hà Tiên ngày 6 tháng ba 1909). Hàng chữ in « Carte Postale, Tous les pays étrangers n’acceptent pas la correspondance au recto (se renseigner à la poste). (Bưu thiếp, Tất cả các nước ngoài không chấp nhận thư viết ở mặt trước (hỏi thông tin tại bưu điện). Địa chỉ người nhận bưu thiếp viết bên phải (cột Adresse): Madame Pujat, 13 R. d’ Auriol, Busca, Toulouse (Bà Pujat, 13 đường Auriol, Khu Busca, Toulouse). Bên trái là phần viết thư (cột Correspondance): « Ma chère Mère, Je suis en pourparlers pour changer la Cochinchine contre Le Cambodge. Le poste qu’on me propose est sur le bord du G’ Fleur à 5 km de Pnom-Penh ». (Mẹ thân yêu, con đang thảo luận để xin đổi từ Nam Kỳ qua Cambodge. Chỗ làm mà người ta đề nghị cho con ở kế bên G’Fleur, cách Pnom – Penh 5 km.). Không rỏ ngày đến Toulouse, nước Pháp. Hình Delcampe.

9/ Bưu thiếp có lẽ từ Hà Tiên gởi đi theo như chữ viết. Không có địa chỉ nơi đến. Ngày gởi có thể 17/01/1909. Ngày đến cũng không rỏ.

9/ Bưu thiếp có lẽ xuất phát từ văn phòng Hà Tiên, nhưng không có dấu đóng, không biết ngày tháng gởi, cũng không biết người gởi và người nhận. Hình trên bưu thiếp là hình sinh hoạt của người dân « Marchands de Paddy se rendant au Marché » (Người buôn lúa thóc đi ra chợ). Có hàng chữ viết của người gởi cho biết là bưu thiếp gởi từ Hà Tiên  » Hatien, Cochinchine 19 – Janvier 09″ (Hà Tiên, Nam Kỳ 19 tháng giêng 1909). Nhà xuất bản bưu thiếp có ghi bên trái, phía dưới Planté, Editeur, Saigon (Nhiếp ảnh gia Planté, nhà xuất bản, Sài Gòn).

Năm 1919:

10/ Bưu thiếp từ Hà Tiên gởi đi, không rỏ nơi đến. Ngày gởi 19/11/1919.

10/ Bưu thiếp xuất phát từ văn phòng Hà Tiên; trên tem có dấu đóng Hatien – Cochinchine 19/11/19 (Văn phòng bưu điện Hà Tiên – Nam Kỳ 19/11/1919). Không biết tên người gởi và người nhận vì thiếu mặt sau. Trên bưu thiếp có in hình « Cambodge – Pnom – Penh – Pagode Royale face Nord-Est » (Ngôi chùa hoàng gia theo hướng đông bắc). Có dấu hiệu nhà xuất bản phía dưới góc trái (Bình đốt dầu thơm màu đỏ): P. Dieulefils – Hanoi.

Paris, viết xong ngày 03/03/2020, Trần Văn Mãnh

Hà Tiên qua các phong bì bưu chính

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi người Pháp chiếm toàn bộ các tỉnh miền đông và miền tây của phía nam nước ta, bộ máy hành chánh Pháp bắt đầu phát triển về phương diện giao dịch thư từ. các văn phòng bưu điện lần lượt được mở ra tại nhiều địa phương, lúc đầu chủ yếu phục vụ sự chuyển thư từ trong giới nhà binh của Pháp.  Sau đây là một vài chi tiết về ngày tháng ra đời của các văn phòng bưu điện ở các tỉnh thành miền đông, tây Cochinchine (lúc đó gọi la Nam Ký):

Sài Gòn: văn phòng bưu điện được mở ra ngày 01/01/1863
Bà Rịa, Trảng Bàng, Tây Ninh, Biên Hòa, Gò Công, Mỹ Tho: 15/07/1863
Chợ Lớn: 1864
Tân An: 01/03/1866
Sa Đéc: 05/07/1867
Thủ Dầu Một: 15/07/1867
Châu Đốc: 1867
Trà Vinh: 21/02/1868
Vĩnh Long: 01/01/1869
Mỏ Cày: 1869, đến tháng 09/1871 thì đóng cửa nhập vào bưu điện Bến Tre, đến năm 1878 thì mở cửa lại ở Mỏ Cày.
Bến Tre: 09/1871
Vũng Tàu: giữa 1868 và 1871
Rạch Giá: 1873
Long Xuyên: 1874
Sóc Trăng: 21/05/1875
Trà Ôn: 1875, đến năm 1877 thì đóng cửa và nhập vào bưu điện Cần Thơ (văn phòng ở Cần Thơ được mở ra năm 1877).
Poulo-Condore (Đảo Côn Sơn): 23/02/1882 lúc đầu chỉ là văn phòng điện tín.

Hà Tiên: Trước hết có một văn phòng điện tín mở ra ở Hà Tiên khoảng năm 1870, sau đó ngày 25/03/1873 văn phòng bưu điện được mở ra.

Đến năm 1882 các văn phòng bưu điện nầy được nhập vào với các văn phòng máy đánh điện tín và làm việc hành chánh chung về lảnh vực thư từ và điện tín. Trước đó các văn phòng bưu điện nầy phục vụ việc lưu chuyển thư từ trong giới nhà binh, để giúp cho những viên lính Pháp xa nhà gửi thư từ về nước với giá rẻ, có khi miển phí, dấu đóng trên các phong bì thư nầy thay thế cho việc dán con tem thư, ngay cả khi có dán tem thư thì người ta cũng dùng các con dấu trong nhà binh nầy để đóng dấu thư. Việc đóng dấu trên phong thư là để xác đinh ngày tháng năm gởi thư, vì thế các con dấu dùng trong giới nhà binh nầy được gọi là các « tem thư ngày nhà binh » (Les cachets à date de correspondances d’armée).

Một con « tem thư ngày » dùng trong nhà binh của Pháp của văn phòng bưu điện Hà Tiên, trên tem thư nầy có ghi: CORR. D. ARMEES (Correspondance d’Armées = Thư tín Quân Đội), tháng hai năm 1876, phía dưới là hai chữ HATIEN. (Hình: Florent Tricot)

Một « tem thư ngày » khác của văn phòng bưu điện Sài Gòn, xưa hơn, dấu ghi ngày 27 tháng 5 năm 1863. (Hình: Florent Tricot)

Sau đây là một số phong bì do người Pháp và người Việt Nam liên lạc với nhau qua hệ thống văn phòng bưu điện Hà Tiên:

A/ Năm 1900:

1a/ Phong bì một lá thư gởi ông Hộ Hoạch, ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Ngày tháng đóng dấu trên phong bì là: 17/06/1900. Dấu đóng trên con tem màu xanh phía trên là văn phòng khởi hành của phong thư, tại Sài Gòn (Saigon Port Cochinchine = Cảng Sài Gòn Nam Kỳ). dấu đóng trên hai con tem phía dưới là văn phòng đến, Hà Tiên (Hatien Cochichine = Hà Tiên Nam Kỳ), không thấy rỏ ngày đến. Trên phong bì còn có ghi câu « Art. 9 de la loi du 29 juin 1856 » bằng màu đỏ, tức là « Điều 9 của luật ngày 29 tháng 6 năm 1856« . (Hình: La Gazette Drouot)

Chú ý: Vào thời nầy tên Mỹ Đức chỉ làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành, là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên, ngày nay đổi tên là phường Đông Hồ, không phải phường Mỹ Đức ngoài Thach Động hiện nay.

1b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Hà Tiên Cochinchine (Nam Kỳ) ngày 21/06/1900 (21/juin/1900). (Hình: La Gazette Drouot)

B/ Năm 1903:

2a/ Phong bì để tang có viền đen (có lẽ để báo tin người mất) từ Hà Tiên gởi cho ông Folly, địa chỉ số 24, đường Daniel, Asnières, Seine, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 24 tháng chín năm 1903. (Hình: La Gazette Drouot)

2b/ Bìa sau của phong bì để tang trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Seine, nước Pháp ngày 30/10/1903. (Hình: La Gazette Drouot)

C/ Năm 1911:

3a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông Max Mautelin, sinh viên Nghệ thuật thương mại (étudiant ès-arts Commerciaux), địa chỉ số 5, đường Sala, Lyon, Rhône, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 28 tháng 2 năm 1911. Trên góc trái của phong bì còn có chữ in: Indochine Française, Province de Hatien (Đông Dương Pháp, tỉnh Hà Tiên).

3b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Rhône, nước Pháp ngày 01/04/1911.

D/ Năm 1932:

4a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho nhà L’Illustration, địa chỉ số 13 đường Saint Georges, Paris, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 1 tháng 2 năm 1932. Phía trên góc trái có đề hàng chữ Par Avion Saigon Marseille = Bằng đường máy bay Sài Gòn Marseille. (Hình: Delcampe)

4b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư đến Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam kỳ ngày 2/2/1932 (Saigon Central Cochinchine) và đến văn phòng Paris, quận 9 đường Hyppolyte Lebas ngày 16/2/1932 (Paris IX Rue Hyppolyte Lebas). (Hình: Delcampe)

E/ Năm 1946:

5a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm hình Block và Lux (Central Photo Block et Lux), địa chỉ số 5, đường Merrcière, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 9 tháng 7 năm 1946. Phía trên cao có đề tên người gởi: exp: Quach Ngoc Ba Hatien (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, Hà Tiên). Bên trái có dâu hiệu thư gởi theo đuòng máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). (Hình: Delcampe)

F/ Năm 1947:

6a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 15 tháng 3 năm 1947. Trên góc phải của phong bì có hai chữ -FM- = Franchise Militaire (có nghĩa là « nhượng quyền nhà binh » tức là thư nầy trong giới nhà binh, được miển cước phí). Bên dưới góc trái có dề tên người gởi thư: Garde Janton André, 1ère Légion de Garde Républicaine de Marche, Brigade d’Hatien par BPM 405 T-O-E Indochine (Quân đoàn 1 của Vệ binh Cộng hòa Marche, Lữ đoàn Hà Tiên của BPM 405 T-O-E Đông Dương). Ba chữ T.O.E = Théâtre des Opérations Extérieures (Nơi những chiến dịch bên ngoài). BPM 405 = Bureaux Postaux militaires (Bưu điện nhà binh), số 405 là số của văn phòng bưu điện nhà binh thuộc Saigon. Bên phải phía trên có dấu hiệu Par Avion tức là thư nầy được chuyển đi bằng đường máy bay. (Hình: Delcampe)

6b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy có sự kiểm tra của cơ quan SAX (CENSURE SAX 2 ). (Hình: Delcampe)

7a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 2 tháng 5 năm 1947. Các chi tiết người nhận và người gởi cũng y như trường hợp trên (4a). (Hình: Delcampe)

G/ Năm 1951:

8a/ Đây là một trường họp phong bì có tên hiệu riêng của người gởi: Hatien-Photo, Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm xuất cảng hình (Central Photo Export), địa chỉ số 6, đường Ch. Schmidt, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 26 tháng 5 năm 1951. Phía trên cao bên trái có đề tên người gởi: Quach Ngoc Ba, Place du Marrché, Hà Tiên (Sud-Viêtnam (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, công trường chợ, Hà Tiên, miền nam Việt Nam). Phía dưới phải có dấu hiệu thư gởi theo đường máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). Dấu đóng trên bìa thư không còn là Hatien Cochinchine mà ghi là Hatien Sud Vietnam. (Hình: Delcampe)

H/ Năm 1958:

9a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho bà Võ Thành Đức, nhũ danh Ong Thị bạch Vân, địa chỉ Nha Thanh Tra Trung Ương Dân Vệ, số 163 đại lộ Chi Lăng, Saigon. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên (Hatien Viet-Nam) ngày 29 tháng 3 năm 1958. PHía trên góc phải có đề chữ: Dán tem phía sau. Góc dưới bên trái là tên người gởi: Trung Úy Võ Thành Đức, bưu tín lưu trử Hà Tiên.

9b/ Bìa sau của phong bì trên, có dán tem giá 2 đ như đã viết ở mặt trước, dấu đóng trên con tem cho thấy thư đến Sài Gòn ngày 9 tháng 4 năm 1958. (Saigon Viet-Nam)

I/ Năm 1964:

Ngoài các phong bì mà nơi xuất phát thư đi hay thư đến có liên hệ đến người gởi hoặc người nhận là người Hà Tiên, Hà Tiên còn được nhắc đến qua lần xuất bản đầu tiên con tem về Hòn Phụ Tử, con tem được phát hành ngày đâu tiên 7 tháng 9 năm 1964.

10a/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 Premier Jour d’Emission First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi cho địa chỉ Alhambra Club, Apartado 109, Granada, Espana. (Câu lạc bộ Alhambra, căn số 109, Granada, Tây Ban Nha).

10b/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi về địa phương Stanford-le-Hope, hạt Essex, England (nước Anh)

Chú thích: Mời xem thêm bài có giới thiệu rất nhiều phong bì kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử ngày 7-9-1964.

« Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên) »

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 27/02/2020

 

 

Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020

Chùa Lò Gạch (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Ký ức về chùa Lò Gạch Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, từ những thập niên 40 (khoảng năm 1945), ở Hà Tiên có xuất hiện một ngôi tịnh xá đơn sơ, vách và mái lợp lá, có tên gọi là Tịnh Xá Chí Hòa. Đó là ngôi tịnh xá do thầy Thích Chí Hòa (thế danh là Nguyễn Văn Tịnh) trên đường du hành tìm Đạo, đã dừng chân tại mảnh đất Hà Tiên và dựng lên ngôi chùa nhỏ nầy. Tịnh xá tọa lạc tại phía đông bắc chân núi Bình San, Hà Tiên, tại đây kề bên tịnh xá còn có một cái lò gạch bỏ hoang từ rất lâu, ngôi tịnh xá cất kề sát với cái lò gạch nầy, vì thế thầy cho mở ra một lối vào lò gạch từ bên trong phía phải của tịnh xá để dùng làm chánh điện thờ các tượng Phật bên trong lò gạch, từ đó tịnh xá Chí Hòa còn có tên bình dân là Chùa Lò Gạch.

Ngôi chùa Lò Gạch rất quen thuộc với mình, vì ngay từ nhỏ mỗi khi qua mấy ngày Tết thì bà ngoại mình làm một chuyến đi cúng chùa quanh phố Hà Tiên, nào là chùa Bà Cửu Thiên, chùa Lò Gạch, chùa Phù Dung, chùa Phật Đường, chùa Tam Bảo,..v…v…. Lần nào bà ngoại cũng dẫn theo ba anh em mình (còn một cô em gái út nữa nhưng vì cô nầy còn rất nhỏ nên ít có dịp đi theo ba anh trai cúng chùa với bà ngoại). Phương tiện di chuyển là xe lôi đạp thùng (loại xe nầy chỉ có ở Hà Tiên, người ta còn gọi là xe « đầu mọt »,…không hiểu ý nghĩa ra sao ?!). Bà ngoại và ba đứa cháu nhỏ đi một chiếc xe lôi đạp là đủ rồi. Mỗi khi đến chùa nào phải dừng lại để vào cúng kiến thì chú đạp xe nằm trên xe nghỉ mát ngoài vệ đường, vì không khí và quang cảnh những nơi có chùa chiền ở Hà Tiên đều rất mát mẻ với nhiều cây xanh chung quanh.

Khi tới địa điểm chùa Lò Gạch thì bà ngoại dẫn ba đứa cháu vào chùa, giới thiệu với bà cô và « huynh Ba » là hai vị trụ trì trong chùa Lò Gạch mà mình biết ngay từ lúc nhỏ vì lần nào đi chùa Lò Gạch đều gặp hai vị nầy. Cho đến ngày nay, mình cũng chưa biết được bà cô và huynh Ba trụ trì là ai, tên họ là gì, có liên hệ họ hàng với nhau không ?? Chỉ biết là bà cô và huynh rất tử tế, nói chuyện với mấy anh em mình rất vui vẻ, hỏi thăm nhiều điều và thường cho ăn trái cây cúng trong chùa. Trong khi bà ngoại tiếp chuyện và tiến hành lễ cúng thì mấy anh em mình được cho lên bộ ván gỗ lớn ngay bên trái trong chùa để ngồi chơi. Từ bên ngoài bước vào chùa thì bên trái có bộ ván gỗ lớn, bên phải là cái cửa thông vào lò gạch là nơi chánh điện, ở giữa chùa cũng có bàn thờ, chắc thờ các vị Tổ và quý vị thần. Phía sau bàn thờ Tổ là hậu liêu, tức nhà sau của chùa, cũng có một cái cửa thông ra núi Bình San sau đó, hình như phía sau chùa, khi mình bước ra khỏi cửa sau thì có một cái nghĩa địa nhỏ, mình cũng có lần đi dự đám táng chôn cất của bạn quen biết tại đây, hình như là anh Đường Hùng Việt an nghỉ tại đây, bây giờ thì không biết cái nghĩa địa nầy có còn nữa không?.

Sở dĩ bà ngoại cho mấy anh em mình an vị trên bộ ván gỗ lớn là vì ngay bên vách tường chỗ kê bộ ván có một bức tranh rất to lớn, vẽ đủ hết tất cả các cảnh hình phạt ở dưới âm phủ, địa ngục do các quỷ sứ thực hành các hình phạt đó. Hồi đó mình rất thích xem toàn bộ các cảnh trong bức tranh to lớn nầy, bức tranh bằng vải trắng dầy, hình vẽ có sơn màu rất tinh vi…Mặc dù thích xem nhưng cũng hơi sợ các quang cảnh hình phạt trong bức tranh, có đủ hết các loại hình phạt: hình hai quỷ sứ đang kéo cưa, cưa làm hai một thân hình một người đàn ông, hình một quỷ sứ đang dùng cây kềm kéo lưỡi một người ra để cắt đứt lưỡi (vì người nầy trên trần gian phạm tội nói dối…, theo lời giãi thích của bà Cô), hình có một vạc dầu đang sôi nóng bỏng, có hai quỷ sứ đang đưa một người đàn bà vào trong vạc dầu sôi đó (vì trên trần gian người đàn bà nầy phạm tội…tà dâm…!!). Còn rất nhiều cảnh xử phạt khác nữa mà mình cũng hơi quên hết rồi, hồi đó mình hoàn toàn không có ý thức là tự thắc mắc ai đã vẽ ra bức tranh nầy, các sáng tạo nầy thật là hay, rất nghệ thuật, từ đâu mà có được bức tranh nầy ..?…Ngày nay khi nhớ lại mình vẫn còn rất thích bức tranh đó, thật sự bây giờ qua các biến đổi của tạo hóa và thời cuộc, qua các quá trình xây cất chùa tân thời và quy mô, bức tranh bằng vải nầy không biết đã ra sao, chắc chắn là đã bị hủy hoại, tan mất trong những đám vật dụng xưa cũ mà người ta không còn trân trọng nữa, thật là rất đáng tiếc, đó là một bức tranh tuy có tính chất tượng trưng nhưng đóng một vai trò giáo dục rất tốt, khi mình xem tranh với những cảnh tượng hình phạt người có tội trên trần gian như thế, mình sớm hiểu biết và tự nhũ sẽ không làm điều gì mắc tội như thế nữa…!!

Nhắc tới bức tranh quang cảnh âm phủ địa ngục như thế, mình và các bạn chắc chắn sẽ nhớ lại thời xưa, ở Hà Tiên có một lúc cũng có một chiếc xe hàng lớn, trong xe cũng có diễn ra quang cảnh âm phủ với đủ các hình phạt do quỷ sứ thực hành như vậy, nhưng bằng các mô hình người máy có cử động thật rất là hay, người ta muốn xem phải mua vé vào bên trong xe thùng nầy để xem, mình còn nhớ rỏ. Chiếc xe nầy đậu tại bùng binh trước dãy quán tiệm ở mé sông Hà Tiên, kế bên bót cảnh sát, bên hông chợ cá cũ Hà Tiên, người ta đi xem rất đông, bên trong xe là cảnh âm phủ rất đẹp có sơn màu và trình bày đủ các quỷ sứ bằng hình nộm cử động được (automates), các hình nộm quỷ sứ nầy diễn ra các hàng động cũng giống như trong bức tranh bằng vải treo trong chùa Lò Gạch ngày xưa, người Hà Tiên, nhất là con nít mua vé vào xem rất đông,…Chiếc xe hàng nầy chỉ lưu lại ở Hà Tiên một thời gian ngắn thôi, thường thường có thể là một hoặc hai tuần lễ, sau đó thì người ta chạy đi qua các nơi khác để tiếp tục hoạt động. Thời đó mà người ta làm được các cảnh người máy cử động như vậy thì thật là rất hay, rất kỹ thuật, tất cả đều « chạy » bằng điện do chiếc xe thùng lớn tự phát ra.

Trở lại kể tiếp việc cúng Phật ở chùa Lò Gạch. Đến giờ cúng, mình còn nhớ và còn hình dung ra được bà cô trụ trì chùa mặc vào bộ áo lễ Phật rất trang nghiêm và rất đẹp, y hệt như bộ áo mà ta thường thấy trong hình vẽ thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh. Trên đầu cũng có đội một cái mũ có nhiều miếng hình tam giác dựng đứng lên phía trên, bà cô cũng có một cây gậy, nhưng đó là cây gậy có tên « tích trượng », cây tích trượng bằng đồng hay sắt, phía trên đầu có rất nhiều khoen tròn gắn dính vào đầu cây…(giống như hình thầy Tam Tạng cầm cây tích trượng). Còn huynh Ba thì cũng mặc áo màu lam vào, trông rất đạo mạo và rất hiền từ. Các bạn Hà Tiên chắc biết và còn nhớ huynh Ba nầy,…không ai biết gốc tích hay tên tuổi của thầy, chỉ biết là người Hà Tiên thường kêu thầy là « huynh Ba », thầy không già, tuổi khoảng chừng 40 trở lên thôi, không biết là người ở đâu, theo tu ở chùa Lò Gạch khi nào, nhưng những lúc mình đến thăm chùa Lò Gạch đều gặp huynh Ba và cũng thường trò chuyện với huynh Ba, vì thầy đều biết mấy anh em mình. Cũng nói thêm về trường hợp của huynh Ba, hồi đó huynh bị nhiễm căn bệnh « cùi », những ngón tay của huynh đều mất hết đầu móng và có vẽ bóng nhẵn nhụi, tuy nhiên rất sạch sẽ không có điều gì xấu xa. Huynh lại là người tu hành, ăn chay nên căn bệnh cũng không phát triển thêm nhiều, có lẽ sau nầy huynh cũng mất vì căn bệnh như vậy. Khi đi hành đạo hoặc cúng kiến tại các tư gia, huynh thường có bộ dụng cụ như bình bát, muổng, ly và đủa riêng để dùng cho mình.

Sở dĩ huynh Ba biết mấy anh em mình nhiều là vì khoảng vào năm 1963 ông ngoại mình mất, trong lúc làm lễ cúng những cái « thất » (tức là cúng những lần vào 7 ngày sau khi mất, cho đến lần cuối là 49 ngày), nhà mình thường thỉnh huynh Ba và thầy Nhật Quang (lúc đó thầy Nhật Quang trụ trì chùa của gia đình là chùa ông Yết Ma cũng gần chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, rồi sau đó nhiều năm thì thầy Nhật Quang trụ trì chùa Phù Dung) đến nhà mình tụng kinh trong lúc cúng « thất ». Hai thầy huynh Ba và Nhật Quang đến nhà mình trước một ngày để tối đó tụng kinh và ngày hôm sau là ngày chính để cúng « thất » cho ông ngoại, hai thầy ngủ lại trong nhà mình một đêm, cùng độ cơm chay ở nhà luôn, vì mỗi lần cúng cho ông ngoại, bà ngoại mình đều cúng cơm chay. Để cho hai thầy giải trí trong đêm đó, mình và anh hai Dõng thường tổ chức « chiếu bóng » cho hai thầy xem. Nói chiếu bóng, tức là thời đó mấy anh em mình đã « chế » ra được một cái « máy » chiếu bóng, đó là một cái hộp bằng carton dầy, bên trong có thiết kế chỗ để một bóng đèn thắp cháy bằng pin đi nhặt ở trại lính thành 18 Hà Tiên. Đối diện với bóng đèn là một cái lỗ trống được khoét thành hình vuông hoặc hình chữ nhật cho ánh sáng thoát ra. Phía trên hộp phải có hai kẻ hở và thiết kế hai cuộn tròn bằng giấy cứng để cuốn «phim» vào giống như hai cuồn phim trong máy thật…Còn phim thì là giấy kiếng trong (loại giấy kiếng bao tập học trò), cắt ra thành từng băng dài và dán nối tiếp lại thành một cuồn phim. Để «sản xuất» một bộ phim, thời đó là công việc của mình, vì mình có khiếu vẽ hình, ở nhà không ai làm được, anh Hai Dõng thì phụ trách kỹ thuật về máy chiếu…Sau khi tạo ra một cuộn phim dài bằng giấy kiếng trắng và còn trống chưa có hình ảnh gì trên phim thì phải chạy ra tiệm Hia Nghiếm (Hia Nghiếm bán kẹo bánh ngay đầu chợ xéo xéo đối diện với tiệm Sanh Hoạt), để mua vài tấm hình bằng giấy cứng, trong một tấm hình lớn bằng giấy cứng như vậy có rất nhiều ô nhỏ hình chữ nhật và từ ô hình đầu đến ô hình cuối là một câu chuyện bằng tranh, thường là hình «cao bồi» cởi ngựa bán súng hay hình về chuyện Zorro…Kế tiếp phải trang bị 4 cây viết nguyên tử Bic đủ 4 màu: đen, đỏ, xanh dương và xanh lá cây. Xong xuôi thì mình phải leo lên gác lầu nhà mình (để được yên tỉnh «sản xuất» phim), ở trên gác lầu nhà, mình bắt đầu kê băng giấy kiếng vào mỗi ô hình nhỏ và lấy viết nguyên tử đồ lại theo y nguyên hình vào giấy kiếng, có tô đủ 4 màu (vậy là thời đó đã có «phim màu» rồi đó các bạn…). Cũng nói thêm là khi chiếu thì mình quay một cuộn phía sau để băng giấy kiếng từ từ chuyển động, mỗi khi một khuôn hình trong băng giấy kiếng kê đúng vào lỗ chiếu hình chử nhật thì ngưng lại một chút để có thời gian cho khán giả xem hình chiếu, vì đây là bộ máy chiếu đầu tiên nên hình chưa có cử động, và phải có người để kéo phim từ từ qua lỗ chiếu…Hai thầy xem phim rất thích thú và cứ khen hai anh em mình hoài…Ngoài ra trong thời gian đó mình thường vẽ hình ông Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát và sơn bằng màu nước, lúc đó mình có vẽ một bức hình Địa Tạng Vương để tặng cho huynh Ba và thầy Nhật Quang dùng hình để tụng kinh mỗi khi có đi cúng ở nhà người dân.

Ngôi chùa Lò Gạch nằm ngay tại chân núi Bình San, xéo trước mặt chùa bên vệ đường có một cây bồ đề rất to lớn, không biết cây bồ đề nầy có từ bao giờ (chỉ được biết là đã có hơn 70 năm nay rồi), nhưng chắc chắn rằng tuổi của nó cao hơn ngôi chùa Là Gạch rồi. Đối với học sinh trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, cây bồ đề nầy là nơi có rất nhiều kỷ niệm. Ngày xưa khi mình vào lớp đệ thất trường Trung Học Hà Tiên, năm 1964, mình bắt đầu theo các bạn lên chơi ở núi Lăng (tức là núi Bình San, nơi có lăng tẩm của nhà họ Mạc). Thường thì trong những buổi đi học ở trường, nếu tình cờ có nghỉ hai giờ đầu hay hai giờ cuối thì nhóm bạn mình, trai có gái có, thường kéo nhau lên núi Lăng chơi để chờ đến giờ học kế tiếp thì kéo về trường vì từ trường đi lên núi Lăng, theo con đường Mạc Tử Hoàng, đi ngang nhà thờ rồi tiếp tục đi thẳng theo con đường mòn lên ngay cây bồ đề và chùa Lò Gạch. Mình còn nhớ rỏ lần đầu tiên theo các bạn lên núi Lăng, lúc đó không biết cây thanh trà là của ai trồng, có người nói đó là vườn thanh trà của ông Từ Ngươn (ông từ nầy giữ gìn lăng và miếu của họ Mạc thời đó) mà các bạn mình hái rất nhiều, cả một giỏ lớn, dĩ nhiên là hái trộm thôi vì rất sợ ông Từ ra bắt được…Sau đó cả nhóm leo lên gốc cây bồ đề trước chùa Lò Gạch để bày ra và bắt đầu ăn trái thanh trà, lúc hái trái thanh trà nầy chưa chín, vỏ còn xanh lè, ăn rất chua nhưng cả bọn vẫn ăn hết một giỏ lớn. Cây bồ đề ở trước chùa Lò Gạch nầy rất to lớn, rễ của cây phủ bao trùm cả một khoảng đất chung quanh gốc cây, tạo thành một bệ đất rất cao và vuông vức, đó là chỗ ngồi và tụ tập rất được nhóm học trò trung học Hà Tiên yêu thích, từ chỗ ngồi trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề, ta có thể ngắm nhìn xuống con đường chạy ngang chùa Lò gạch, đó là một con đường còn tráng đất, chạy từ trước các ao sen của Miếu ông Mạc Cửu cho đến ngang cây bồ đề chùa Lò gạch và tiếp nối qua đến chùa Phù Dung, ngày nay con đường nầy cũng được mang tên là đường Mạc Cửu vì là phần tiếp theo của đường Mạc Cửu từ khúc nhà thương Nguyễn Thần Hiến ngày xưa. Ngồi trên bệ rễ cây của cây bồ đề, ta cũng ngắm nhìn người dân chạy xe đạp qua lại bên dưới con đường và nói chuyện với nhau rất vui. Từ dưới đường nhìn lên cây bồ đề, phía bên trái phần đất do bệ rễ cây tạo nên, hồi lúc đó có một cái miếu nhỏ, bên trong miếu thấy có một pho tượng nhỏ, trên đầu pho tượng có quấn một chiếc khăn đỏ, lúc đó, các bạn học cùng lớp đi chơi trên núi Lăng với mình thường dặn dò là đừng có quấy phá cái miếu nầy, vì đó là ngôi miếu do bà ngoại (hay bà nội) của anh Long lập ra đó, nói anh Long tức là anh « Long bảy búa », nhà anh ở phía dưới xóm Cầu Câu, anh cũng là bậc đàn anh học cùng trường Trung Học Hà Tiên, anh có nghề võ Thiếu Lâm rất cao cường nên ai cũng nể sợ không dám quấy phá ngôi miếu nhỏ đó.

Còn một chuyện nầy nữa chắc các bạn Hà Tiên mình còn nhớ, mình kể luôn ra đây vì chuyện cũng thuộc về phần ký ức nhớ về ngôi chùa Lò gạch, nơi ngày xưa nhóm bạn học sinh của mình lui tới rất thường xuyên. Đó là chuyện về « Cậu Biệt » !!. Bên phía bên kia đường chạy ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch, đối diện với cây bồ đề là một căn nhà, trong căn nhà nầy có một người đàn bà cũng không còn trẻ lắm, khoảng trên dưới 60 tuổi, bà là « xác » của Cậu Biệt, còn Cậu Biệt thì mình cũng không biết rỏ ngọn nguồn, chỉ biết đó là một người con trai chết khi còn rất trẻ, có lẽ tên là Biệt nên người Hà Tiên gọi một cách kính trọng là « Cậu Biệt »…Hồn Cậu Biệt về nhập vào xác người đàn bà ở căn nhà đối diện với cây bồ đề chùa Lò Gạch, người Hà Tiên lúc đó lên nhà của bà xem rất đông, vì Cậu Biệt « về » để nói chuyện tương lai hoặc để trị bệnh cho dân chúng nếu có ai yêu cầu xin hỏi cậu. Lúc đó mình có xem tận mắt, mình cũng nghe cậu « nói chuyện » thông qua người đàn bà đó, đó là chuyện có thật ở Hà Tiên trong những năm 60-70, còn về chuyện hồn người chết nầy về nhập vào xác người còn sống kia thì mình không thể nói là thật hay giả. Mình tin chắc là nếu các bạn cùng một thời với mình đều có nghe qua và biết rỏ chuyện Cậu Biệt nầy.

Ngay tại khu vườn đất nơi có ngôi chùa Lò Gạch và cây bồ đề mà mình vừa kể ở trên, nơi đó là cửa ngõ để lên núi Lăng. Thật vậy mỗi khi nhóm bạn học của mình lên núi Lăng chơi thì đi bằng ngõ nầy, từ chùa Lò Gạch ra mình quẹo qua bên phải và đi thẳng lên núi, trước hết ta gặp ngay ngôi mộ của ông Mạc Tử Hoàng, đi lên một chút nữa thì gặp ngôi mộ của ông Mạc Thiên Tích và đi thêm nữa sẽ gặp ngôi mộ ông Mạc Cửu. Khi đó bắt đầu đi vòng vòng chung quanh những ngôi mộ nầy sẽ có những luống khoai mì, có luôn những gốc cây mít rất to lớn, tất cả những nguồn cây ăn trái và củ nầy là của ông Từ Ngươn trồng và thu hoạch, vậy mà thời đó với cái đầu óc thiếu suy nghĩ và « vô tư » của nhóm học trò mình, chúng mình đã không ngần ngại đi hái trộm nào là mít, nào là bứt các dây củ khoai mì của ông Từ Ngươn để ăn chơi…thật là có tội nhiều quá, nhân đây xin chuộc tội bằng cách viết lại những kỷ niệm vui nầy để các đàn em sau tụi mình đọc, thông cảm, và hiểu để tránh các trò dù có vui thú nhưng cũng không tốt nầy nhé,…!!

Thời gian trôi qua, từ từ mình và các bạn lên các lớp học cao hơn, phải học bài, dò bài nhiều hơn, từ từ cũng bớt rũ nhau đi lên núi Lăng vui chơi…Cây bồ đề vẫn còn đứng vững theo năm tháng, ngôi chùa Lò Gạch với cái tên chánh thức « Tịnh Xá Chí Hòa » vẫn còn đó dù cho quý vị trụ trì đã thay đổi…Có một lúc người ta xây bậc đá khối chung quanh dưới bệ gốc cây, che và chôn dấu đi những thân rễ cây ngoằn nghèo quen thuộc của ngày xưa (trước năm 1992). Kế thân cây người ta cho dựng lên một pho tượng Phật Thích Ca màu trắng, ngay chỗ ngày xưa tụi mình thường ngồi chơi và ăn trái cây hái trộm…, ngôi miếu nhỏ của bà ngoại hay nội của anh Long không còn nữa,…, trên cái bệ rễ cây của cây bồ đề thì chắc bây giờ không ai được phép leo lên ngồi chơi như kiểu ngày xưa thời chúng mình rồi…Phía trước mặt pho tượng Phật Thích Ca, một thời gian sau đó người ta có đặt một cái lư hương lớn, cốt yếu chỉ để trang trí khung cảnh cây bồ đề và Đức Phật. Ngôi chùa Lò Gạch bắt đầu thay đổi hình dạng, ngôi chùa gỗ ngày xưa quen thuộc của nhóm học trò Trung Học Hà Tiên không còn nữa, người ta thay thế vào đó một ngôi chùa gạch, xi măng, sang trang, nhưng cũng không kém phần xa lạ với những người xưa như chúng mình,…Ngôi chánh điện là cái lò gạch may mắn thay vẫn còn đó, người ta không nở phá bỏ cái lò gạch nầy, thay vào đó người ta xây cất lại , mở thêm một cái cửa ra vào phía ngoài, phía trên nóc của cái lò gạch thì người ta cho dựng lên nhiều pho tượng Phật. Hình như cũng còn chưa đủ tính chất phát triển lớn mạnh của khu nầy, người ta cho cất thêm một ngôi chùa lớn chắn ngay tại cửa ngõ lên núi Lăng mà mình đã kể ở trên, sau đó lại cho xây tường rào bao quang toàn bộ khu vực chùa chiền nầy, ngôi chùa Lò Gạch ngày nay đã rất to lớn, quy mô với tường rào, cửa cổng và nhiều pho tường rải rác chung quanh chùa, tất cả tạo thành một khu chùa với tên gọi mới là Chùa Phật Đà, cái bệ gạch với xi măng bao kín khối rễ cây bồ đề thì đã mất đi, nhường chỗ cho các rễ cây hiện rỏ ra như ngày xưa, có lẽ người ta sợ bịt quá kín khối rễ cây nầy bằng xi măng thì cây sẽ chết đi…, vậy cũng tốt.. Mình cũng có dịp may mắn viếng ngôi chùa Phật Đà ngay lúc còn đang được phát triển và xây cất, trên chòm lá to rộng phủ cả một vòm trời của cây bồ đề, người ta cho treo đèn, kết hoa để ban đêm chiếu sáng toàn cả chòm cây, trông rất đẹp mắt, nhưng thử hỏi với nhu cầu tu hành ta có cần những dấu hiệu như vậy hay không, thôi mỗi thế hệ có cái cơ duyên của nó, thế hệ vui chơi vô tưu lự trong không gian tỉnh lặng và đơn giản của tịnh xá Chí Hòa của nhóm học sinh Trung Học Hà Tiên đã qua rồi, hãy nhường lại cho thế hệ hiện tại với cái trang trí mới mẻ và hiện đại của nó…!!

Hình ảnh xưa nhất về chùa Lò Gạch và cây bồ đề, phía bên phải chính là tịnh xá Chí Hòa (Hà Tiên), người trong hình là Trần Hoàng Trang, học sinh Trung Học Hà Tiên. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

Hình ảnh nguyên thủy của chùa Lò Gạch (Tinh xá Chí Hòa, Hà Tiên) bên trái là một phần chùm rễ của cây bồ đề trước chùa, bên phải (không nhìn thấy trong hình) chính là vị trí của lò gạch xưa. Hình: Trần Hoàng Trang, thập niên 70.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Lò Gạch:

Vào năm 1954 hòa thượng Thích Chí Hòa (thế danh Nguyễn Văn Tịnh) ) cho xây dựng một ngôi tịnh xá bằng cây, lá với tên gọi là tịnh xá Chí Hoà. Do chánh điện của tịnh xá tọa lạc trong một lò gạch bỏ hoang nên người dân địa phương còn gọi là chùa Lò Gạch.

Năm 1949, hoà thượng Chí Hoà cùng một số đệ tử sang Campuchia hoằng pháp và năm sau trở về quê hương Việt Nam. Một trong những đệ tử thời đó là sư cô Chí Hảo 8 (thế danh Đường Minh Hòa) trở về chùa cũ, xây dựng một căn nhà gần đó. Đến năm 1954, hòa thượng Chí Hòa viên tịch tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kế thế trụ trì tịnh xá Chí Hoà là hoà thượng Thích Quảng Tấn – không rõ thế danh, gốc gác. Sau khi hoà thượng Quảng Tấn viên tịch, trụ trì chùa là bà Dương Thị Thoàn (pháp danh Diệu Trí). Sau đó nhiều năm vì hế cuộc thăng trầm, chiến tranh loạn lạc, ngôi tịnh xá cổ kính rêu phong chịu đựng với phong sương tuế nguyệt, tình trạng đã hư hao rất nhiều.

Đến năm 1993, Hội Phật giáo tỉnh Kiên Giang đổi tên tịnh xá Chí Hoà thành chùa Phật Đà và đồng thời bổ nhiệm đại đức Thích Huệ Tâm (thế danh Nguyễn Phước Thành) về trụ trì và vào tháng 9 năm 1993, thầy trụ trì chùa cho khởi công xây cất mới lại ngôi chùa đạo tràng, đến năm 2009 thì toàn bộ khu chùa Phật Đà đã hoàn thành với nhiều công trình trang trí gồm nhiều pho tượng, khối đá và tường bao quanh với hai cổng chánh cho đến nay. Thầy Thích Huệ Tâm về vùng đất Hà Tiên này như để phục nghiệp chốn Tổ, tiếp nối truyền thống phổ hệ truyền thừa dòng Lâm Tế Chánh Tông.

Cây bồ đề và tượng Phật Thích Ca trước chùa Lò Gạch cũ, bên trái là một phần lò gạch dùng làm chánh điện ngày xưa, trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: dpa picture alliance 2AK333D (alamystockphoto), khoảng trước năm 2000

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Bên phải hình là cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa (ngôi tịnh xá lúc nầy đã bị phá hủy, bên trái hình là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới cất), trên nóc lò gạch còn lợp bằng một miếng thiếc lớn của ngày xưa. Hình: TVM, 1994

Cây bồ đề với toàn bộ gốc rễ được bao bọc bằng xi măng và đá bao kín. Phía sau là một phần của ngôi chùa Phật Đà mới xây cất. Hình: TVM, năm 1994

Cái lò gạch dùng làm chánh điện của tịnh xá Chí Hòa kể từ năm 1954 cho đến những năm đầu thập niên 90. Bên trong ta còn thấy có bàn thờ Phật và có một vị sư đang ngồi niệm Phật. Lúc nầy mái lò gạch còn lợp bằng một tấm thiếc lớn, ngôi tịnh xá Chí Hòa kề sát với lò gạch thì đã bị phá hủy. Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trinh bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Hình phía trên nóc của chánh điện lò gạch, miếng thiếc lợp nóc lò gạch đã bị tháo ra, chuẩn bị xây nóc và mái mới trên lò gạch nầy để phù hợp với chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bên trong chánh điện (lò gạch) của tịnh xá Chí Hòa ngày xưa, đây là hình ảnh nguyên thủy bên trong chánh điện trước khi đổi mới hoàn toàn theo phong cách trình bày của chùa mới là chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 1999

Bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn học Trung Học Hà Tiên, ngồi bên phải) đang đàm đạo với thầy trụ trì THích Huệ Tâm chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Di ảnh thân mẫu của bạn Nguyễn Đình Nguyên thờ ở tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch xưa) sau đó chuyển qua thờ trong chùa Phật Đà Hà Tiên. Hình: TVM, năm 1999

Con đường nối liền đường Mạc Cửu chạy từ trước đền thờ Mạc Cửu đi ngang cây bồ đề chùa Lò Gạch. Bên trái và dưới hình là đền thờ Mạc Cửu, bên phải và dưới hình là bờ ao sen trên. Đầu con đường phía trên trong hình là đi tới chùa Lò gạch và thẳng góc với con đường mòn nối liền đường Mạc Tử Hoàng. Con đường trong hình nầy giờ cũng mang tên là đường Mạc Cửu. Hình: TVM, năm 1999

Phần bên trái của toàn khu gồm nhiều ngôi chùa nối liền nhau tạo thành chùa Phật Đà (Hà Tiên), hậu thân của chùa Lò Gạch. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Ngày xưa trong thập niên 60-70, đây là cửa ngõ mà nhóm bạn học Trung Học Hà Tiên của mình theo phía nầy để lên núi Lăng. Hình: TVM, năm 1999

Toàn bộ ngôi chùa Phật Đà (Hà Tiên) được xây cất vào ngay khu đất có nhiều cây xanh ngày xưa nơi có chùa Lò Gạch (chùa Lò Gạch xưa tức là tịnh xá Chí Hòa lúc nầy đã bị phá hủy, vị trí ngày xưa là bên phải, phía sau cây bồ đề). Bên phải hình là cây bồ đề với tượng Phật Thích Ca vừa mới đặt thêm trên bệ rễ cây trong những năm đầu thập niên 90. Hình: TVM, năm 1999

Từ phía dưới con đường chạy ngang cây bồ đề nhìn lên khu chùa mới cất (chùa Phật Đà, Hà Tiên). Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh. Hình: TVM, năm 1999

Phía trên cao, trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên) nhìn xuống dưới con đường chạy ngang qua cây bồ đề. Lúc nầy toàn khu chùa Phật Đà chưa có xây tường gạch với cổng lớn chung quanh và bệ gốc rễ cây bồ đề đã được tháo bỏ lớp xi măng và gạch xây bít kín trước đó (khoảng 1992). Hình: TVM, năm 1999

Cây bồ đề trước mặt chùa Phật Đà (Hà Tiên), góc nhìn từ phía chùa ra ngoài đường. Hình: TVM, năm 1999

Khu chùa Lò Gạch xưa (từ năm 1993 đã đổi tên là chùa Phật Đà, Hà Tiên), trước năm 2010 đã bắt đầy xây tường gạch và cổng lớn bao quanh.

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh khu chùa Phật Đà, Hà Tiên (tên xưa là chùa Lò Gạch) sau khi xây xong tường gạch và cổng chung quanh. Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Cây bồ đề và pho tượng Phật Thích Ca cùng với lư hương của khu chùa Phật Đà (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Con đường hiên nay mang tên Mạc Cửu chạy từ trước miếu Mạc Cửu ngang qua cây bồ đề chùa Phật Đà hiện nay (Hà Tiên). Hình: TVM, năm 2012

Toàn cảnh phía bên trong tường gạch chung quanh chùa Phật Đà (Hà Tiên), ta thấy cái lò gạch chánh điện ngày xưa đã được chỉnh trang lại với một lối vào mới và nóc lò gạch được xây gạch hình chỏm cầu, phía trên có an vị nhiều tượng Phật trên nóc. Hình: TVM, năm 2012

Phía trên nóc lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tượng Phật từ năm 2009.

Toàn cảnh lò gạch đã được xây lại dưới dạng hình chỏm cầu và có an vị nhiều tường Phật từ năm 2009.

Tượng Phật mới và trang trí bên trong lò gạch từ năm 2009, phía trên nóc đã xây gạch hình chỏm cầu.

Paris, viết xong ngày 18/01/2020 Trần Văn Mãnh

Tái bút:

1/ Đặc biệt tác giả trân trọng cám ơn em Trần Hoàng Trang, một cựu học sinh Trung Học Hà Tiên trong những năm 70, đã chia sẻ tấm hình về ngôi tịnh xá Chí Hòa (Chùa Lò Gạch ngày xưa) rất hiếm và quý.

2/ Theo tin các bạn người Hà Tiên cho biết về cái nghĩa địa nhỏ bên phải chùa Lò Gạch xưa: Bên phải lò gạch là phần đất chôn người chết …dài qua tới chùa ông Yết Ma, sau này vì nhu cầu cần đất cho người ở nên dần dần người ta cải táng di dời đi nơi khác…Chùa Phật Đà đã mua lại một số đất liền kề về phía chùa Phù Dung để mở rộng khu chùa. Trong phần đất nầy ngày xưa có mồ mả của gia đình bạn Trần Phước An, đó là mồ mả của ông bà Yết Ma, nay đã dời đi hết cả. Phần đất nầy dành cho sự xây dựng Viện Dưỡng Lão, hiện sắp hoàn thành.

Một vài ngôi nhà xưa với kiến trúc đẹp ở Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, Hà Tiên ngày nay đang trên đà phát triển tột độ, Đa số nhà cửa xưa cũng đã được tu bổ, sửa chữa lại, hoặc không còn tồn tại nữa. Vì nhu cầu hoàn thiện, đổi mới nên một số phố xá nhà cửa cũng đã bị phá bỏ và thay vào đó là đường xá, công viên, vườn hoa mới và đẹp. Ngay cả dọc theo bờ sông Giang Thành (ta thường gọi là sông Hà Tiên) cảnh vật cũng không còn như xưa. Mặt sông cũng đã bị đất liền nới chiếm, người ta lấp bờ sông, bồi đất để mở thêm diện tích làm công viên, thậm chí còn tạo thêm một vùng có thêm nhiều con đường mới như khúc chợ mới ở Hà Tiên. Ngày nay con đường ngày xưa ta gọi là « Bến Trần Hầu » không còn là con đường có gió mát thổi và có hàng dừa ngay bến sông…Bên mé sông của con đường nầy đã được dựng lên nhà cửa, phố xá, tiệm buôn, khách sạn che khuất cả mặt tiền nhìn ra hướng sông, muổn ra đứng bờ sông ngắm cảnh trời mây non nước, ta phải đi ra khỏi con đường Trần Hầu về phía bờ sông, vì nơi đây còn thêm một khoảng đất được nới rộng ra, có công viên cây xanh đẹp mắt…

Thêm vào đó chung quanh núi Tô Châu, núi Bình San và núi Phù Dung (Phù Dung là tên chánh thức của ngọn núi mà ngày xưa người Hà Tiên thường gọi tên là Đề Liêm), nhà cửa được xây cất tấp nập, phần cây xanh của những ngọn núi nầy đã bị giảm bớt rất nhiều. Trong phố thị Hà Tiên, chỗ nào còn sân hoặc thửa đất trống cũng đã « được » trưng dụng để xây cất thêm nhà cửa, cao ốc dùng trong việc thiết lập ngân hàng, khách sạn…v…v…Nếu ta có thể đặt hai cái bản đồ có vạch rỏ các vùng nhà cửa, cây xanh, mặt sông ngày xưa và hiện nay nhập vào nhau thì ta sẽ thấy các phần cây xanh, phần mặt sông đã bị xâm chiếm nhiều, diện tích giảm đi rỏ rệt, ngươc lại phần nhà ở, dinh thự thì tăng lên rất nhiều…Ngoài ra nếu ta quan sát hình dạng và cung cách quy mô của những ngôi chùa ở Hà Tiên xưa và nay, ta cũng thấy rỏ sự phát triển, sự « xi măng hóa » rất mạnh mẻ và rỏ rệt của những nơi nầy..Một trường hợp điển hình là trên sườn cây xanh của núi Tô Châu, ngày nay, từ bên phía công viên Hà Tiên nhìn qua bên núi Tiểu Tô Châu, ta sẽ thấy sườn núi có một vết « nhân tạo hóa » rất lớn và rất rỏ, không nói ra bạn đọc cũng hiểu đó là ngay chỗ những tịnh xá Ngọc Đăng và Ngọc Tiên…!! . Về phía chùa Lò Gạch và chùa Phù Dung, Tịnh Xá Ngọc Hồ ngày xưa những ngôi chùa nầy rất kính cẩn, trang nghiêm, đơn giản và rất hài hòa phù hợp với quang cảnh đồi núi, cây xanh chung quanh. Ngày nay, những ngôi chùa nầy đã được xây cất phát triển quá to lớn, lại có cả tường, cổng xây bằng gach chắc chắn chung quanh, ta không còn thấy rỏ nét cổ kính thanh đạm của ngôi chùa ngày xưa mà nhu cầu tu hành kinh kệ không nhất thiết phải có đủ quy mô vật chất như hiện nay… Âu đó cũng là nhu cầu thiết yếu của một khía cạnh khác, của sự kinh tế, hoạt động du lịch cần được phát triển và cải tổ cho phù hợp với làn sóng người đi thăm viếng cảnh đẹp Hà Tiên. Hy vọng rằng Hà Tiên sẽ tiếp tục phát triển và phát triển một cách hợp lý, hài hòa với nhiều khía cạnh khác nhau trong một kết quả tổng hợp được mọi nhu cầu để cái đẹp, cái cổ xưa, nét thanh tao và nhã nhặn của một nền kiến trúc cân bằng được chú ý đến…

Xin giới thiệu với bạn đọc một vài ngôi nhà cổ xưa, với một nét kiến trúc đẹp, có ngôi nhà thì vẫn còn được bảo tồn, có ngôi nhà thì vì nhiều lý do khách và chủ quan, không còn được chăm sóc bảo quản, đó cũng là điều đáng tiếc, vì thế nếu một mai thực tế có biến mất đi, ta chỉ còn lại vài bức hình để nhớ và luyến tiếc….

1/ Ngôi nhà A:

Ngôi nhà A: Đây là một ngôi nhà xưa với lối kiến trúc rất đẹp, mặt tiền nhà được sơn phết lại rất hài hòa. Hình chụp vào năm 2013, do một người du khách tên Adriaan Castermans chụp.

2/ Ngôi nhà B:

Bên phải tấm hình ngôi nhà A trên đây, có một ngôi nhà (tạm gọi là ngôi nhà B) cũng thuộc diện cổ với kiến trúc đẹp, người du khách Adriaan Castermans cũng có chụp một bức hình vào năm 2013 như sau:

Ngôi nhà B: Tọa lạc bên phải ngôi nhà A và cùng trên một con đường. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Trong bức hình nầy, ta thấy rỏ vị trí của hai ngôi nhà A và B (A bên trái và B bên phải), tuy nhiên hai ngôi nhà trong thời điểm nầy rất cũ kỷ, chưa được sơn phết tu chỉnh mặt tiền. Hình: Monique NG, năm 2006

Trong bức hình nầy ta cũng thấy rỏ ngôi nhà A với mặt tiền nhà cũng bắt đầu cũ kỷ, cây xanh trước hiên nhà cũng đã giảm bớt. Hình : Cashonly77, năm 2006

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. Thời gian chụp hình có lẻ sau năm 2000

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái và B bên phải. hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Sonia Maclean, năm 2018

Ngôi nhà B được chụp riêng biệt. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Bức hình cho thấy rỏ vị trí hai ngôi nhà: A bên trái (một phần nhỏ) và B ngay giữa hình, hàng rào và cửa sắt trước ngôi nhà B không còn nữa. Hình: Lương Minh Sang, năm 2019

3/ Ngôi nhà C:

Xin giới thiệu thêm một ngôi nhà nữa, tạm gọi là ngôi nhà C, cũng tọa lạc trên cùng một con đường và cùng một dãy với hai ngôi nhà A và B nói trên. Ngôi nhà C nầy có lối kiến trúc rất đẹp, tuy hiện nay không có người ở nhưng vẫn còn người sở hữu ngôi nhà cổ xưa nầy.

Ngôi nhà C rất xinh đẹp, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Nhuận Khang, năm 2019

Hình ngôi nhà C hiện nay, tuy đã rất hư hao nhiều nhưng không kém phần cổ kính trang nghiêm. Hình: Tuoi Tran, năm 2019

Vị trí và thông tin về ba ngôi nhà A,B và C:

Ba ngôi nhà A,B và C đều tọa lạc trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên, cùng thuộc về một dãy phía bên trái con đường Cầu Câu nếu ta nhìn từ đường Lam Sơn về phía đường Trần Hầu. Ngôi nhà A và B liền nhau, còn ngôi nhà C thì cách hai ngôi nầy vài căn nhà khác. Theo thông tin của các bạn ở Hà Tiên thì ngôi nhà A là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Bà Giáo Lễ. Ngôi nhà B là ngôi nhà xưa, có gốc gác là nhà của Ông Hai Mỹ. Hiện nay đều có người trong các gia đình nầy trú ngụ tại hai ngôi nhà nầy. Còn ngôi nhà C cũng là ngôi nhà rất xưa, có gốc gác là nhà của Bà Xã Huê, tuy không có người chăm sóc hiện nay nhưng vẫn còn sở hữu riêng tư.  Thêm một chi tiết nữa là nếu ta tính liên tục hai ngôi nhà A rồi B thì đến căn nhà của Ông Giáo Ngọt (tức là thầy Hà Văn Thành).

Vị trí ba ngôi nhà cổ xưa kiến trúc đẹp: A, B và C trên con đường Cầu Câu, Hà Tiên nằm trong phần giới hạn giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu.

4/ Ngôi nhà D:

Trên con đuòng Chi Lăng (Hà Tiên) cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà D), thiếu sự chăm sóc, tuy nhiên nhà có lối kiến trúc cũng khá đẹp, nhất là mái hiên mặt tiền nhà. Hiện không biết thông tin về sở hữu và tình trạng người ở trong ngôi nhà nầy.

Ngôi nhà D cổ xưa ở đường Chi Lăng, Hà Tiên. Hình sưu tầm, không rỏ năm.

5/ Ngôi nhà E xưa nhiều kỷ niệm đường Nhật Tảo:

Ở đường Nhật Tảo Hà Tiên, có một ngôi nhà xưa rất đẹp, sạch sẽ và rất khang trang, (tạm gọi là ngôi nhà E), ngôi nhà chứa rất nhiều kỷ niệm đối với riêng mình. Thời xưa những năm 60, trước khi quý thầy dạy Trung Học Hà Tiên đến ở ngôi nhà nầy trong thời gian dạy học ở Hà Tiên thì có các bạn Hồ Văn Quân và hai người em của Quân là Hồ Văn Nhân và Hồ Văn Đạo từ Kiên Lương lên Hà Tiên ở trọ nhà nầy để theo học bậc Tiểu Học Hà Tiên. Vì Quân là bạn học cùng lớp với mình ở Tiểu Học nên thường ngày mình hay đến ngôi nhà nầy chơi với Quân. Sau đó khi lên bậc Trung Học, quý thầy dạy bậc Trung Học ở trọ căn nhà nầy trong thời gian đi dạy ở Hà Tiên. Học trò thường đến căn nhà nầy vào những buổi chiều, tối để sinh hoạt vui chơi với quý thầy, đó là quý thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Huỳnh Văn Hòa, Nguyễn Văn Thành,…v…v…Ngay cả có một đêm mình và anh Trần Văn Dõng ngủ lại trong căn nhà nầy để tiếp tục vui chơi với bạn và thầy, lúc đó có Trần Anh Kiệt, Phan Văn Hữu, Bùi Văn Tư, Tòng….v..v….cùng tham dự.

Ngôi nhà E tọa lạc tại đường Nhật Tảo, Hà Tiên, có nét kiến trúc và mặt tiền rất đẹp, hiện vẫn được tu bổ tốt. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

6/ Ngôi nhà F:

Ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo cũng có một ngôi nhà cổ xưa (tạm gọi là ngôi nhà F), được duy trì rất khang trang, mặt tiền rất đẹp, nhìn ra đường Lam Sơn. Đó là ngôi nhà của gia đình anh Lý Đại Độ, Lý Tuấn Kiệt,…

Ngôi nhà F ở góc đường Lam Sơn – Nhật Tảo, mặt tiền nhìn ra đường Lam Sơn. Kiến trúc rất đẹp, ta thấy một số nhà kể phía trên (A,B,C,….) đều có cách thiết lập mặt tiền gần giống nhau. Hình: Adriaan Castermans, năm 2013

7/ Ngôi nhà G:

Trên con đường Bạch Đằng Hà Tiên cũng có vài ngôi nhà tuy nhỏ, chen lẫn với một hàng dãy nhà liên tục, không có sân rộng như các trường hợp trên, nhưng cũng có mặt tiền trình bày rất đẹp.  Đầu tiên xin giới thiệu ngôi nhà G, bên lề phải đường Bạch Đằng nếu ta tính từ ngả tư đường Chi Lăng-Bạch Đằng nhìn về phía sông Hà Tiên. Đó là ngôi nhà ngày xưa thầy La Từ Sự sinh sống ở đó, phía trước nhà ngày xưa có đặt nhiều chậu hoa, cây xanh tạo thành một mặt tiền nhà rất hài hòa và đẹp. Hiện nay, không hiểu vì lý do gì các cửa sổ và cửa chánh của ngôi nhà đã bị xây bít lại, có thể là nhà bỏ trống, không người ở.

Ngôi nhà G, trên đường Bạch Đằng Hà Tiên, tuy nhỏ nhưng mặt tiền trình bày các vòng cung rất đẹp. Hình: HuynhNT, không rỏ năm.

8/ Ngôi nhà H:

Cũng trên con đường Bạch Đằng, Hà Tiên, khoảng giữa hai con đường Lam Sơn và Trần Hầu, bên lề phải của đường Bạch Đằng nếu ta nhìn từ đường Trần Hầu trở lên về phía đường Lam Sơn, ta sẽ thấy có một ngôi nhà gồm hai căn liền nhau và mặt tiền có lối kiến trúc trình bày y hệt nhau (tạm gọi là ngôi nhà H). Căn nhà bên trái ngày xưa chính là quán cafe Quảng Phát mà cả quảng đời ngày xưa mình thường xuyên lui tới uống cafe với các bạn. Trong những năm 60-70, đây là tiệm cafe có luôn cả thức ăn điểm tâm mà người dân Hà Tiên rất ưu chuộng, có cả giới chánh quyền, nhân viên hành chánh, sĩ quan, học sinh lui tới mỗi ngày để ăn uống và trò chuyện rất đông đúc. Còn căn nhà bên phải thuộc về một gia đình người Hoa, nhà thường đóng cửa luôn…Không có thông tin về tình trạng sở hữu và người ở trong hai căn nhà nầy hiện nay.

Con đường ở giữa hình theo chiều đứng là con đường Lam Sơn, Hà Tiên. Theo chiều ngang trong hình ta có con đường Bạch Đằng chạy ngang thẳng góc với đường Lam Sơn và theo chiều dãy nhà ngang trong hình. Phía trên bên phải chính là ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Hình: HungCuongPC, khoảng năm 1996-1998

Ngôi nhà H gồm hai căn có mặt tiền sơn trắng với những khung cửa hình vòng cung và phía trên cao có trang trí rất đẹp. Từ phía dưới đường Trần Hầu (con đường nằm ngang phía cạnh dưới hình) ta nhìn lên dọc theo đường Bạch Đằng thì ngôi nhà hai căn nầy nằm bên phải ở giữa hình. Hình: TVM, năm 2012

Tuy nhiên theo bức hình nầy, ta thấy ngôi nhà H gồm hai căn đã có thay đổi: mặt tiền căn nhà bên trái đã được sơn màu xanh dương và phần trang trí phía trên cao đã biến mất. Căn nhà bên phải vẫn còn giữ theo xưa. Hình nầy chụp khoảng sau năm 2012, nguồn HuynhNT

Vị trí ngôi nhà G ngày xưa thầy La Từ Sự ở và ngôi nhà H gồm hai căn trong đó căn bên trái là tiệm cafe Quảng Phát ngày xưa trên đường Bạch Đằng.

Tái bút:

1/ Bạn đọc có thể xem thêm bài và hình dưới đây để biết thêm một vài căn nhà xinh đẹp của Hà Tiên ngày xưa.

https://trunghochatienxua.wordpress.com/2015/10/18/nhung-ngoi-nha-va-ngoi-truong-ngay-nay/

2/ Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị và tất cả các bạn gốc Hà Tiên đã tham gia ủng hộ, góp ý, trao đổi thông tin, hình ảnh và trả lời thắc mắc của mình để bài viết nầy được thêm phần chính xác và phong phú.

Trần Văn Mãnh Paris 04/01/2020

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Phước Thiện Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên có một ngôi chùa tuy không lớn lắm nhưng là nơi xuất phát rất nhiều kỷ niệm xưa đối với người dân Hà Tiên, nhất là những người cư ngụ chung quanh chợ Hà Tiên, đó là ngôi chùa có cái tên quen thuộc là chùa Phước Thiện. Thật vậy đúng như tên của ngôi chùa, chùa Phước Thiện là nơi quý thầy chuẩn bệnh, phát thuốc cho người dân Hà Tiên, mỗi khi có người đến xin được trị bệnh. Quý thầy ở chùa Phước Thiện thực hành chuẩn trị bệnh theo các phương thuốc Nam, một ngành y học cổ truyền của dân tộc Việt Nam.  Nhà mình biết nhiều về ngôi chùa nầy, vì chùa tọa lạc ở góc đường Bạch Đằng-Chi Lăng (đó là vị trí chánh thức của ngôi chùa, vì tiền thân của ngôi chùa vốn ở một nơi khác cũng trong khu phố Hà Tiên, sẽ nói thêm trong phần sau). Lúc mình còn nhỏ, tuy nhiên cũng khoảng trên dưới 12 hoặc 13 tuổi, lúc ngôi chùa vừa được xây cất xong, mấy anh em nhà mình thường hay lên chùa xem bác Tư Đài (họa sĩ Phụng Đài, ngày xưa nhà ở đường Đống Đa, thân phụ của bạn Trần Văn Mạnh, học chung bậc Tiểu Học với mình) vẽ hình một chậu hoa sen thật to rất đẹp ngay trước vách tường chánh của ngôi chùa, hình ảnh chậu hoa sen nầy là biểu tượng của môn phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội mà chùa Phước Thiện thuộc về môn phái nầy. 

Mỗi một dịp được nghỉ hè khoảng ba tháng, ông bà ngoại mình thường kêu mấy anh em mình lên chùa Phước Thiện (vì chùa rất gần nhà mình) làm công quả. Những việc phải làm giúp cho chùa với tên gọi là làm công quả tức là chặt thuốc, phơi thuốc..v..v….Vì chùa Phước Thiện chính là trụ sở của Hội Quán do quý thầy tu, cư sĩ, y sĩ chuẩn bệnh, phát thuốc cho dân, nên thường ngày nhà chùa phải sản xuất ra các phương vị thuốc Nam. Không biết cây, lá có vị thuốc quý thầy kiếm ở đâu ra, nhưng mỗi ngày mấy anh em mình lên chùa và mỗi đứa ngồi một chỗ, có một miếng thớt bằng cây rắn chắc, dùng một cây dao cũng khá lớn và cứ chặt những nhánh cây có vị thuốc ra thành từng khoanh nhỏ để khi nấu thuốc dễ trích ra các chất thuốc chứa trong nhánh cây đó, mỗi khoanh chỉ mỏng chừng một phân thôi, và phải chặt cho đều, khéo tay theo kiểu thành một khoanh nhỏ và theo chiều xéo chứ không chặt thẳng góc với chiều dài của nhánh cây. Mỗi ngày cứ lên chùa, ngồi xếp bằng, cứ chặt các nhánh cây thuốc thành từng khoanh nhỏ như vậy, sau đó, giúp quý ni cô và quý thầy trải các khoanh cây thuốc chặt nhỏ như vậy ra trong các sàng, nia, nong (tức là các thứ rổ lớn đan bằng tre) để đem phơi cho thật khô ngoài sân chùa. Khi thuốc được phơi thật khô, đúng ngày, thì giúp quý ni cô, quý thầy, phân chia thuốc vào các hộc tủ nhỏ trong phòng lớn sau chánh điện, nơi quý thầy chuẩn bệnh và phát thuốc. Mỗi hộc tủ nhỏ chứa thuốc đều có giấy nhãn ghi tên thuốc rất rỏ ràng, có tên cây thuốc thì rất bình dân như: Cà gai leo, cỏ hôi, chó đẻ,…v..v.., có tên thì theo chữ Hán Việt như; Đình lăng, đan sâm, mã đề, địa liền, trần bì…v..v…Mình cũng muốn học thuộc tên các cây thuốc đó nhưng rất khó nhớ…Khi quý thầy chuẩn bệnh và sau đó bốc thuốc thì quý thầy theo một toa thuốc vừa viết ra trên giấy, và trải một tờ giấy rất lớn trên bàn, sau đó thầy cứ theo tên các vị thuốc đó đi đến mỗi hộc tủ và bốc ra các vị thuốc đặt trên tờ giấy, sau đó thầy gói tờ giấy lại rất khéo thành một gói thuốc dạng vuông vức, thường thì thuốc Nam phải uống nhiều lần mới có công hiệu nên quý thầy cho một lần hai gói thuốc, gọi là hai thang thuốc, dùng dây cột hai thang thuốc lại và người bệnh xách hai gói thuốc đó về nhà, phải mua thêm một cái siêu đất (vì siêu phải bằng đất mới tốt và hợp với thuốc), bỏ thuốc vào siêu và cho nước vào rồi nấu cho sôi để trích ra các vị thuốc chứa trong cây thuốc, sau đó chờ hơi còn ấm thì uống thuốc, thuốc Nam cũng rất đắng phải chịu khó uống…, mình cũng có từng uống qua các thang thuốc Nam rồi, đắng lắm, phải uống từng ngụm nhỏ thôi từ từ mới uống hết chén thuốc…Nhiều khi rảnh rổi, có một thầy cư sĩ còn rất trẻ, khoảng trên dưới 25 tuổi thôi, thầy thường hay trò chuyện với mình, mình còn nhớ có lúc thầy hỏi học lớp Nhất ở trường Tiểu Học với thầy nào, mình còn nhớ và trả lời là học với thầy Nguyễn Văn Pho, sau khi nghe câu trả lời, thầy cư sĩ đó nói « Còn tui là ông Phò anh của ông Pho đó!! », lúc đó vì còn nhỏ tuổi mình cũng bán tín bán nghi, không biết nhận ra đó là câu nói đùa cho vui mà thôi…

Còn một kỷ niệm khác rất vui nữa, mình còn nhớ rất rỏ, thời gian đó trong chùa cũng có một ni cô, ni cô cũng tương đối còn trẻ tuổi, chắc khoảng trong tuổi 20, 30 thôi, ni cô có nhờ mấy anh em mình chép lại nguyên một cuốn sách dùm cho ni cô, tức là mình làm vai trò như một cái máy « photocopie » vậy, vì thời đó chưa có máy chụp hình giấy tờ như loại « photocopie »…(Thời đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên người ta muốn xuất bản tập san tin tức hay văn nghệ cũng chỉ dùng phương pháp quay « ronéo » để có được nhiều bản chứ cũng chưa có máy làm « photocopie » như sau nầy). Bây giờ kể tiếp việc chép nguyên bản cuốn sách cho ni cô ở chùa, cuốn sách nầy là cuốn viết về các mẫu làm đơn, mẫu viết thư dùng cho mọi người, nhất là học sinh, sinh viên hay người ngoài đời sống xã hội. Thật vậy, cuốn sách có khá nhiều trang, mình không nhớ là bao nhiêu trang, nhưng có đủ các chương; mẫu đơn xin việc làm, mẫu viết thư chúc mừng bạn bè, xin vay nợ hay xin hoản nợ..v..v…Mình và anh Trần Văn Dõng nhận việc làm nầy giúp cho ni cô có được một cuốn sách giống như vậy nhưng dưới hình thức chép tay lại, có lẽ ni cô mượn cuốn sách nầy của ai đó và muốn có một bản giống y như vậy để dùng trong việc viết thư từ…Mỗi ngày ở nhà, anh em mình lên cái gác trên lầu, chỗ có đặt bàn học hằng ngày, cứ chép mỗi ngày vài tờ trong cuốn sách đó, được ba bốn ngày, lại phát hiện trong cuốn sách tới chương « Mẫu viết thư tình »…!! Mình thấy hơi lạ vì không biết có hợp với việc dùng sách của ni cô không, mình đem việc nầy nói lại trong nhà và hỏi ý kiến, trong nhà mình có người chị bạn dì tên là chế Thìn (tên chữ là Lê Thị Phượng), chế nói thôi đi, ni cô thì chắc không cần các mẫu thư tình gì đâu, vậy khỏi chép chương nầy đâu…Nhờ vậy mình cũng bỏ hết một chương dài có các mẫu thư tình nầy, nên cuối cùng cũng hoàn thành việc công quả cho ni cô là đã chép xong lại cuốn sách cần dùng cho ni cô (chỉ thiếu chương về mẫu các thư tình, phải biết sau nầy có cần dùng các mẫu nầy cho việc riêng của mình thì mình đã chép riêng lại phần nầy để dành rồi,…!!). Đó là một kỷ niệm thật vui trong thời gian anh em mình làm công quả trên chùa Phước Thiện. Thời gian trôi qua, không còn nhớ anh em mình làm công quả cho đến bao nhiêu lần nghỉ hè, nhưng một thời gian sau thì cũng thôi, không còn lên chùa làm công quả nữa, tuy nhiên ngôi chùa Phước Thiện ở Hà Tiên đã gây cho mình rất nhiều ấn tượng tốt đẹp, ngay lúc còn nhỏ đã được tiếp xúc với quý thầy, cô, cư sĩ, y sĩ trong ngành thuốc Nam và đã đươc thấm nhuần trong cái không khí từ bi, yên tỉnh của nhà chùa.  Từ đó về sau, mỗi lần đạp xe đạp trên đường Bạch Đằng chạy ngang chùa Phước Thiện mình thường hay nhìn vào chùa và cảm thấy rất thích thú vì đã làm được nhiều việc có ích lợi cho nhà chùa, giúp mình tránh được việc đi la cà ngoài chợ hay đi phá người ta…Đó là thời còn nhỏ, sau nầy khi lên bậc Trung Học, mình lại thường theo các bạn đi chơi nhiều hơn, thường là đi chơi văn nghệ, tụ tập dợt hát, dợt đàn, và đi dạo vòng quanh Đài Kỷ Niệm mỗi buổi chiều tối..

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phước Thiện:

Theo thông tin của Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam, tiền thân của ngôi chùa Phước Thiện là một ngôi am nhỏ, do cư sĩ Lê Văn Y lập nên vào năm 1951, trên mảnh đất do một Phật tử địa phương cho mượn, theo trí nhớ của anh Trần Văn Dõng thì cái Am nầy tọa lạc trên đường Đống Đa, khoảng khúc ngả tư đường Mạc Cửu và Đống Đa trở lên phía trường Tiểu Học Hà Tiên. Cái Am nhỏ nầy vừa là nơi tu hành, vừa là phòng hốt thuốc Nam từ thiện. Đến năm 1961, được ông Phán Lịch hiến cúng một khu đất rộng ngay tại góc ngả tư đường Bạch Đăng – Chi Lăng, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây một nhà thuốc Nam từ thiện bằng cây lá lấy tên là “Dân Lập Công Chợ”. Năm 1966, sau khi gia nhập hệ phái Tịnh Độ Cư sĩ, cư sĩ Lê Văn Y đã cho xây dựng lại nhà “Dân Lập Công Chợ” thành Tịnh Độ Hưng Phương tự. Từ đó, chùa Phước Thiện có tên chánh thức là Hưng Phương Tự và thuộc môn phái Tịnh Độ Cư sĩ chủ trương “Phước Huệ Song Tu” vừa thờ Phật vừa hốt thuốc Nam từ thiện cho dân nghèo địa phương.

Chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự tại góc đường Bạch Đăng-Chi Lăng, Hà Tiên. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt nam, 2008

Vị trí chùa Phước Thiên – Hưng Phương Tự tại khu phố Hà Tiên. Theo cái nhìn ngày xưa ta có các vị trí chung quanh chùa như sau: 1= Chùa Phước Thiện; 2= Nhà của Bác Sửu thân phụ của anh Lâm Văn Có, Lâm Mỹ Nhung; 3= Nhà của ông Ký Tí (ông Ký Cụi), ông ngoại của Phạm Thị Kim Loan; 4= Nhà của má Hai mình tức nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn (chị em bạn dì với mình); 5= Nhà của người đẹp Phan Kiều Dũng; 6= Nhà của thầy Hứa Văn Vàng; 7= Nhà của bạn học cùng lớp mình, Hà Mỹ Oanh; 8= Nhà và quán cafe nhạc Ti La của thầy cô Trương Minh Đạt. Bên góc đường Chi Lăng-Tô Châu, ngày xưa còn có một bên là cái giếng nước và một bên là cây me rất to lớn.

Khi bên ngoài ta đi vào chùa bằng cổng chánh thì có một hành lang rất dài cho đến phía sau chùa, thường dùng để phơi các sàng thuốc. Bên ngoài nhìn vào chùa thì phía trái hành lang là chánh điện, sau chánh điện là phòng khám, chuẩn bệnh và phát thuốc, có một cửa hông để đi vào, bên phải hành lang, đối diện với cửa phòng phát thuốc là một gian nhà rộng lớn, dùng để sản xuất thuốc, tức là nơi các đệ tử, quý thầy cô ngồi chặt thuốc.

Năm 1991, cư sĩ Lê Văn Y qua đời. Kế tục trụ trì chùa là cư sĩ Lê Thị Lình. Trong thời gian trụ trì chùa, với công đức của Phật tử địa phương và nguồn tự lực của chùa, cư sĩ Lê Thị Lình đã cho trùng tu nhiều công trình Phật sự trong chùa như xây hàng rào khuôn viên (1993), chánh điện (1996), phòng thuốc nam (1997), nhà hậu Tổ (1999) và nhà trù (2001). Năm 2000, cư sĩ Lê Thị Lình tạ thế. Quản lý chùa hiện nay là cư sĩ Phạm Thị Hiền (pháp danh Diệu Hòa).

Toàn diện ngôi chùa Phước Thiện – Hưng Phương Tự Hà Tiên sau nhiều công trình trùng tu. Hình: Nguyễn Hữu Tâm, 2017

C/ Vài nét về hệ phái Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam:

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi được thành lập vào năm 1934 do Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng 1886 – 1958), người gốc Sa Đéc làm bậc lãnh đạo tối cao và Hội quán trung ương gọi là chùa Tân Hưng Long Tự được xây dựng vào năm 1935 tại Phú Định, Chợ Lớn, đến năm 1953 thì hệ phái được công nhận với tên gọi đầy đủ 8 chữ là: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam. Tôn chỉ hành đạo của Phật Hội là « Phước Huệ song tu, lấy Pháp môn niệm Phật làm căn bản, dùng y đạo làm phương pháp phát triển hội quán ». Vì thế mỗi cơ sở thờ tự được gọi là một Hội quán, mỗi Hội quán đều có phòng thuốc Nam phước thiện, đó là nguồn gốc của tên gọi « Chùa Phước Thiện » mà dân chúng thường đặt cho Hội quán, ngoài ra mỗi Hội quán đều có một tên riêng bắt đầu bằng chữ « Hưng » và kết thúc bằng chữ « Tự ». Chùa Phước Thiện Hà Tiên của chúng ta tên là Hưng Phương Tự », Tổ Đình ngày nay tại Quận 6 thành phố HCM có tên là Hưng Minh Tự, các Hội quán ở các tỉnh có tên như:  Hưng Phước Tự – Long Xuyên, Hưng An Tự – Rạch Giá, Hưng Giác Tự – Vĩnh Long…v…v…

Hình Đức Tông Sư Minh Trí (Nguyễn Văn Bồng) chụp trước bức tranh chậu hoa sen điển hình thường được vẽ ở trước mặt chùa Phước Thiện. Hình: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam.

Hiện nay, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam có 206 hội quán cũng là 206 phòng thuốc Nam phước thiện ở 21 tỉnh, thành phố; gần 1,5 triệu tín đồ, 4.800 chức sắc, chức việc, 350.000 hội viên; gần 900 lương y, huấn viên y khoa, y sĩ, y sinh; trên 3.000 người làm công việc chế biến thuốc.

Sau đây là một vài hình ảnh do trang face Book của « Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam » chia sẻ cho mình, xin trân trọng cám ơn.

Hình ảnh ngôi chùa Phước Thiện-Hưng Phương Tự (Hà Tiên) và quý vị cư sĩ, đạo hữu chụp vào năm 2018. Hình: do trang fb Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam chía sẻ.

Tài liệu tham khảo: Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hôi Việt Nam

  Viết xong ngày 25/12/2019 Paris, Trần Văn Mãnh

 

Chùa Quảng Tế Phật Đường (Hà Tiên)

A/ Ký ức về chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên:

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu trong Blog về mục « Hà Tiên phố xưa » đã có bài về ngôi chùa xưa « Sắc Tứ Tam Bảo Tự » mà không viết về ngôi chùa « Quảng Tế Phật Đường » là một thiếu sót lớn. Thật vậy ngoài vị trí rất quan trọng và chủ yếu của ngôi chùa Tam Bảo đối với Hà Tiên chúng ta, ngôi chùa Phật Đường cũng không kém phần quan trọng. Nếu tính theo nguồn gốc và thời gian xây cất thì ta có thể xếp ngôi chùa Phật Đường vào thứ bậc một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất của Hà Tiên chúng ta. Theo thứ tự thời gian, ta có thể xem thang bậc xuất hiện những ngôi chùa hay ngôi đình miếu ở Hà Tiên như sau:

Chùa Tam Bảo: khoảng thời gian 1708-1718
Đình Thần Thành Hoàng Mỹ Đức: 1820
Chùa Phù Dung (núi Bình San): 1845
Đền Thờ Mạc Cửu (núi Bình San): 1846
Chùa Quảng Tế Phật Đường: 1863
Chùa Bà Mã Châu: 1869
Chùa Phật Đà (chùa Lò gạch): 1945

Ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường chiếm một vai trò tinh thần và tôn giáo rất to lớn đối với những gia đình theo đạo Phật ở Hà Tiên, nhất là đối với những gia đình người gốc Hoa. Thật vậy, đối với gia đình của mình ở Hà Tiên, chính ngôi chùa Phật Đường là nơi gặp gở của ông và bà ngoại của mình ngày xưa. Bà ngoại của mình vốn là một trong những chị em dòng dỏi người tu ở Nhà Bàng, Châu Đốc, khi bà ngoại mình vào Hà Tiên đi hành hương ở chùa Phật Đường thì gặp ông ngoại mình ở nơi đây và sau đó hai người kết hợp với nhau. Mỗi năm cứ sau ba ngày Tết Nguyên Đán thì bà ngoại bắt đầu một chuyến đi cúng chùa, ngôi chùa đầu tiên chính là chùa Phật Đường. Đó là vào ngày mùng 9 tháng giêng âm lịch, đúng là ngày cúng sao mỗi năm cả nhà chuẩn bị đi chùa Phật Đường để cúng sao. Đầu tiên là phải ghi rỏ tên họ tất cả mọi người trong nhà không phân biệt lớn nhỏ gởi cho quý vị trụ trì trong chùa và kèm theo tiền cúng chùa. Mình còn nhớ thời gian đó có ông Sáu ở chùa thường hay chạy chiếc xe đạp « đòn dong » ra chợ và ghé nhà mình để nhận giấy viết tên họ cúng sao và tiền cúng chùa, ngoài ra ông cũng thường ghé nhà mình thăm ông bà ngoại. Đến ngày cúng sao, bà ngoại dẫn ba anh em mình đi chùa, vào buổi tối…Khi vào chùa, bà ngoại thường kêu ba đứa cháu đến chào một hai bà cụ rất cao tuổi, đều là người quen biết với bà ngoại mình, cả ba anh em mình đến ngay tại căn phòng của quý cụ bà nầy, khoanh tay chào rất kính cẩn, quý bà cụ rất vui vẻ, hỏi thăm việc học hành và thường hay xoa đầu anh em mình…mà lúc đó mình lại cũng hay sợ quý bà cụ nầy, có lẻ vì thấy quý cụ bà rất cao tuổi…(lúc đó mình còn nhớ là có cô Tư Thọ, quen rất nhiều với bà ngoại mình, cô Tư thường hay kêu đem chè khi cúng xong cho mấy anh em mình ăn…)

Rồi đến lúc vào xếp hàng quỳ ở chánh điện để làm lễ cúng Phật và nghe thầy đọc tên mọi người trong gia đình. Mình vẫn còn nhớ là lần nào cũng nghe rỏ tiếng thầy đọc tên ông, bà ngoại, vú và tên các anh em mình. Sau thời gian cúng và đọc tên mọi người, đến lúc bà ngoại thả cho mấy anh em mình đi quanh quẩn dạo chơi trong và ngoài sân chùa. Bên ngoài sân chùa chung quanh đều có sân trồng cây cảnh, cây xanh rất xinh đẹp, hồi trước người dân thường đi vào chùa bằng lối đi phía bên hông chùa, cạnh đường Mạc Thiên Tích vì gần cổng chánh phía trước thường có bụi cây cỏ rậm rạp nên ít người dùng lối nầy để vào chùa. Gần cổng chánh phía trước chùa có một miệng giếng tròn to, thành giếng cẩn đá hộc, anh em mình hay đứng đó nhìn vào giếng..Đêm tối trong sân chùa có ánh đèn điện chiếu sáng, ánh sáng xuyên qua các cành lá tạo ra một khung cảnh rất thanh tịnh và cũng không kém phần huyền bí, không gian im lặng và có chen lẫn tiếng dế kêu nho nhỏ……Vì lúc đó mình vẫn còn rất nhỏ tuổi, ở tuổi trẻ thơ, nên nhìn thấy sân chùa có vẻ rất huyền bí và rất rộng…Mấy anh em chạy chậm chậm chung quanh ngôi chùa, mình còn nhớ lần nào cũng gặp một cô bạn tuy không học cùng lớp nhưng cùng trường Trung Học Hà Tiên, đó là bạn Phan Kim Chi, cháu của Ông Ký Phan Kim Tố (có một thời gian ông chính là một nghị sĩ Quốc Hội của nền Đệ Nhất Cộng Hòa nước Việt Nam 1955-1963). Vì đều là trẻ con nên khi chạy quanh chùa và nhiều lần đụng mặt nhau,  mình và Kim Chi cũng chỉ cười bẻn lẻn, không ai dám nói chuyện với ai cả, rất ngượng ngùng mắc cở, không ai nói chuyện gì với nhau cả tuy đã quen biết nhau. Kim Chi cũng có một người em trai tên là Phan Kim Quang, sau nầy mình cũng có nhiều dịp đi chơi chung với Quang, vì Quang học cùng lớp với các bạn cùng đi chơi với mình như Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh…Nhà của hai chị em Phan Kim Chi và Phan Kim Quang ở phía dưới Cầu Câu, đường Nguyễn Thần Hiến, mình cũng thường đi chơi lúc đạp xe đạp hoặc thả bộ đi trên con đường đó mỗi buổi chiều, lần nào đi ngang cũng ghé mắt nhìn xem có ai trong nhà không …!! Mãi sau nầy đến khi quen biết kết bạn bè trên mạng face book, mình quen được với cô bạn tên Therese Tran (tên Việt là Trần Thị Nhung) mình mới hiểu rỏ nhiều hơn về gia đình và gốc gác của Kim Chi và Kim Quang, rốt cuộc hai bạn đều là cháu ruột của cô Chín Phan Thị Triệu, ngày xưa cô Chín Triệu có thời gian làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên và cũng có lúc cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, Kim Chi và Kim Quang đều là anh chị em vai cô cậu với Therese Tran.

Bên trong chùa Phật Đường, phía sau chánh điện là một căn phòng rộng lớn, mình còn nhớ rất rỏ là ngay sau vách tường của chánh điện, mặt trước là bàn thờ Phật, và mặt sau vách tường nầy trong căn phòng giữa phía trên cao có treo một bức tranh vẻ một cảnh xưa của nước Pháp, loại tranh to lớn và hình thức như những bức tranh của Viện Bảo Tàng nước Pháp. Phía bên trái có một cái bàn mà ngày xưa đó là nơi bàn học của một người bạn tên Ngọc, ở Rạch Giá sang theo học ở Trung Học Hà Tiên (Ngọc học cùng lớp với anh Trần Văn Dõng, người rất đẹp trai và rất có dáng thư sinh). Vì chùa Phật Đường ngày xưa cũng rất hay giúp học sinh nghèo nên chùa có chấp nhận cho một vài học sinh trú ngụ trong thời gian theo học ở Hà Tiên.  Mình còn nhớ, ngoài bạn Ngọc ra, còn có một người bạn khác cũng theo ở trọ trong chùa để theo học ở Trung Học Hà Tiên, người nầy là bạn của Trần Tiên, có lúc Trần Tiên dẫn mình vào chùa Phật Đường để thăm người bạn nầy, rất tiếc là mình không còn nhớ tên của người bạn nầy, lúc đó người bạn nầy còn lén mấy vị trụ trì trong chùa, mua một chai rượu trắng nhỏ và rũ mình và Trần Tiên uống rượu…

Trở lại buổi tối cúng sao ở chùa Phật Đường, sau khi cúng Phật, đọc tên cầu an, mọi người giúp ban quản trị của chùa dọn các món cúng trên các bàn thờ, cúng sao thì chùa có nấu chè và xôi để dâng cúng Phật, có rất nhiều cô bác quen biết chung quanh chợ Hà Tiên lên chùa trong buổi cúng sao nầy nên mình cũng gặp rất nhiều vị, trong đó có má của người bạn tên Sện (tên chánh là Tường, con của ông bà chủ tiệm Trồng Răng Phục Hưng ở đường Tham Tướng Sanh, Hà Tiên), Đến lúc nầy thì mấy nhóc trẻ con bắt đầu nhốn nháo phía sau hậu liêu của chùa vì đã đến lúc được ông bà, cha mẹ cho phép ăn chè,…Ba anh em của mình cũng được phân phát cho mỗi đứa một chén chè, có xôi trộn vào, ăn rất ngon,…có lẻ đó là động cơ chánh trong những lý do phải theo bà ngoại đi chùa ngày cúng sao…

Bây giờ mình nói đến vị trí của ngôi chùa Phật Đường nầy. Ngôi chùa Phật Đường nằm trong khuôn viên của một tứ giác do bốn con đường thành lập. Phía trước mặt chánh của chùa là đường Chi Lăng, bên phải ngôi chùa (nếu đứng trước mặt chùa ở đường Chi Lăng nhìn vào) là đường Mạc Thiên Tích, sau lưng ngôi chùa cách một khoảng đất rộng là đường Mạc Cửu và bên trái ngôi chùa phía xa ra là một con đường nhỏ không tên…Ngoài cửa chánh để vào chùa trên con đường Chi Lăng, bên đường Mạc Thiên Tích cũng có một cửa phụ để vào ngay phía nhà hậu liêu của ngôi chùa, ngày xưa khi mình có dịp đi chùa Phật Đường, mình thường vào chùa bằng cửa nầy. Trong khu vực tứ giác nói trên, trên đường Mạc Thiên Tích, phía sau chùa Phật Đường là Miếu Quan Thánh (người Hà Tiên thường gọi là chùa Năm Ông). Ở ngay góc nhọn nơi giao nhau của hai con đường Mạc Thiên Tích và Mạc Cửu ngày xưa là Nhà Đèn, nơi có những máy đèn cung cấp nguồn điện cho toàn khu vực Hà Tiên, ngày nay chính là trụ sở của Công Ty Điện lực Kiên Giang – Điện lực Hà Tiên.  Ngay gần phía sau chùa Phật Đường, hơi lùi vào bên trong, có một miếng đất rộng, nơi có một căn nhà ngói rất to lớn, đó là ngôi nhà của gia đình chị Mỹ Dung, chị có người chị bán bánh xôi vị rất ngon  trong nhà lồng chợ cũ Hà Tiên ngày xưa, chị Mỹ Dung học trường Trung Học Hà Tiên trước mình rất nhiều lớp, chị rất hiền, nhu mì, nói năng nhỏ nhẹ và cũng là một cô gái rất đẹp.

Cổng chánh chùa Quảng Tế Phật Đường ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Hình TVM 2012

Sơ đồ chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên: 1= Chùa Phật Đường, 2= Quan Thánh Miếu, 3= Công ty Điện lực Kiên Giang-Điện lực Hà Tiên, 4= Ngôi nhà ngói lớn của gia đình chị Mỹ Dung.

B/ Quá trình thành lập và trị sự ngôi chùa Phật Đường:

Góc nhìn khác của ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, 2018

Ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên được thành lập vào năm Quý Hợi 1863 và thuộc hệ phái Minh Sư Đạo (tên đầy đủ là Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo). Môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo có nguồn gốc Phật Giáo Thiền Tông bên Trung Quốc từ đời Tổ Sư thứ sáu Huệ Năng (638-713).Sau rất nhiều thế kỷ thăng trầm, lúc bị đàn áp, lúc hưng thịnh, cho đến cuối thế kỷ thứ 19, được sự phân công của vị truyền thừa thứ 16, ngài Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879) sang Việt Nam truyền đạo vào lúc đời Tự Đức thứ 16. Đầu tiên ngài lập ra một ngôi chùa lấy tên Chiếu Minh Phật Đường tại địa điểm Cầu Kho (Chợ Lớn). Sau đó khi ngài sang Thái Lan khai đạo, trên đường trở lại Việt Nam, vì có trở ngại thời Pháp chiếm ba tỉnh miền đông, ngài ghé lại Hà Tiên và thành lập một ngôi chùa thứ hai của hệ phái Phật Đường, đặt tên ngôi chùa là Quảng Tế Phật Đường, đó là ngôi chùa Phật Đường hiện nay ở đường Chi Lăng Hà Tiên. Điều nầy đủ chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị lịch sử của ngôi chùa Phật Đường ở Hà Tiên, vì đó là ngôi chùa đầu tiên thứ hai (sau chùa Chiếu Minh Phật Đường ở Chợ Lớn) của môn phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo trên đất nước Việt Nam. Lúc nầy ngôi chùa chỉ lợp lá đơn sơ và được sự đóng góp, giúp đở nhân lực, tài chánh của những người Minh Hương và các vị thân hào nhân sĩ kỳ cựu ở Hà Tiên. Từ đó quý nhân sĩ, trí thức Hà Tiên tìm đến quy y cầu đạo, số tín đồ ngày càng phát triển, việc truyền giáo gặp thuận lợi và cảnh chùa ngày càng thêm sung túc.

Đến năm 1937 tu sĩ Trần Văn Tiền, pháp danh Xuân Hòa với chức vụ Giáo phẩm Thiên Ân được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Công lao của ngài là đã chỉnh trang lại ngôi Phật Đường bằng gạch ngói kiên cố, tổ chức ban quản trị trụ trì việc hành chánh trong chùa và lại tạo bộ phận làm kinh tế gây quỹ cho chùa bằng việc làm tương chao, nấu đậu hủ, nuôi dấm, trong công việc kinh tế nầy có rất người người địa phương giúp đở và công quả cho chùa. Thời gian nầy còn có tu sĩ Nguyễn Thị Thu (Mỹ Hương), cô Bảy, cô Tám cùng hành đạo ở chùa. Ngài làm việc liên tục 25 năm thì ngả bệnh qua đời tại chùa (1937-1962), mộ phần được tôn tại ở Hà Tiên.

Tiếp theo đó, Lão Sư Trần Vận Hưng ở chùa Nam Nhã (Cần Thơ) được cử về trụ trì chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên (dân địa phương Hà Tiên gọi ông là Ông Sáu Thợ Mộc), trong thời gian nầy có Bà Trần Thị Thọ, pháp danh Nghiêm Kỉnh, vốn là con gái của tu sĩ Xuân Hòa, khi ông mất đi, bà ở lại chùa nối tiếp đường tu, hộ đạo công quả. Đến năm 1968 trong lần về thăm chùa Nam Nhã, Lão Sư lâm bệnh đột ngột và qua đời tại chùa Nam Nhã Phật Đường.

Trong thời gian cùng năm nầy Minh Sư Đạo được chánh phủ công nhận và giáo hội trung ương được thành lập, Đức Tổ Vương Đạo Thâm cử hai vị về chùa trụ trì: Cô Thái Trần Ngọc Liêng (thường gọi là Cô Thái Bảy) và thầy Nguyễn Xương Thành (thế danh Nguyễn Văn Chùng). Vì hoàn cảnh có trách nhiệm ở chùa Phước Tế Vĩnh Long nên cô Thái Bảy thỉnh thoảng tới lui hoạt động ở chùa Phật Đường Hà Tiên, chỉ có thầy Xương Thành thì thường trực tại chùa. Ban trị sự chùa trong thời gian nầy gồm quý vị: thầy Trần Văn Hương (trưởng ban), cô Phan Thị Triệu (phó ban), quý vị Phạm Đình Khương, Phạm Thị Thìn và Trần Mỹ Hương là ủy viên, cùng trông lo Phật sự còn có cô Tư Thọ. Thầy Xương Thành tổ chức khám bệnh, châm cứu giúp dân địa phương rất nhiều. Từ đó được dân tình tín nhiệm và ủng hộ, thầy mở mang xây dựng thêm nhà kho, tậu mua thêm nhiều vật dụng cho chùa. Đến năm 1977 hoàn cảnh chiến tranh biên giới gây khó khăn, cô Thái bảy và thầy đều trở về quê, Phật tử cũng ít tới lui chùa, ban quản trị cũng tự giải tán. Đến năm 1979, chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại, được chánh quyền địa phương giúp đở thuận lợi, chùa Quảng Tế Phật Đường hoạt động trở lại, bà Trần Thị Thọ cùng một số Phật Tử hộ đạo trở về chùa khôi phục việc cúng kiến, tu hành. Công việc chùa được ổn định và có nấu nướng thức ăn chay để gây quỹ tự túc. Cô Thái Bảy thỉnh thoảng trở lại Hà Tiên thăm viếng và hành đạo.

Năm 1989 bà Trần Thị Thọ qua đời tại chùa. Cô Thái Trần Ngọc Liêng trở về chùa khởi công tu sửa nhà hậu tổ và xin gia nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đồng thời cô Thái Bảy đề cử ông Nguyễn Văn Tường đạo danh Thiện Phú cư sĩ cấp nhị bộ ở chùa Phước Tế Vĩnh Long về công quả ở chùa Phật Đường Hà Tiên. Sau đó cô Thái Bảy cũng dặn dò, gởi gắm mọi đạo sự của chùa Phật Đường Hà Tiên cho Ban Hộ Trì trong những khi cô vắng mặt. Cô trở về chùa Phước Tế và do tuổi cao, sức yếu nên không đi lại được nữa.

Năm 1997, sau khi công quả tại chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên được 8 năm, tu sĩ Thiện Phú trở về chùa Phước Tế, cô Thái Bảy ủy quyền việc trọng nhậm tạm thời chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cho hai vị thượng nhân: Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí, trụ trì chùa Tế Sanh Phật Đường ở Vĩnh Long và Cô Thái Phạm Ngọc Anh, trụ trì chùa Huệ Nam Phật Đường ở Cần Thơ. Hai vị hoan hỉ nhận việc và cùng với công đức bá tánh, các đạo hữu tại Hà Tiên, Vĩnh Long, Cần Thơ, chùa Phật Đường Hà Tiên được hoàn công sau một tháng tu bổ. Trong ngày diễn ra buổi lễ bàn giao tiếp nhận chùa, hai vị thượng nhân trọng nhậm đã cử hai vị Thiên Ân lãnh trách nhiệm trụ trì chánh thức chùa Phật Đường Hà Tiên kể từ thời gian nầy. Đó là hai vị: Cô Lê Thị Kim Anh, pháp danh Ngọc Chi, tu tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ làm Chánh trụ trì, Thầy Lê Văn Sách, pháp danh Hữu Hạnh, tu tại chùa Nam Nhã Phật Đường Cần Thơ làm phó trụ trì. Sau lần cũng cố nhân sự nầy, đạo sự ở chùa Quảng Tế Phật Đường đi vào nề nếp, người dân Hà Tiên tới lui đông đảo và ủng hộ chùa về mọi mặt.

Đến ngày mùng một tháng 8 Âm lịch (năm 2006), Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí sau nhiều tháng ngả bệnh nặng, đã quy tiên. Ngày mùng 9 tháng 11 Âm lịch (năm 2009) Cô Thái Phạm Ngọc Anh quy tiên tại chùa Huệ Nam Phật Đường Cần Thơ sau nhiều thời gian lâm trọng bệnh. Đó là sự mất mát to lớn của toàn môn phái Minh Sư Đạo và đặc biệt là đối với chùa Quảng Tế Phật Đường vì hai vị, nhất là Đại Lão Sư đã quan tâm rất nhiều đến việc đạo sự của chùa, cho đến hiện nay chùa vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm và ấn tượng khó phai đối với Đại lão Sư.

Nhân dịp đại hội toàn phái Minh Sư Đạo (năm 2008), ban giáo hội trung ương đã chỉ thị các Phật Đường hoàn chỉnh ban trị sự, trong đó chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên cũng thực hiện bầu cử ban trị sự của nhiệm kỳ 2008-2013, ban trị sự đã được thành lập và ra mắt gồm 7 vị:

Cô Thái Lê Ngọc Chi: trưởng ban
Cô Phan Thị Triệu và Ông Phan Văn Đây: phó ban
Cô Huỳnh Nghiêm Trang: thư ký
Cô Lâm Xuân Mỹ: thủ quỹ
Cô Huỳnh Thị Xuân Phượng và cô Huỳnh Thị Xuân Đào: ủy viên.

Từ năm 1997 đến năm 2007 ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên đã được tu sửa như sau: lợp mới khu chánh điện, lót gạch nhà hậu tổ. Xây dựng nhà khói, xây dựng hàng rào kiên cố vành đai chùa. Tu sửa nhà kho, tất cả đều do công lao, vật chất, tiền bạc của chư Phật Tử, đạo hữu xa gần và nhất là có phần đóng góp không nhỏ của Đại Lão Sư Đặng Đạo Chí. Ngoài công việc đạo sự ở chùa, ngôi chùa Phật Đường Hà Tiên còn góp phần vào công tác từ thiện xã hội, phân phối lương thực, sách vở, tập viết cho dân và học sinh nghèo, tích cực ủng hộ và tham gia ở địa phương qua các phong trào xóa đói, giảm nghèo, cứu dân trong thiên tai, bảo lụt, bảo trợ bệnh nhân nghèo.

Hình trái: Chân dung Đức Trưởng Lão Đông Sơ Trương Đạo Dương (1835-1879), người sáng lập chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên và truyền Minh Sư Đạo tại Việt Nam. Hình phải: Ông Đốc Lý Văn Nhơn. Hình thờ tại chùa Phật Đường Hà Tiên. Hình: Therese Tran

Tóm lại ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên là một trong những ngôi cổ tự ở Hà Tiên, chùa mang đậm nét lịch sử của thời khai đạo mà chính Đức Đông Sơ Tổ Sư từ bên Trung Hoa sang đặt nền móng « dựng chùa, khai đạo, truyền giáo ». Cho đến ngày nay qua xuyên suốt hơn 150 năm qua, so với các chùa đồng môn đã và đang hành đạo rải rác ở khắp nơi trên ba miền đất nước, chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên có một vị trí rất quan trọng, tiêu biểu cho toàn phái đạo, xứng đáng được tôn vinh, là con cháu dòng dõi người Hà Tiên, tất cả chúng ta đều có bổn phận gìn giữ tốt đẹp ngôi cổ tự Quảng Tế Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo tại Hà Tiên được vĩnh viễn trường tồn.

C/ Vài nét về hệ phái Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo:

Thời kỷ bên Trung Hoa: Phật Đường Minh Sư là một hệ phái Phật Giáo mang tính cứu thế, phổ độ, kính thờ Đức Phật, tu tiên và sinh hoạt theo Nho Giáo. Trong số 17 đời Đức Tổ, ngài Hoàng Nhẫn là Đức Tổ thứ 5 có nhiều môn đệ, trong đó có hai ngài là Thần Tú và Huệ Năng (Đời Đường 638-713). Khi Đức Tổ Hoàng Nhẫn liễu đạo, ngài truyền thừa cho ngài Huệ Năng (lục tổ). Phật giáo lúc đó chia thành hai nhánh: một do ngài Thần Tú mở đạo, Bắc Tông, một do ngài Huệ Năng dẫn dắt, Nam Tông. Sau khi ngài Huệ Năng liễu đạo, 70 năm đạo pháp bị đình đốn, đến năm 783 có thiền sư Mẫu Công Đạo Nhất và cư sĩ Bạch Ngọc (tỉnh Tây Giang) song thừa kế vị Đức Tổ thứ 7 cùng chấn hưng đạo pháp. Sau đó ngài La Công Húy đắc pháp thành đời tổ thứ 8 và được vua nhà Đường kính trọng. Đến đời vua Thế Tôn nhà Hậu Chu (năm 955), Phật giáo bị pháp nạn vì phong trào « phá hủy Phật tự »…Sau đó hơn 800 năm đến cuối nhà Minh, tông phái Phật Đường mới được phục hưng, năm 1623 ngài Hoàng Công Đức Huy đắc pháp thành Đức Tổ thứ 9, sau đó là ngài Ngô Công Tinh Lâm, Đức Tổ thứ 10 và ngài Hà Lão Huệ Minh, Đức Tổ thứ 11. Ngài Viên Thốn An được truyền trao Pháp đạo thành Đức Tổ thứ 12.  Đến đời Đức Tổ thứ 13 là song hành hai vị: ngài Vương Công Hườn Hư hành đạo về phía bắc và ngài Từ Hườn Vô mở đạo về hướng nam. Đến khi nhà Thanh tiếp nối nhà Minh (năm 1863, cùng thời vua Tự Đức thứ 16 bên nước Việt Nam ta), ngài Đông Sơ Tổ Sư được cử đi đưa sự nghiệp đạo pháp đến các nước Thái Lan và Việt Nam, từ đó hệ phái Phật Đường Nam Tông được truyền đến nước Việt Nam: thành lập ngôi chùa đầu tiên là Chiếu Minh Phật Đường tại Cầu Kho Chợ Lớn và ngôi chùa thứ hai là Quảng Tế Phật Đường tại Hà Tiên.

Thời kỳ bên Việt Nam: Hệ phái Phật Đường Nam Tông Minh Sư Đạo sau khi lập hai chùa Phật Đường ở Chợ Lớn và Hà Tiên, bắt đầu phát triển với số bổn đạo ngày càng đông. Ngài Lão Sư Ngô Cẩm Tuyền xây ngôi chùa Ngọc Hoàng tại Đa Kao, quận 1 Sài Gòn, năm 1900, sau đó chùa được chuyển sang chùa Phật, sau đó ngài cũng xây một ngôi chùa Phật Đường khác cũng tại quận 1, Sài Gòn vào năm 1920, đặt tên là Quang Nam Phật Đường. Lúc nầy với những ngôi chùa Minh Sư Đạo đầu tiên chỉ để thu hút người mộ đạo Minh Hương, dần dần đã có hơn 50 Phật Đường trên toàn nước Việt Nam. Về thờ phượng, chùa Phật Đường Minh Sư Đạo tôn thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu, Đức Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Tử và Đức Thái Thượng Lão Quân. 

Hiện nay Minh Sư Đạo có hơn 50 Phật Đường hoạt động ở khắp 18 tỉnh, thành phố, với 300 chức sắc, hơn 1262 chức việc và trên 11000 tu sĩ, tín đồ. Tổ Đình Minh Sư Đạo đặt tại chùa Quang Nam Phật Đường, quận 1 TP HCM.

D/ Chú thích:

1/ Phần một:  Người dân Hà Tiên chúng ta rất hâm mộ đạo dù cho theo khuynh hướng nào cũng vậy. Ở Hà Tiên có đủ các tôn giáo cùng hòa đồng sinh hoạt với nhau: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, Đạo Cao Đài,…Tất cả các tôn giáo nầy đều có rất nhiều tín đồ,, đa số đều có thực hành các quy lễ như đi chùa, đi nhà thờ cúng  lễ đều đặn. Đối với hệ phái Phật Đường Minh Sư Đạo, ngay từ khi Đức Trưởng Lão Đông Sơ ghé Hà Tiên thành lập ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường vào năm 1863, đã có sự tiếp đón, ủng hộ, góp công sức của người mộ đạo Hà Tiên, nhất là những người Minh Hương sinh sống tại Hà Tiên. Vào những năm cuối của thập niên đó (cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ thứ 20) sau khi Trưởng Lão liễu đạo thì có nhiều gia đình kỳ cựu ở chung quanh chợ Hà Tiên đã đóng góp rất nhiều trong việc củng cố, trị sự và phát triển ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường. Ta có thể kể ra vài gia đình tiêu biểu như: gia đình ông Huỳnh Đăng Khoa và phu nhân là bà Trần Thanh Tùng (Ông bà Cố của bạn Therese Tran), rồi đến đời ông Phan Kim Tố (Nghị sĩ Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, Ông ngoại của bạn Therese Tran), sau đó đến đời quý vị ái nữ của ông, trong đó có cô Chín Phan Thị Triệu (Dì Chín của bạn Therese Tran), từ đời ông bà cho đến đời sau, gia đình của cô Chín Triệu đã không ngừng tham gia vào việc xây cất, chỉnh tu, và quản trị trong ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên, đó là một việc làm rất đáng được người dân Hà Tiên chúng ta khâm phục và ghi nhớ. Ngoài ra còn có gia đình của ông Đốc Hà Văn Điền (thân phụ của cô Ba Hà Thị Bích Thủy và cô giáo Hà Thị Hồng Loan), gia đình của Thầy Trần Văn Hương (Ông từng là Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Hà Tiên), gia đình ông Đốc Lý Văn Nhơn,…Những gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên nầy đã có công góp sức và thời giờ rất nhiều trong công việc tạo dựng và quản trị ngôi chùa, mình nêu sự việc lên đây mong người Hà Tiên chúng ta luôn nhắc nhở và ghi nhớ để em cháu về sau còn biết được và theo gương sinh hoạt đó. Đặc biệt trước khi viết bài về ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường nầy, mình đã nhờ đến sự giúp đở của bạn Therese Tran rất nhiều, nhờ bạn đã chuyển giao cho mình nhiều hình ảnh, thông tin tư liệu về nguồn gốc ngôi chùa do cô Chín Phan Thị Triệu còn lưu giữ và thảo ra nên mình mới có được những chi tiết, tên họ chính xác trong bài viết. Xin qua những dòng chữ nầy kính gởi đến cô Chín Phan Thị Triệu và bạn Therese Tran lời cám ơn trân trọng về sự giúp đở quý báu nầy.

Từ trái qua phải: Cô Chín Phan Thị Triệu, cô Lý Ánh Nguyệt và cô Ba Hà Thị Bích Thủy. Hà Tiên, 1950-1960, Hình Lâm Xuân Mỹ

Từ trái qua phải: Thân mẫu của bạn Therese Tran, cô Ba Hà Thị Bích Thủy, cô Chín Phan Thị Triệu và Thầy Trần Văn Hương. Hình: Therese Tran, 1991

Cô Chín Phan Thị Triệu (một trong những ái nữ của ngài Nghị Sĩ Phan Kim Tố, gia đình kỳ cựu ở Hà Tiên). Cô Chín từng làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên trong những năm 50-60, sau 1975 Cô làm chủ tịch Hội Chữ Thập Đỏ Hà Tiên, đồng thời Cô cũng giữ nhiều vai trò trong ban quản trị chùa Quảng Tế Phật Đường Hà Tiên. Hiện nay Cô Chín đã 87 tuổi, vẫn sinh sống tại quê hương Hà Tiên. Hình: Therese Tran, 2019

Vài nét nhắc nhở về bạn Therese Tran, bạn Therese Tran tên Việt Nam là Trần Thị Nhung, là người gốc gác ở Hà Tiên, trong một gia đình kỳ cựu, đứng với vai Therese Tran: ông Cố Ngoại là ông Huỳnh Đăng Khoa, ông Ngoại là ông Phan Kim Tố, thân phụ là ông Trần Văn Thuận, dì Chín là Cô Phan Thị Triệu. Therese Tran cũng là một cựu học sinh Trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, hai người chị của Therese Tran là chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi, bạn học Trung Học Hà Tiên cùng thời với quý anh chị Đoàn Kim Minh, Lý Thị Lắc, Nguyễn Thị Sồ, Hà Thị Hồng Loan, Vương Văn Quý, Trần Đại Hải,…Gia đình bạn Therese Tran chuyển về Cần Thơ trong giữa thập niên 60 và sau đó trong những năm sau 1975, bạn định cư ở nước Úc. Bạn Therese Tran và hai bạn Phan Kim Quang và Phan Kim Chi cũng là anh chị em cô cậu vì thân phụ của Kim Quang và Kim Chi là anh của thân mẫu của Therese Tran.

Bạn Therese Tran (Trần Thị Nhung), trái : 1968, phải: Hình chụp trước sân chùa Quảng Tế Phật Đường năm 2019. Hình: Therese Tran

Hình trái: Phan Kim Quang, bạn học chung Trường Trung Học Hà Tiên (cùng lớp với các bạn Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh). Kim Quang ra trường Bộ Binh Thủ Đức, về Rach Giá mang cấp bậc Thiếu Úy và tử trận năm 1974. Hình phải: Phan Kim Chi, hiện sinh sống với gia đình tại Vĩnh Long.  Hai chị em Kim Quang và Kim Chi là anh chị em cô cậu với bạn Therese Tran.

2/ Phần hai: Bài viết trên đây (các phần B, C và D) đều dựa trên các tài liệu nghiên cứu trên mạng, riêng phần nguồn gốc thành lập chùa Quảng Tế Phật Đường thì viết theo bài kể lại quá trình thành hình và quản trị ngôi chùa Quảng Tế Phật Đường do cô Chín Phan Thị Triệu, thay mặt Ban Trị Sự chùa, đã viết ra năm 2011 và có chữ ký của Cô Thái Lê Ngọc Chi. Mình vẫn còn giữ tài liệu nầy, bạn nào cần tham khảo xin cho địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chia sẻ tài liệu gốc.

Tài liệu nghiên cứu:

a/ Quảng Tế Phật Đường (Phan Thị Triệu, 2011)
b/ Vài nét về Phật Đường Nam Tông (Trần Tiến Thành, nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2009)
c/ Chùa Quảng Tế Phật Đường (2019 Công ty Cổ phần Tin học Lạc Việt)
d/ Giới thiệu về Ngũ chi Minh đạo và Minh sư đạo tại Việt Nam (Nguyễn Ngọc Huấn)

Các tài liệu nầy mình đều có bài dưới dang file, bạn nào cần tham khảo xin viết tin nhắn cho mình với địa chỉ E mail, mình rất vui lòng chuyển cho. Các tài liệu đánh dấu b, c và d thì có đường link, các bạn bấm vào link sẽ có bài hiện ra nhé.

Paris, 16/12/2019  Trần Văn Mãnh

Những nơi chốn quen thuộc của Hà Tiên (phần 3)

Thầy cô và các bạn thân mến, hình ảnh về phố xá, nhà cửa ở Hà Tiên được rất nhiều bạn đăng tải trên các trang internet, có những hình ảnh rất quý vì thời gian chụp những tấm ảnh đó đã qua rất lâu rồi, và chính những hình ảnh đó cũng không còn tồn tại hiện nay, rồi lại có những hình ảnh rất quen thuộc và vẫn còn hiện diện đến ngày nay, như một chứng nhân cho sự thay đổi của bộ mặt thành phố Hà Tiên…Hà Tiên ngày nay đã thay đổi rất nhiều, đã có nhiều công viên, vườn hoa, nhà cửa dinh thự được xây dựng lên mới đẹp, tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn lại một vài nơi chốn quen thuộc đối với những người con Hà Tiên rất xa xưa, của những thập niên 60 – 70…Đây là một tập hình được thu thập từ nhiều nguồn trên mạng internet, để nhắc nhở lại chúng ta khuôn mặt phố xá Hà Tiên, tuy đã cũ kỷ, có thể đã biến mất, những lại rất quen thuộc và thân thương đối với thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên xưa…

(tiếp theo phần 2)

11/ Đường Tham Tướng Sanh ngay tiệm trồng răng Phục Hưng ngày xưa (Hà Tiên)

(Hình: HuynhNT, năm ?)

Con đường Tham Tướng Sanh là một trong hai con đường ở hai bên ngôi chợ cũ của Hà Tiên (con đường kia tên Tuần Phủ Đạt). Tính từ bên trái qua bên phải của hình, đầu tiên có căn nhà thấy phân nửa đó là tiệm Hiệp Lợi (nhà của gia đình Trịnh Tố Chinh), kế đến căn nhà có dàn cây xanh phía trên đó là tiệm trồng răng Phục Hưng, nhà của bạn Sện (Tường, và có em trai là Bẻ), ngày xưa mình thường đến chơi nhà bạn Sện), căn kế về phía phải màu xanh dương là tiệm Mỹ Nam, kế đến căn màu tím nhạt là nhà của Bà Năm Quới bán trầu cau ngày xưa, kế đó căn nhà nhỏ màu vàng là nhà chị Đỗ Mùi, bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…v…v…, còn căn nhà lầu ở bìa phải thì mới cất lên sau nầy, ngày xưa nơi đó là con hẻm nhỏ đi thẳng vào là tiệm tạp hóa của Dì Hai Sánh, má của cô Điệp phu nhân của anh Minh Thế., nếu tính về phía phải nữa (không còn thấy trong hình) thì là tiệm cơm Xuân Thạnh rất nổi tiếng và nhiều khách ăn ưu chuộng ngày xưa.

12/ Thành phố Hà Tiên nhìn từ phía cầu phà bắc

(Hình: Hồ Anh Dũng, năm ?)

Đây là một hình ảnh rất quý giá và hiếm…Hình nầy có một giá trị lịch sử rất cao vì bây giờ ta không thể chụp lại cảnh thành phố Hà Tiên từ bến bắc nhìn lên như vầy được nữa. Tấm vách xi măng « Những địa chỉ cần ích » bên trái hình đó, mình nhớ rất rỏ vì ngày xưa lúc người ta đang vẻ viết bảng nầy chính mình có đứng xem, họa sĩ viết bảng nầy hình như là ông Phụng Đài ba của bạn Mạnh học chung với mình ở Tiểu Học. Trong bảng « Những địa chỉ cần ích » nầy có các mục giúp cho du khách tìm các địa chỉ dễ dàng như: Khách Sạn (Đại Tân…), Tiệm Ăn (Xuân Thạnh…), Vật kỹ niệm (Lâm Văn Cao, Phan Văn Thân, Lê Minh…). Còn chiếc cầu bắc đó mình đi lên xuống biết bao nhiêu lần rồi, mỗi lần đi Rạch Giá về đều qua cầu bắc nầy…Có khi thường xuống cầu bắc nầy ngồi chơi. Dảy phố phía xa trong hình đối diện với con đường Trần Hầu. Đầu tiên từ bên phải qua bên trái, đó là tiệm đồi mồi Lê Minh, kế đến là tiệm hớt tóc Trần Kỷ, ngày xưa mình là khách hớt tóc quen thuộc của ông Trần Kỷ, đúng ra là nhà của má Tỷ Tuột (Lào Xiếm) cho Trần Kỷ mướn phía ngoài để hớt tóc thôi. Kế đến là tiệm buôn hải sản hiệu Tân Dũ Hưng, kế nữa là một tiệm tạp hóa Cù Thú rồi đến căn nhà tiệm hình kỷ niệm và có bàn billard của ông Quách Ngọc Bá. Bên bìa trái là tiệm cơm rất nổi tiếng ngày xưa là tiệm Xuân Thạnh, ta còn thấy rỏ nóc có vách màu trắng của ngôi chợ cũ Hà Tiên, cuối cùng thật xa bên trái là một phần căn phố của con đường Tuần Phủ Đạt.

13/ Nhà vệ sinh công cộng hình bát giác trước năm 1958 (Hà Tiên)

(Hình: Trần Phương Nhu, trước năm 1958)

Đây là ngôi nhà có lẻ cất khoảng trước năm 1958,  lúc đầu dùng làm nhà vệ sinh công cộng. Trong căn nhà nầy có 4 căn một bên dành cho nam và 4 căn bên kia dành cho nữ. Được xây cất một cách rất mỹ thuật dạng bát giác, đó là vào thời còn người Pháp ở Hà Tiên. Lúc nầy cầu bắc và « ponton » chưa có. Sau đó một thời gian chánh quyền địa phương cải tiến lại phá bỏ ngôi nhà nầy và cất một ngôi nhà khác làm thành căn nhà bán vé phà qua sông. Đến những năm đầu của thập niên 60 thì người ta phá bỏ căn nầy và cất một dãy phố lấn qua trên sông để cho người dân Hà Tiên thuê làm nơi buôn bán, sinh hoạt phục vụ. Đầu dãy ngay cầu bắc là căn của bác Sáu Thành hớt tóc, rồi từ từ kéo dài tới ngay chợ cá cũ Hà Tiên. Các căn kế tiếp là căn có bày các tạp chí, báo chí của chi thông tin để dân chúng đến đọc báo tự do, kế là tiệm bán báo Minh Xuân, tiệm hớt tóc Tư Thiên,…v…v…

14/ Trẻ em ở Đài Kỷ Niệm 1965 (Hà Tiên)

(Hình: Photo: Cliff Rocheleau, năm 1965)

Đây là một bức hình do một người lính Mỹ chụp vào năm 1965 (Cliff Rocheleau) tại bến tàu Quan Thuế dưới Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên. Theo sự nhận xét của một số bạn Hà Tiên quen biết thì những em bé nầy có thể là con của những gia đình làm nghề đánh cá ở phía Cầu Câu, Pháo Đài. Có điều có thể xem như chắc chắn là hình em bên bìa phải là con trai của Ông Thái Dủ, tên là Hồ (Huỳnh Minh Hà), lúc xưa gia đình của Ông có cây xăng ngay tại Đài Kỷ Niệm nầy (cây xăng ở bên trái hình, không thấy trong hình). Phía xa là Đài Kỷ Niêm màu trắng ở về bên trái, xa nữa là mặt hông của chợ cá cũ Hà Tiên. Ở giữa hình cặp mé sông còn có một dãy băng đá mà ngày xưa các bạn trẻ thường hay ra ngồi chơi ngắm sông nước…Có vài ý kiến cho là em bé mặc áo bông rằn màu xanh giống em  » Tuấn cùi » con cô Thìn, Ông Đây. Em bé đưa tay chào theo kiểu nhà binh thì giống em Châu con của Bà Tám Lệ, cháu ông Bảy Kế…Từ phải sang trái em thứ tư (đứng phía sau) thì giống em Phò con Ông chủ lò bánh mì Đồng Xương…

15/ Đường Tuần Phủ Đạt, ngay khúc có các căn nhà lầu bạn Hồ Anh Dũng, Lương Cường và Hồ Thị Kim Hoàn (Hà Tiên)

(Hình: David.B.Crawford, năm 1966)

Đây chính là con đường Tuần Phủ Đạt, phía bên phải gần nhất là nhà Ông Âu Tư (ba của bạn Hồ Anh Dũng), Sanh Hoạt (Lương Cường), và lần lượt là nhà Hồ Thị Kim Hoàn và tiệm Đồi Mồi Phan Văn Thân. Phần đất trống có cỏ xanh sau nầy là rạp hát chiếu bóng Phát Minh.  Phía xa xa đó là đường Lam Sơn với nhà Bác Ba Góp và nhìn thẳng ra bờ sông. Có một thời gian phần đất trống (sau năm 1975) dùng làm địa điểm nhóm chợ tạm bán hàng hóa biên giới, sau đó có xây một kho bạc và hiện nay đã không còn kho bạc đó. Một thời gian sau nầy, khu nầy có người dùng nhà làm nơi nuôi yến. Bên phía trái hình là một dãy phố mười hai căn, đó là các căn nhà Ông Tàu Tắc, Ông Nam Xến,…, và căn biệt thự của gia đình thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khanh,…).

Xin bổ túc thêm chi tiết về bức hình nầy: tác giả tên là David. B. Crawford (Dave Crawford) là một người lính Hãi Quân Mỹ ngày xưa, phục vụ trên chiếc tàu USCGC Point Garnet (WPB-82310), tàu nầy có mặt ở VN từ 1965-1969, sau 1969 tàu nầy được trao lại lại cho Hãi Quân VN và đổi tên là Lê Văn Ngà HQ 701.

(Còn tiếp phần 4)