Hệ thống hải đăng Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian

A/ Chức năng hải đăng:

Hải đăng (nghĩa đen là ngọn đèn biển) là một hệ thống tín hiệu thường được sử dụng trong lãnh vực hàng hải (cũng có thể được dùng trong lãnh vực hàng không). Đó là một hệ thống tín hiệu bao gồm một hệ thống chiếu sáng mạnh mẽ thường được đặt trên đỉnh của một tòa tháp thường nằm gần bờ biển. Hệ thống tín hiệu cho phép tàu bè xác định vị trí của các khu vực nguy hiểm gần bờ biển, cũng như các cảng biển. Tuy nhiên số lượng các ngọn hải đăng đã giảm đi do đã được thay thế bởi các công cụ điện tử hiện đại, chẳng hạn GPS (Global Positioning System). Các tòa tháp chứa các ngọn hải đăng từ từ trở thành các nơi có tính chất lịch sử, du lịch và đôi khi cũng là di sản kiến trúc của đất nước.

Hiện nay nước Việt Nam có tổng số 79 ngọn đèn biển. Trong đó thì có nhiều ngọn được người Pháp xây dựng từ hơn 100 năm trước, ta có thể liệt kê sau đây: Bảy Cạnh (Côn Đảo), Hòn Lớn (Nha Trang), Long Châu (Cát Hải, Hải Phòng), Hòn Dấu (Đồ Sơn, Hải Phòng), Núi Nai (Hà Tiên, Kiên Giang), Hòn Khoai (Ngọc Hiển, Cà Mau), Tiên Sa (Sơn Trà, Đà Nẵng), Mũi Dinh (Thuận Nam, Ninh Thuận)…v..v..

Bản đồ năm 1933 về các hệ thống: đường lộ, đường sắt và các ngọn hải đăng các nước Đông Dương. Trong đó ta thấy vị trí các ngọn hải đăng dọc theo bờ biển nước Việt Nam. (Hình: Gallica, BNF)

B/ Hệ thống hải đăng ở Hà Tiên:

Nói đến hải đăng ở Hà Tiên, chúng ta ai cũng nghĩ đến « Cây đèn rọi » ở Mũi Nai, đó là một từ ngử thông dụng ngày xưa để chỉ định ngọn hải đăng ở Núi Đèn thuộc vùng Mũi Nai Hà Tiên. Ngày nay người ta dùng từ « Hải đăng Núi Nai », hay « Hải đăng Núi Đèn » hay « Hải đăng Núi Đèn Rọi ».

Núi Đèn còn gọi là núi Đèn Rọi, gồm hai ngọn núi cách nhau khoảng 300 m, núi Đèn nhỏ cao 117 m, núi Đèn lớn cao 131 m, nằm cạnh bờ biển, cách bãi trước của khu du lịch Mũi Nai gần khoảng 1km. Ngọn hải đăng được xây cất trên núi Đèn nhỏ.

Vị trí ngọn hải đăng « Đèn Rọi Mũi Nai » trên bản đồ do người Pháp vẽ năm 1933

Vị trí Núi Đèn và ngọn hải đăng Núi Đèn trên bản đồ vùng Mũi Nai Hà Tiên

Hải đăng Núi Đèn được người Pháp xây dựng vào năm 1896. Từ lúc đó người Pháp đã lập ra trạm hải đăng ở Núi Đèn nầy và có bổ nhiệm người giữ đèn tại đây. Theo các sách niên giám thư mục Đông Dương do người Pháp xuất bản, ta thấy có tên họ các người giữ cây đèn rọi tại vùng núi Đèn Mũi Nai nầy.

Trong niên giám thư mục năm 1912 có ghi tên họ ông M. Natte là người Pháp giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1926 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1928 có ghi tên họ các ông Pierre Chapuis là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1929 có ghi tên họ các ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng và Louis Ciavaldini phụ tá kỹ thuật giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1931 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Trong niên giám thư mục năm 1932 có ghi tên họ ông Balthazar-Marius Bonsignour là người Pháp trưởng giữ ngọn hải đăng ở Núi Nai Hà Tiên

Người Pháp quản lý ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai Hà Tiên từ lúc mới xây cất cho đến những thập niên 40. Hà Tiên được hưởng trở lại quy chế là một tỉnh cho đến năm 1956 khi chánh quyền VNCH đổi Hà Tiên lại thành một quận thuộc tỉnh Kiên Giang, lúc nầy các cơ quan hành chánh của Hà Tiên đều bị xuống cấp, ngay cả vật chất bàn ghế, máy móc cũng bị tháo gở đem đi về Rạch Giá, chính ngay thời điểm nầy người ta tháo gở ngọn hải đăng ở Núi Đèn Mũi Nai, cơ quan hải đăng được xem như không còn hoạt động nữa. Sau đó vài năm khoảng 1960 Hà Tiên lại lâm vào tình trạng chiến tranh, một số phong cảnh du lịch bị cấm đoán, người dân không được lui tới các nơi nầy: Pháo Đài, Thạch Động, Đá Dựng, Núi Đèn…v…v…Trong thời gian ngọn Đèn Rọi Mũi Nai Hà Tiên do công chức người Việt Nam quản lý, mình có biết một ông làm Trưởng Chi Hải Đăng Hà Tiên, ông nầy tên là Phạm Ngọc Trung.

Cho đến năm 2000 Hải đăng Núi Đèn Hà Tiên được cơ quan « Bảo đảm an toàn hàng hải Việt nam » xây dựng và sửa chữa lại trên ngọn núi Đèn Mũi Nai thuộc phường Pháo Đài, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ngọn hải đăng nầy nằm trong hệ thống đèn biển Phú Quốc – Mũi Nai – Hòn Khoai (Cà Mau). Hải đăng Núi Đèn có tầm hiệu lực ban ngày là 27 hải lý (50 km), ban đêm là 19 hải lý (35 km) với chiều cao tháp đèn 16 m, tầm sáng 112 m. Đèn hải đăng có ánh sáng trắng, thân đèn màu xám xẫm.

Ngày nay chúng ta có thể thăm viếng các ngọn núi Đèn ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và theo con đường đất đá để leo lên đến tận tháp có ngọn hải đăng trên núi Đèn nhỏ và nếu điều kiện thuận lợi, người ta vẫn có thể vào tận bên trong tháp đèn, đi lên lầu cao  để chiêm ngưởng ngọn hải đăng nầy.

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012Ngọn núi Đèn nhỏ (bìa bên trái) ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: Anhcanem, 2012

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2014

Ngọn núi Đèn nhỏ ở vùng Mũi Nai Hà Tiên và tháp hải đăng trên đỉnh núi.

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: Minhbqlvn, 2015

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: DaoHuuDo, 2017

Trên đỉnh núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình DaoHuuDo, 2017

Cổng chánh vào tháp hải đăng trên ngọn Núi Đèn nhỏ vùng Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: ThanhTung, 2018

Đường đất đá lên tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên. Hình: LyTrungHuu, 2018

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Tháp hải đăng trên núi Đèn nhỏ, Mũi Nai, Hà Tiên.

Toàn cảnh vùng núi Đèn, Mũi Nai, Hà Tiên, ngọn núi gần nhất là núi Đèn nhỏ, nơi có ngọn hải đăng. Hình: Đặng Thanh Tùng, 2018

C/ Các ngọn đèn khác giúp giao thông trên sông, biển Hà Tiên:

Trong toàn hệ thống hải đăng Hà Tiên, chỉ có ngọn đèn do người Pháp thiết lập ra trên ngọn núi Đèn Nhỏ vùng Mũi Nai được xem như là ngọn hải đăng trong hệ thống hải đăng Việt Nam. Tuy nhiên vì Hà Tiên là một vùng dính liền với biển và có con sông Giang Thành chảy ngang thành phố nên hệ thống giao thông đường biển là rất quan trọng, người ta còn thiết lập hai ngọn đèn phụ, tầm vóc nhỏ, nhưng vẫn rất ích lợi cho ghe thuyền đi lại trên mặt biển và sông Hà Tiên, đó là hai ngọn đèn đặt ở Mũi Thủ Pháo Đài và trước khách sạn Vân Tiên ngày xưa (nay là khách sạn Hà Tiên).

C1/ Ngọn đèn tại Mũi Thủ Pháo Đài là ngọn đèn thấp,  không phải là hải đăng đúng nghĩa vì nhiệm vụ của nó để định vị mũi đất nhô ra của Pháo Đài, để khi tàu ra vào định vị đúng trên luồng lạch sâu. Cũng như ngọn hải đăng trên núi Đèn, ngọn đèn nầy cũng bị bỏ hoang một thời gian dài trong chiến tranh, sau nầy được phục hồi lại.

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Rich Krebs 1968-1970. 

Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh. Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Steve Bingham 1968-1970.

Một phần mặt bằng trên Pháo Đài (Hà Tiên) thời chiến tranh do lính Mỹ chụp trong những năm 1970, ta thấy rỏ bên phải hình là một ngọn đèn được dựng lên. Hình: VAS078886_LOH, (Vietnam Center And Archive)

Cận ảnh Pháo Đài (Hà Tiên). Ta thấy rỏ bên trái mũi Pháo Đài có một ngọn đèn được dựng lên. Hình: Quách Ngọc Bá (1973)

C2/ Ngọn đèn phía trước khách sạn Vân Tiên (ngay ngả tư đường Phương Thành và Trần Hầu, Hà Tiên) cũng không gọi là hải đăng, vì nhiệm vụ của nó là ngọn đèn sông thứ hai cùng với ngọn đèn ở Mũi Thủ Pháo Đài tạo thành một đường định hướng lòng sâu cho tàu trên sông nhắm lái.
Đèn Vân Tiên còn giúp cho các con tàu từ đầm Đông Hồ, Cừ Đứt hay kênh Ngã Tư ra nhìn hướng Hà Tiên.

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) năm 1943 (ở giữa hình). Ta thấy bên phải hình trước khách sạn Vân Tiên là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: AAVH Jean Cousso AP5268

Từ bên trong sân khách sạn Vân Tiên (tọa lạc tại góc đường Phương Thành –  Trần Hầu, nay là khách sạn Hà Tiên) nhìn ra , bên trái ta thấy có một ngọn đèn trên tháp kim loại, dùng để chỉ hướng cho ghe tàu trên sông Hà Tiên. Hình 1950-1960

Khách sạn Lâm Văn Cao và khách sạn Vân Tiên (Hà Tiên) vào khoảng năm 1966. Ta thấy bên bìa phải hình là một ngọn đèn trên tháp kim loại. Hình: Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Khách sạn Hà Tiên vào năm 2012, ta còn thấy một phần tháp kim loại có ngọn đèn bên phải hình. Hình: TVM, 2012

Tác giả trân trọng cám ơn quý đọc giả: Thầy Trương Minh Đạt, cô Dương Hồng Châu, bạn Trương Minh Quang Nguyên, Lê Phước Dương…đã góp ý, giúp đở các thông tin về đề tài Hải Đăng Hà Tiên. Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM 12/04/2019)

Publicités

Chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên chúng ta quen gọi là Chùa Bà Mã Châu nhưng nếu theo đúng ý nghĩa của một ngôi chùa, hay ngôi miếu thì ta gọi đúng là Miếu Bà Mã Châu, vì chùa là nơi thờ Phật còn miếu là nơi duy trì tập tục văn hóa, tín ngưỡng dân gian, và đối tượng thờ phượng của một ngôi miếu thường là một nhân vật đã được thần thánh hóa…Tuy nhiên theo thói quen ở Hà Tiên chúng ta từ xưa đến nay, quen gọi là Chùa Bà Mã Châu (cũng như gọi Miếu Ông Bổn là chùa Ông Bổn, miếu Quan Thánh là chùa Năm Ông, miếu Bà Cửu Thiên là chùa Bà Cửu Thiên…v…v…)

Ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất trên đường Tô Châu, nằm bên phải con đường nếu ta đứng từ mé sông nhìn lên con đường và ở phía sau khách sạn Tô Châu ngày xưa. Vị trí ngôi chùa không nằm thẳng góc với con đường Tô Châu mà nằm xéo một góc, còn ngôi chùa thì có mặt tiền nhìn thẳng về phía mé sông Giang Thành, dù ở phía sau vài căn nhà, vì từ trước năm 1869 Hà Tiên có ngôi chợ cũ nằm về phía mé sông bến Trần Hầu, giữa hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu, nên nơi đó ngày xưa rất phồn thịnh. Chúng ta không biết được chính xác ngôi chùa Bà Mã Châu được xây cất từ năm nào, nhưng vào khoảng năm 1869 trở đi đã có ngôi chùa trên con đường Tô Châu nầy. Theo phong trào di dân của người Trung Hoa đời Minh vì không thần phục nhà Thanh, người Minh Hương theo đường biển xuống phương nam (đặc biệt là miền nam Việt nam) những người Minh Hương nầy đem theo phong tục của mình và luôn xây cất ở nhiều nơi hai ngôi miếu quan trọng nhất là miếu Quan Công và miếu Bà Mã Châu. Ngôi chùa Bà Mã Châu được trang hoàng rất đẹp với bộ mái ngói và các hàng cột, kèo bằng gỗ.

Về vị trí của ngôi chùa Bà Mã Châu, mình còn nhớ rất rỏ, ngày xưa phía sau chùa là một gò đá khá cao, lúc còn nhỏ mình và các bạn cùng xóm thường hay chạy leo lên gò đá cao nầy để chơi trò cút bắt. Thời đó 1955-1965, phía sau lưng ngôi chùa không có nhà, chỉ có một khoảng đất bỏ trống, với ngọn đồi đá như đã nói. Từ ngọn đồi đá nầy có một con hẻm nhỏ thông ra tới bên hông của trụ sở Xã Mỹ Đức nằm trên con đường dọc mé sông Đông Hồ. Nói chính xác là trên mặt đường Trần Hầu phía nhìn ra Đông Hồ (nay con đường nầy được đặt tên là đường Đông Hồ), ta có ngôi nhà xưa của thi sĩ Đông Hồ (trụ sở của Trí Đức Học Xá ngày xưa do Đông Hồ lập ra), rồi tới một căn nhà dân, rồi tới cái hẻm thông qua đến phía sau chùa Bà Mã Châu, con hẻm chạy lên ngọn đồi đá và ra thẳng ra phía đường Tô Châu, qua bên kia đường Tô Châu là mặt hông của Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Thời gian nầy hai bên ngôi đình Hà Tiên không có các ngôi nhà lầu cất sát ngôi đình như bây giờ và phía sau ngôi chùa Bà Mã Châu cũng chưa có các nhà lầu gạch cao như bây giờ. Ta có thể liệt kê ra như sau: từ dưới mé sông nhìn lên, đầu tiên là nhà ngủ Tô Châu, sau nhà ngủ Tô Châu có một hai căn nhà , rồi kế đó là mặt tiền chùa Bà Mã Châu, sau chùa Bà Mã Châu là ngọn đồi đá với một phần đất trống, kế đó nối lên cho tới đường Chi Lăng là dãy nhà do Ông Phán Cơ cất để ở và cho công chức thời đó mướn ở trong lúc làm việc tại Hà Tiên.

Vị trí chùa Bà Mã Châu trên con đường Tô Châu, Hà Tiên. Ngày xưa có con đường hẻm nhỏ nối liền phía sau chùa Bà Mã Châu và bên hông trụ sở Xã Mỹ Đức ở mé sông Đông Hồ và cũng có một con đường đất nối liền hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu đi ngang trước mặt ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hiên nay con hẻm và con đường nầy đã bị xóa mất.

Mặt tiền ngôi chùa Bà Mã Châu nhìn xéo ra con đường Tô Châu. ta thấy mái ngói của ngôi chùa được trang hoàng rất đẹp. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Con đường Tô Châu, Hà Tiên, nhìn về phía mé sông. Bên trái ta thấy rỏ tường vách mầu đen của ngôi chùa Bà Mã Châu, phía xa là khách sạn Tô Châu với các tầng lầu. Hình: HungCuongPC, hình sau 1975

Chùa Bà Mã Châu , Hà Tiên sau khi được tu bổ lại, với địa chỉ: số 23 Đường Tô Châu, phường Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang . Hình: Tien Le Thanh 2010

Chùa Bà Mã Châu Hà Tiên vào năm 2012, phía sau chùa đã có nhiều nhà cửa cao ốc không còn đất trống trải như ngày xưa. Hình TVM, 2012

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Minh Tri Vo, 2015

Cổng vào chùa Bà Mã Châu, đường Tô Châu, Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Từ trong chùa Bà Mã Châu (Hà Tiên) nhìn ra đường Tô Châu

Bên trong chùa Bà Mã Châu, Hà Tiên. Hình: Tống Nguyên Bình, 2019

Từ nguồn gốc xưa, chùa Bà Mã Châu vốn do người Hải Nam dựng, nhưng người Hoa ở Hà Tiên dù là nguồn gốc khác nhau (Phúc Kiến, Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông…) đều tôn kính Bà. Do dó kiến trúc ngôi chùa (ngôi miếu) là theo kiểu người Hoa, bên trong thờ Bà Mã Châu thần nữ. Bà Mã Châu phù hộ độ nhân dân người Hoa tha phương cầu thực, sinh hoạt trên sông biển.

Sự tích Bà Mã Châu:

Bà tên là Lâm Mặc Nương, sinh tại đảo Mi Châu đời nước Tống (thế kỷ thứ 10 – 11), tỉnh Phúc Kiến (Fujian), một tỉnh ở phía đông nam nước Trung Hoa. Lúc nhỏ bà theo Phật Giáo. Thân sinh của bà cùng hai người anh buôn bán ở tỉnh Giang Tây. Trong một chuyến đi buôn, cả ba bị bão tố, thuyền bị chìm.

Lúc ấy bà ở nhà, đang dệt vải bên cạnh mẹ. Thình lình bà ngưng tay dệt, mắt nhắm lại, hai tay đưa về phía trước như cố gắng trì níu vật gì. Bà mẹ hoảng sợ vỗ vào vai bà và gọi:

  •  Con, con, có chuyện gì không ?

Một lúc lâu bà tỉnh dậy rồi khóc và kể lể:

  • Con thấy thuyền của ba và hai anh con gặp bão tố và đang chìm ngoài bể. Con cố sức cứu cha nhưng mẹ vỗ vai con mà khuấy rối. Tại mẹ mà ba con chết. Hai anh con còn sống được là nhờ con đã cứu thoát….

Quả nhiên lời nói ấy đúng sự thật! Tin ấy đồn đi khắp vùng Giang Tây. Người đi biển gặp sóng gió đều kêu tên bà Mi Châu mà khấn vái. tất cả đều tai qua nạn khỏi. Ngoài ra bà còn thu phục và cảm hóa hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Về sau vua nhà Tống phong cho bà chức Thiên Hậu Thánh Mẫu…

Ngày vía của Bà vào tháng ba âm lịch hàng năm. Trong các tỉnh lớn ở miền nam Việt Nam, đâu đâu cũng có ngôi Miếu thờ phượng bà rất trang nghiêm, người ta gọi là Miếu Bà Mã Châu, hay Miếu Bà Thiên Hậu…

Hình vẽ thờ Bà mã Châu và hai vị ác thần là Thuận Phong Nhĩ và Lý Thiên Nhãn.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

TVM  (06/04/2019)

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Xã Mỹ Đức (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian

A/ Danh từ « Thành Hoàng Bổn Cảnh »:

Thành Hoàng là một biểu tượng cổ xưa có gốc từ Trung Hoa để chỉ vị thần đại diện cho một tòa thành lớn có hào bao quanh, vị thần này được thờ nhằm để bảo vệ cho tòa thành đó. (Theo từ ngữ: Thành Hoàng tức là thành trì có hào bao quanh). Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng (tức là xem như có một vị thần với xưng danh là « Thành Hoàng ») bắt đầu du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ 9.

Vị thần được phong là Thành Hoàng đầu tiên của nước ta tên là Tô Lịch, một nhân vật có thể có thật sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ ba-thứ tư, tổ tiên cư ngụ ở Hà Nội đã lâu đời, dựng làng bên một con sông nhỏ. Vì ông cư xử hiếu hòa, thanh bạch, lại cứu đói giúp dân lúc mất mùa nên được triều đình ban khen, cho lấy hai chữ Tô Lịch làm tên làng. Khi ông mất dân làng thờ ông như vị thần của ngôi làng. Sau đó đến thế kỷ thứ 9 ngài được tôn lên địa vị tột đỉnh cao quý: Từ vị thần của làng Tô Lịch, trở thành vị Thần Thành Hoàng đứng đầu các vị thần ở thành Đại La, rồi Thành Hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tuy nhiên việc tôn thờ vị thần bảo vệ thành trì với danh xưng « Thành Hoàng » không sâu đậm và không dài lâu ở các thành đô nước ta. Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng bắt đầu lan truyền đến các vùng nông thôn nơi tín ngưỡng thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hóa của người dân làm nông nghiệp lúa nước. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng suy tôn Thành Hoàng làng là những vị thần bảo vệ cho cuộc sống của người dân trong làng, nhất là những nhân vật lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho làng, nước. Vì là vị thần của một làng được thờ phượng để bảo vệ một địa phương làng xã nên mới có thêm từ ngữ Bổn Cảnh (Bản Cảnh, Bản Thổ…), Từ đó ta kêu là Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.

B/ Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức, trấn Hà Tiên:

Ngôi đình Thần Thành Hoàng ở Hà Tiên hiện nay tọa lạc tại khu phố 1, phường Đông Hồ, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. (Chú ý quan trọng: trước năm 1998 phường Đông Hồ chính là xã Mỹ Đức trung tâm của thị trấn Hà Tiên, sau năm 1998 thành lập thị xã Hà Tiên,  tên Mỹ Đức được đặt tên cho một xã ở tại Thạch Động, kể từ 2018 xã Mỹ Đức ở tại Thạch Động trở thành phường Mỹ Đức). Ngôi đình nằm trong phần đất giới hạn bởi bốn con đường: đứng trước ngôi đình nhìn vào, bên trái là đường Bạch Đằng, bên phải là đường Tô Châu, sau lưng đình là đường Chi Lăng, trước mặt đình là đường Trần Hầu. Ta không biết chính xác niên hiệu tạo dựng ngôi đình nầy vào năm nào, tuy nhiên theo sách « Gia Định Thành Thông Chí » (hoàn thành vào năm 1820) của Trịnh Hoài Đức thì đã có đoạn văn tả ngôi đình nầy, lúc đó ngôi đình có tên là Miếu Hội Đồng. Như vậy Miếu Hội Đồng của xã Mỹ Đức, thuộc huyện Hà Tiên, trấn Hà Tiên đã có trước năm 1820. Thực ra trước năm 1820, nhân dân ở xã Mỹ Đức (Hà Tiên) đã dựng lên ngôi Miếu Hội Đồng nầy để thờ ba vị nhân thần họ Mạc khai cơ đất Hà Tiên là Mạc Cửu (1655-1735), Mạc Thiên Tích (1718-1780), Mạc Tử Sanh (1769-1788), ba vị nầy đều có sắc phong nhân thần của các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức và đều đạt đến ngôi thừ Thượng Đẳng và Trung Đẳng Thần.

Từ năm 1820 cho đến năm người Pháp chiếm Hà Tiên (1867), theo bản đồ vẻ tay của người Pháp vào năm 1869, ta thấy trên bản đồ còn ghi rỏ vị trí của ngôi Miếu Hội Đồng (ô tô màu vàng, người Pháp ghi là Mairie = tòa thị sảnh, trụ sở của xã), và trước đó về phía mé bến sông ghe tàu đậu thì là ngôi chợ cũ ngày xưa (ô tô màu xanh dương, người Pháp ghi là Marché = ngôi chợ). Điều nầy vẫn còn được kiểm chứng theo như lời nói của các bậc cao niên ở Hà Tiên, bà ngoại mình thường nói căn nhà xưa của gia đình mình ở đường Bạch Đằng có cửa chánh nhìn ra đường Bạch Đằng, xéo xéo ngả ba Bạch Đằng-Lam Sơn, nhưng phía sau của nhà mình là con đường nhỏ không tên dẫn đến cửa chánh của đình Hà Tiên, sau nhà mình vẫn còn một bàn thờ ngoài trời vì bà ngoại mình nói là ngày xưa cửa chánh của nhà mình nhìn ra phía con đuòng trước đình Hà Tiên, tức là hồi xưa phía sau nhà của mình hiện tại lại là mặt tiền nhà chánh vì các căn nhà đều nhìn về phía chợ ngày xưa, thêm một chi tiết nữa là tất cả bàn thờ trên gác lầu của nhà mình đều quay mặt ra phía nhà sau tức là quay mặt ra mặt tiền nhà chánh thời xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông khoanh màu xanh là giới hạn của bốn con đường: Bạch Đằng, Tô Châu, Chi Lăng và Trần Hầu, trong đó có Miếu Hội Đồng và ngôi chợ cũ của Hà Tiên ngày xưa.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô màu vàng (Pháp ghi là Mairie) là vị trí của Miếu Hội Đồng tức là vị trí của ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức Hà Tiên, ô vuông màu xanh (Pháp ghi là Marché) là vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên ngày xưa.

Vị trí ngôi chợ cũ Hà Tiên và Miếu Hội Đồng (Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên) trước thời Pháp chiếm Hà Tiên (1867). Con đường màu đỏ không tên còn hiện hữu đến nhiều năm sau nầy, tuy nhiên do quá trình phát triển đo thị, ngày nay con đường nầy đã biến mất,

Tuy trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869 ghi tên ngôi đình xã Mỹ Đức là Miếu Hội Đồng xã Mỹ Đức (Mairie) nhưng trước đó vào đời vua Tự Đức thứ năm (1852), nhà vua đã ban sắc phong tên đình là Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức nên từ đó về sau ngôi Miếu Hội Đồng nầy đã trở thành ngôi Đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức, thờ phượng ba vị nhân thần họ Mạc như đã nói trên. Lúc đó ngôi đình còn lợp lá đơn sơ.

Đến năm 1888, chí sĩ Nguyễn Thần Hiến cùng với quý ông Lâm Tấn Đức, Huỳnh Đăng Khoa, Trần Đình Quang, Lê Quang Khanh,…và với sự góp công sức của cải  nhân dân Hà Tiên, ngôi đình được trùng tu, kiến tạo lại, ngày khởi công là ngày 14 tháng giêng năm 1888. Nhân dịp nầy khi hoàn thành sự trùng tu, các bài văn, thơ của các cụ được ghi lại trên tường gạch phía trong đình (tháng tư, năm 1889). Đây là đợt trùng tu quan trong và quy mô nhất, có mái ngói, tường gạch. Sau đó vào các năm 1968 và 1972, nhân dân Hà Tiên cũng có trùng tu thêm ngôi đình nhưng ở mức độ không quan trọng lắm và vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu của năm 1888.

C/ Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên:

Kiến trúc ngôi Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh Hà Tiên được cấu tạo từ lúc trùng tu đầu tiên do ông Nguyễn Thần Hiếu chủ trương: ngôi đình hình vuông, phía trong là Chánh Điện có Tả Ban và Hữu Ban: hai bên là chỗ thờ Tiền Hiền và Hậu Hiền, giữa có đài Thiên Tỉnh (giếng trời) để thờ chư vị thần linh, phía trước là nhà Võ Ca nơi đặt  trống và mõ, nơi hội họp của bà con nhân dân trong xã… Chung quanh nhà Võ Ca, trên tường gạch có chép những bài văn, bài thơ thời trước, những áng văn mang linh hồn các vị danh nhân Hà Tiên, có công với dân tộc và đất nước.

Trong những năm của hai thập niên 1960 – 1970, vì nhà mình ở quay mặt sau ra phía con đuòng dẫn vào ngôi đình (vào thời nầy còn có một con đường đất nhỏ không có tên chạy ngang trước mặt ngôi đình, nối liền hai con đường dọc theo hai bên hông đình, là đường Bạch Đằng và đường Tô Châu), mình thường hay đến chơi trong đình, thường tham dự vào các hoạt động cúng kiến ở đình. Mình còn nhớ mỗi lần có cúng Kỳ Yên ở đình, thường có các thanh niên trai tráng Hà Tiên mặc áo dài xưa, đội mũ có cánh cao và dài hai bên, chân màng giầy ống có mũi cao và cong sắp hàng đi theo tiếng nhạc, tiếng trống, hồi đó thường nghe các cụ cao tuổi nói đó là nhóm học trò lễ…

Lễ cúng Kỳ Yên ở đình xảy ra hàng năm vào ba ngày 15, 16 và 17 tháng hai âm lịch. Đại khái trong ba ngày lễ, nhân dân Hà Tiên cùng cầu nguyện cho quốc thái dân an. Có buổi đi rước sắc lệnh của vua ban cho đình, rước sắc lệnh về đình, nơi lưu giữ sắc lệnh của vua ban cho ngày xưa chính là ở Lăng Mạc Cửu, khi đi rước thì có cả đoàn người, một đám rước với chiêng, trống, lộng, cờ linh đình cùng đội lân. Sau khi làm lễ cúng kiến xong thì đem sắc phong trả lại nơi lưu giữ là Lăng Mạc Cửu. Lễ hội đặc sắc này được rất nhiều du khách tìm về tham dự. Còn có buổi lễ tên là  Túc Yết (lấy huyết heo). Lễ cúng Kỳ Yên ở Đình Hà Tiên vẫn còn được duy trì đến ngày nay.

Ngoài ra còn có một hoạt động khác nữa cũng không kém phần uy linh trang trọng ở đình Hà Tiên là sau mùa cúng Kỳ Yên tháng hai, đến mùa « tống ôn, tống gió » (vào ngày rằm tháng tư âm lịch). Ở đình Hà Tiên người ta xây dựng một chiếc tàu bằng tre và dán giấy đủ màu sắc, trang trí chiếc tàu rất tốt đẹp, chiếc tàu có kích thước chiều ngang khoảng 7 m, chiều rộng khoảng 1,4 m. Chiếc tàu bằng tre và lợp giấy nầy được lưu trử ở bên trong ngôi đình. Đến đúng vào ngày rằm tháng 4, ở Hà Tiên có tục lệ đi diễn hành chung quanh đường phố chợ Hà Tiên, hồi xưa chúng ta kêu là « Đi Nghinh » hay « Tống Gió », tức là trong đoàn « đi nghinh », có các vị người lớn lên đồng (những người nầy thường là bậc cao tuổi kỳ cựu ở Hà Tiên, đóng vai trò cho mượn xác thân của mình cho những linh hồn các vị thần tiên đã chết rất xa xưa, nhập vào thân xác để đi diễn hành trên các đường phố Hà Tiên, mục đích là kiếm ma quỷ, tà yêu để diệt trừ vì trong lúc đi nghinh, tống gió là để đi xua đuổi những linh hồn ma quái thường lưu lạc, không nơi nương tựa, đi khuấy phá nhân dân). Các vị lên đồng tay cầm kiếm, cầm cờ lệnh múa rất oai nghiêm, có vị còn được đứng ngay trên chiếc tàu để múa kiếm, cũng có vị dùng một cây cờ lệnh nhỏ bằng kim loại đâm xuyên qua hai gò má trên gương mặt của mình để cho quỷ ma phải khiếp đảm. Đoàn người đi như vậy cùng với tiếng chiêng trống vang lừng làm tăng thêm sự oai linh…Tiếp theo sau đoàn người và sau chiếc tàu, có người đẩy một chiếc xe cây để tiếp thu những hoa quả, ngũ sắc do nhân dân Hà Tiên đem cúng theo khi đoàn người đi qua trước nhà. Cũng có nhiều trẻ con gan dạ, không biết sợ , chạy theo sau chiếc tàu, có lẻ để chờ khi người ta phát trái cây hoa quả để chạy vào xin…

Tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng chập chả vang lừng inh ỏi, pha lẫn với nhau tạo một khung cảnh với âm thanh rất đáng sợ đối với giới trẻ con như mình ngày xưa. Các âm thanh nầy tuân theo một nhịp điệu là: thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng, …thùng thùng thùng – thùng thùng, thùng thùng…!! (gồm có hai đợt đầu ba tiếng liền nhau, và một đợt sau cùng là 7 tiếng liền nhau…). Hòa với tiếng trống, chiêng, chập chả còn có tiếng của Ông Pháp Sư đọc triệu giử nhịp cho linh hồn mấy vi Thần nhập xác.

Đôi khi đoàn người và chiếc tàu đi nghinh phải dừng lại ở một vài ngả tư đuòng để các xác thần trấn yếm ma quỷ dọc đường, hay trong các nhà hoang…

Trong lúc « đi nghinh » như vậy mình rất sợ, không dám nhìn xem đoàn đi nghinh đi ngang nhà, mọi căn nhà trên đường phố Hà Tiên đều phải đóng cửa vì sợ ma quỷ bị xua đuổi chạy vào nhà mình, lúc có đoàn người lên đồng và chiếc tàu khiêng tới đi ngang nhà thì người lớn trong nhà phải chạy ra đem trái cây, hoa quả bỏ theo trên chiếc tàu, đồng thời trước nhà phải có một lò lữa và muối hột để đốt muối cho nghe vang tiếng nỗ cho ma quỷ sợ không thừa lúc đó chạy vào nhà mình.

Đoàn lễ « đi nghinh », « tống gió » đi theo một trục đuòng chính, trước hết từ ngôi đình Hà Tiên đi ra, theo đường Bạch Đằng trước nhà mình, sau đó rẻ qua đường Lam Sơn, đi dài theo đó cho đến bến nước cầu Đồn Tả thì thả tàu xuống nước.

Theo ý kiến góp lại của quý anh chị người Hà Tiên kỳ cựu thì trong đoàn người « Lên Đồng » đi trong lễ « Đi Nghinh », Tống gió » ta có thể kể ra đây như sau:

 – Người đi đầu là Ông Năm Nhội, lên xác ông Thái Tử, đi bộ dẫn đầu trước chiếc tàu (đó là ba của một người bạn học tên Sáu Tăng, học trò Trung Học Hà Tiên).

 – Có nhiều vị đứng múa trên chiếc tàu:

  • Ông Năm Ô lên xác vị Chánh Soái Đại Càn.
  • Bà Hai Suốn (bà bán bánh kẹp ngày xưa), lên xác Bà Cố (tên của bà là Bà Thượng Đông Cố Hỉ, người Hà Tiên có lập miếu thờ Bà ở kế bên chùa Thiên Trước, tức chùa Phật Lớn, bây giờ gọi là Đền Trăm Quan)
  • Cô Hai Thời, lên xác « Thần Nữ dâng ngũ linh kỳ, Bà Thủy » (theo như ý kiến của em Sáu Tăng thì cô Hai chính là người dì của anh bạn học Tống Châu Thành, học chung một lớp với anh Trần Văn Dõng)
  • Anh Sái, chồng chị Hà (bán rau cải), lên xác vị Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

 – Ngoài ra còn có Ông Bảy Tiếu nhà ở Ao Sen lên xác Ngũ Nhạc Huỳnh Kỳ.

Tuy nhiên sợ thì vẫn sợ, nhưng mình cũng tò mò nên cũng lén nhìn qua khe cửa để xem đoàn người diễn hành và chiếc tàu lúc người ta khiêng ngang nhà mình…
Khi đoàn người lên đồng và chiếc tàu được đưa đi hết các đường phố chánh của Hà Tiên với tiếng chiêng trống inh ỏi làm cho người ta rất sợ xong cả rồi, thì người ta cho tất cả trái cây do nhân dân Hà Tiên cúng lên tàu, trái cây nhang đèn, hoa quả đều được chất lên hết trên chiếc tàu và người ta đem khiêng chiếc tàu thả ra cửa biển Hà Tiên, phía cầu Đồn Tả để tống đi hết tất cả những gì không tốt đẹp cho nhân dân Hà Tiên, đó cũng là một tục lệ tuy rất là mê tín nhưng vẫn có một truyền thống lâu đời, ngày nay dĩ nhiên là người ta không duy trì một tập tục như vậy, nghĩ cũng đáng tiếc…Ngày  xưa lễ « Đi Nghinh »,  « Tống gió » rất thịnh hành trong những thập niên 1960 – 1970, ngày nay không còn nữa.

Hiện nay chúng ta không thể gọi ngôi đình là đình Thần Thành Hoàng xã Mỹ Đức mà gọi tên là Đình ThầnThành Hoàng Hà Tiên, vì xã Mỹ Đức ngày nay không còn nữa, vị trí của ngôi đình là ở ngay phường Đông Hồ. Còn tên Mỹ Đức thì đã thành tên phường Mỹ Đức, để chỉ một địa danh ở Thạch Động.

Con đường ngay từ cổng đình dẫn ra phía mé sông tới đuòng Trần Hầu ngày nay được dành riêng cho ngôi đình. Người ta làm cổng đình rất to lớn ngay tại mé đường Trần Hầu để dẫn ngay từ đó vào tận ngôi đình. Hai bên hông đình ngày xưa còn thoáng rộng chỉ là những khoảng đất trống, ngày nay đã có những căn nhà gạch cao lớn cất che bớt khoảng không gian chung quanh đình, quang cảnh đã thay đổi nhiều so với những năm xưa…Dĩ nhiên ngày nay tại trung tâm Hà Tiên, bộ mặt thành phố đã thay đổi rất nhiều, nhà cửa, cao ốc, dinh thự được xây cất rất nhiều, làm cho bộ mặt thành phố trở nên tốt đẹp, phồn thịnh hơn ngày xưa, tuy nhiên với một tâm hồn hoài cỗ, mình cũng cảm thấy ngậm ngùi khi nhìn hình ảnh ngôi đình ngay nay, được sơn phết màu sắc xinh đẹp nhưng hình như quang cảnh tường nhà gạch cao ốc chật chội chung quanh ngôi đình đã làm cho hình ảnh xa xưa của một thời vang bóng đã đi vắng, ít nữa là đối với những người từng sinh sống rất nhiều năm chung quanh ngôi đình như trường họp của mình…Nhưng gia đình đã từng sinh sống chung quanh ngôi đình theo mình biết là gia đình bạn Trần Tuấn Kiệt, Trần Tuấn Khải, Trần Thanh Tuyên, gia đình mình Trần Văn Mãnh…

Paris, TVM viết xong ngày 23/03/2019 trong mùa cúng Kỳ Yên ở Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên

Con đường từ trước mặt ngôi đình xã Mỹ Đức, Hà Tiên hình chụp nhìn dẫn ra phía mé sông đường Trần Hầu, hai bên là mặt sau của những căn nhà dân trên hai con đường Bạch Đằng và Tô Châu trong những năm 1960. Hình TVM

Mặt chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên vào những năm 1980, các cánh cửa chánh đang đóng lại. Trong ảnh là đội thanh niên trẻ Hà Tiên hoạt động văn hóa, vẻ bích chương, biểu ngữ, vận động chiếu phim trong toàn huyện Hà Tiên. Hình: Nguyễn Hữu Tâm.

Thêm một chi tiết nầy do bạn Thái Hải Vân có thời gian làm việc trong Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San Hà Tiên cho biết: Sở dĩ trong tấm ảnh trên ta thấy trước cửa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên mà lại có tấm bảng treo đề là Nhà Truyền Thống Huyện Hà Tiên là vì sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, người ta dùng ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên làm Nhà Truyền Thống huyện Hà Tiên. Các dịp lễ cúng Kỳ Yên đều tạm dừng lại, ngôi đình chưa được khôi phục theo chức năng ngày xưa. Thời gian kế tiếp sau có bậc lão thành người Hà Tiên là Ông Phan Văn Thân (người Hà Tiên thường kêu theo quen thuộc là chú Ba Thân, có tiệm sản xuất đồ lưu niệm đồi mồi tại chợ Hà Tiên), đứng đầu Ban Bảo Vệ Di Tich Núi Bình San, vận động nhân dân, các nhà hảo tâm trong huyện, đóng góp xây dựng lại ngôi đình. Trước đó các bức hoành phi, các bộ liễn treo trên tường trong ngôi đình đã bị hư hại rất nhiều, trong đợt trùng tu nầy người ta đã thay thế vào bằng các bộ liễn mới được chế tạo bàng cây thốt nốt. Sau khi trùng tu mới mẻ lại, nhân dân Hà Tiên mới tiến hành tổ chức cúng lễ Kỳ Yên từ năm 1984 – 1985, và từ đó đến nay đình mới được hoạt động theo các dịp lễ cúng hàng năm.

Con đường trước ngôi đình Hà Tiên dẫn ra mé sông đường Trần Hầu, hình chụp từ đường Trần Hầu nhìn về phía mặt tiền của ngôi đình ở giữa hình. Năm 2000, con đường nầy đã được tráng xi măng.

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999. Hình: BuiThuyDaoNguyen, 2009

Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên với chiếc cổng được cất thêm sau nầy khoảng năm 1999.

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình TVM, 2012

Con đường trước mặt Ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên khi chưa có hai bức tường ngăn phía sau hai dãy nhà hai bên. Hình chụp từ đình nhìn ra mé sông đường Trần Hầu. Hình TVM, 2012

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Alexander Busse, 2016

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Mái ngói xưa Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên. Hình: Alexander Busse, 2016

Con đường từ trước mặt ngôi đình Hà Tiên nhìn ra mé sông đường Trần Hầu, hai bên mặt nhà phía sau của nhân dân hai bên đường Bạch Đằng và Tô Châu đã có xây hai bức tường che lại. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Cổng lớn được xây thêm gần đây ngay tại mặt đường Trần Hầu, nối liền bên phải là khách sạn Đại Tân xưa (khách sạn Đông Hồ, nay là nhà nuôi yến), bên trái là căn nhà xưa trử rượu đế của gia đình nhà bạn Tỹ Cao. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Từ phía trong cổng lớn ở mé đường Trần Hầu nhìn ra bờ sông Giang Thành. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên trái. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn ngay giữa. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Mặt tiền chánh của ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, nhìn qua bên phải. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Chiếc kiệu rước sắc phong vào ngày cúng lễ Kỳ Yên đặt bên trong đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Thiên Tỉnh (giếng Trời) bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Các bài văn, thơ của các cụ xưa có tham gia trùng tu lần đầu tiên ngôi đình Hà Tiên (1888); trong đó có các bài thơ của cụ Nguyễn Thần Hiến. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Một trong những chiếc cột bên trong ngôi đình Hà Tiên. Hình: Tống Hoàng Thanh, 2019

Tái bút: Tác giả nhiệt tình cám ơn cháu Tống Hoàng Thanh đã vui lòng chụp và cung cấp nhiều bức hình mới của ngôi Đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên năm 2019.

Cùng quý đọc giả: Về ngôi đình Thần Thành Hoàng Hà Tiên, chúng ta có rất ít hình xưa về ngôi đình nầy, xin quý vị nếu còn có hình ảnh ngôi đình Hà Tiên ngày xưa (trong những năm 1960, 1970, 1980…) xin vui lòng chia sẻ để minh họa cho bài viết thêm phong phú, xin trân trọng cám ơn quý vị.

Về tập tục đoàn người « lên đồng » trong buổi đi nghinh tống gió ngày cúng lễ Kỳ Yên, cúng cô hồn ở Hà Tiên, mình đã quên hết danh xưng của các vị thần linh nhập vào người lên đồng, quý vị nào còn nhớ tên những vị thần nầy xin thông tin góp ý thêm nhé. (thí dụ: Thái Tử Na Tra, ông Huỳnh Kỳ,…)

Tác giả trân trọng cám ơn quý anh chị, bạn học Hà Tiên đã tham gia đóng góp ý kiến và cho biết thêm nhiều chi tiết thông tin rất hay, sau đó đã có bổ sung vào bài để bài viết thêm phần phong phú, phản ảnh đúng những điều xảy ra trong lễ hội ngày xưa. (Chị Dương Hồng Châu, chị Trần Lệ Hà, chị Nguyễn Thị Hoa, bạn Lê Phước Dương, bạn Nguyễn Thị Điệp, bạn Sáu Tăng, bạn Lý Tòng Hiếu, bạn Thái Hải Vân, bạn Nguyễn Hữu Tâm…)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết. (TVM)

Lăng Ông Mạc Cửu (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, đối với thầy trò trường trung học Hà Tiên, khi nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nhớ đến giai đoạn ngày xưa trong những năm 60-70, biết bao nhiêu lần chúng ta, thầy lẫn trò, cùng kéo nhau lên núi Lăng (núi Bình San) để họp nhau vui chơi, kể chuyện, ăn uống tại chỗ rất vui, Hôm nay chủ đề chánh của bài là sẽ viết ngắn gọn và nhờ những hình ảnh sưu tầm để nhắc lại về gốc tích của ngôi đền thờ ông Mạc Cửu và sự thay đổi qua các giai đoạn thời gian.

Cũng theo thông lệ và nguyên tắc của Blog nầy, xin nhắc lại là bài viết chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

A/ Định vị trí của Lăng Mạc Cửu:

Có rất nhiều tên gọi để chỉ định lăng Mạc Cửu, nói chung ta có thể dùng từ « Đền thờ họ Mạc » để chỉ định ngôi đền nầy vì đền được dựng lên để thờ cúng tất cả các dòng con cháu nhà họ Mạc. Tuy nhiên còn có nhiều tên chữ để chỉ định ngôi đền như các tên: Trung Nghĩa Từ, Mạc Công Từ, Mạc Công Miếu, dân gian lại thường gọi là Miếu Ông Lịnh (vì đền thờ ông Mạc Thiên Tích và ông Mạc Thiên Tích được gọi là Mạc Lịnh Công).

Thực ra ngay từ lúc đầu khi vua Gia Long phong cho Mạc Công Du (con của Mạc Tử Hoàng, cháu nội của Mạc Thiên Tích) làm Trấn Thủ Hà Tiên (trong khoảng thời gian 1818 – 1829) thì ông Mạc Công Du bắt đầu cho dựng một ngôi đền gọi là Đền Mạc Công để thờ phụng ông nội là Mạc Thiên Tích. Ngôi đền nầy vách bằng cây, lợp lá đơn sơ nằm ở bên trái chùa Tam Bảo, trong khu phế tích thành quách cổ thời ông Mạc Cửu (vị trí nầy còn được xác định trong bản đồ người Pháp vẻ tay vào năm 1869 và ghi chú là Ruines). Lúc nầy đền còn có tên « Mạc Thiên Tứ Từ », tuy nhiên trong đền cũng thờ tất cả ba vị họ Mạc có tên là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, vì thế đền cũng được gọi là đền « Mạc Công Tam Vị ».

Sở dĩ đền thờ ba vị họ Mạc là vì ba vị họ Mạc nầy đều được sắc phong nhân thần của các vua nhà Nguyễn thời đó:

Mạc Cửu (1655-1735 thọ 81 tuổi): được vua Minh Mạng phong Trung Đẳng Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức cũng ban thêm các mỹ tự và vua Bảo Đại phong thêm Thượng Đẳng Thần.

Mạc Thiên Tích (1718 – 1780 thọ 63 tuổi): con của Mạc Cửu, được vua Minh mạng phong Đạt Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Mạc Tử Sanh (1769 – 1788 chết trẻ 20 tuổi): con của Mạc Thiên Tích, được vua Minh Mạng phong Trung Nghĩa Chi Thần, sau đó vua Thiệu Trị và Tự Đức ban thêm các mỹ tự.

Từ khi thành lập năm 1818 đến năm 1833, ngôi đền được con cháu họ Mạc và nhân dân chăm lo hương hỏa, cúng kiến. Đến năm 1833 lúc nầy có giặc phản loạn Lê Văn Khôi dấy binh đánh chiếm thành trì nhà Nguyễn (đời vua Minh Mạng), Mạc Công Du và các con ngả theo bên Lê Văn Khôi, đến khi họ Lê thất bại, Mạc Công Du và các con đều bị tội, lúc đó Mạc Công Du lại bệnh mất, cả nhà họ Mạc đều bị  vua kết tội, đền thờ họ Mạc bị bỏ hoang không ai dám chăm sóc…

Đến năm 1846 có quan thần nhà Nguyễn đời vua Thiệu Trị xin vua nghĩ đến công trạng của cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích nên nhà vua cho phép dựng lại ngôi đền mới nhưng xây cất tại vị trí mới, tọa lạc dưới chân núi Bình San, hoàn thành năm 1847, đó là ngôi đền Mạc Công Miếu hiện nay. Tuy nhiên từ lúc xây cất năm 1847, vì ngôi đền xây cất bằng gỗ, lợp ngói nên không duy trì được lâu dài với thời gian sau đó, chừng vài chục năm lại bị hư dột…

Đến năm 1897 có chí sĩ người gốc Hà Tiên tên là Nguyễn Thần Hiến thảo bài văn kêu gọi nhân dân Hà Tiên góp tiền góp sức trùng tu lại ngôi cổ miếu cất từ đời vua Thiệu Trị (bản văn của ông Nguyễn Thần Hiến vẫn còn lưu truyền tại đền Mạc Công Miếu hiện nay). Công việc trùng tu kéo dài đến năm 1901 mới xong (đó là công lao rất to lớn của ông Nguyễn Thần Hiến cùng với nhân dân và hội người Minh Hương ở Hà Tiên, người Hà Tiên chúng ta không ai là không biết đến tên gọi Nguyễn Thần Hiến, từ ngày xưa Hà Tiên đã có một bệnh viện và một con đường được mang tên Nguyễn Thần Hiến, ngày nay có ngôi trường mới cất sau nầy là trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Thần Hiến với pho tượng bán thân của ông ở ngay lối chánh vào trường). Trong đợt trùng tu nầy, có cất thêm nhà Võ Ca, bức tường bao quanh ngôi miếu và cổng Tam Quan. Lần trùng tu thừ hai là vào năm 2002 do Ban Bảo Vệ Di Tích Núi Bình San thực hiện. Lần trùng tu thứ ba là vào năm 2012, do Ban Di Tích tỉnh Kiên Giang thực hiện. Tuy vậy việc trùng tu đều tôn trọng giữ theo đúng hình dạng kiến tạo năm 1897 của thời ông Nguyễn Thần Hiến.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Ngôi đền Mạc Công Miếu được Mạc Công Du dựng đầu tiên vào năm 1818 nằm bên trái chùa Tam Bảo, ngôi đền nầy đã bị bỏ hoang phế sau năm 1833. Đến năm 1846 ngôi đền Mạc Công Miếu mới được xây dựng lại nhưng đã ở vị trí khác, tọa lạc dưới chân núi Bình San, ngay trước đền có một cái ao đã có từ đời ông Mạc Cửu (đào vào khoảng năm 1719).

Tuy việc dựng đền là để thờ cúng ba vị họ Mạc đi tiên phong trong công cuộc mở mang vùng đất Hà Tiên, nhưng thực sự trong đền đều có đủ cả các bài vị thờ hầu hết tất cả con cháu dòng họ nhà Mạc, có cả bàn thờ chư vị tướng lảnh phục vụ cho nhà Mạc và cũng có cả bàn thờ các vị phu nhân và bàn thờ Mạc Mi Cô tức bà Cô Năm, người con gái út của Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô chết rất trẻ lúc chỉ mới 14 tuổi.

B/ Các bộ phận của ngôi đền

  • Cổng tam quan và tường gạch cao chung quanh đền: Có ba cổng ra vào đền nhung cổng bên trái bít kín từ năm 1911 vì tôn kính bà Cô Năm.
  • Nhà Võ Ca: Có rất nhiều câu đối, những bài thơ Nôm trên những hàng cột.
  • Trù Phòng: Hai gian nhà bếp để phục vụ việc nấu nướng ngày xưa, nay là văn phòng và nhà kho.
  • Tiền Khu Chánh Điện: Một bức tường có ba lối vào ngăn nhà Võ Ca và Chánh Điện, có tấm biển đề tên Trung Nghĩa Từ và nhiều câu liễn đối.
  • Bái Đình: nền gạch hình vuông, có mái.
  • Đông Lang và Tây Lang: nơi đặt bài thờ gọi là Tiền Hiền, Hậu Hiền.
  • Chánh Điện: một ngôi nhà trệt ba gian, có tấm biển khắc tên và nhiều câu liễn đối. Đây là nơi đặt các bàn thờ chánh.
  • Hai bên tường tả và hữu; nơi chép các bài văn, thơ, vịnh…

C/ Khu lăng tẩm và các ngôi mộ nằm trên ngọn núi Bình San:

Toàn bộ mồ mả các vị quan, tướng, phu nhân, hầu thiếp nhà họ Mạc đều được chôn cất trên ngọn núi Bình San (ngọn núi Bình San có ba đỉnh riêng biệt). Theo tài liệu tổng kết của Ban Bảo vệ Di tích núi Bình San thì có khoảng 68 ngôi mộ được chỉnh trang, sơn phết và có bia khắc, đánh số để xác định tên tuổi. Mộ ông Mạc Cửu đánh số 1, mộ Mạc Thiên Tích đánh số 2, mộ Mạc Tử Hoàng đánh số 3…, mộ Bà Cô Năm Mạc Mi Cô đánh số 43…Điều đáng chú ý là tuy đền Mạc Công Miếu thờ ba ông được phong nhân thần là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, nhưng trong ba ông chỉ có Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích là có được mồ mả oai nghiêm còn Mạc Tử Sanh thì trong cơn biến loạn đã mất vì bệnh và không ai biết được mồ mả của ông chôn cát ở đâu.

Khi đi vào ngôi đền Mạc Cửu, nhìn bên phải có con đường lót gạch để dẫn đi lên khu các ngôi mộ. Ngoài ra chung quanh ngôi đền và đường lên khu mồ mả đều có trồng cây xanh, cây hoa kiểng rất xinh đẹp.

Hồi xưa lúc còn đi học trung học, các học sinh Hà Tiên thường kéo nhau cả nhóm lên núi Lăng chơi. Tuy nhiên lúc đó mình rất sợ và rất tôn kính ngôi đền ông Mạc Cửu và ngay cả khi đứng trước các ngôi mộ. Lúc vào trong chánh điện của đền thờ mình rất sợ, không dám nhìn thẳng vào các bài vị trên bàn thờ, và hoàn toàn im lặng không dám nói chuyện …Hồi xưa có rất nhiều tin đồn, chẳng hạn như người ta nói là khi mình chụp hình ngôi mộ của ông Mạc Cửu, khi đem phim đi rửa để ra hình thì thấy hình hoàn toàn màu đen không có hình ảnh gì cả,…, đó chỉ là lời đồn nhưng hồi xưa mình cũng tin ít nhiều…

Bức hình về ngôi đền Mạc Công Miếu xưa nhất có lẻ là hình nầy, trên tấm bưu thiếp nầy được người Pháp ghi là Pagode, vì người Pháp xem ngôi đền như là ngôi chùa, bưu thiếp được ký tên ngày 6 tháng ba năm 1909, như vậy bức hình nầy được chụp khoảng trước năm 1909, đền Mạc Công Miếu được trùng tu xong vào năm 1901.

Một bức hình xưa về đền Mạc Công Miếu trên một bưu thiếp do ngườì Pháp xuất bản, dấu ấn đóng trên con tem cho biết là Tây Ninh, ngày 23 tháng 11 năm 1909. (bộ sưu tập Poujade de Ladevèze)

Sâu đây là một số bưu thiếp do người người Pháp xuất bản cùng dạng, trên hình ta thấy đó là nhà Võ Ca trong đền Mạc Công Miếu sau khi được trùng tu lần đâu tiên.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Một trong hai bức tượng tướng quân đứng hai bên ngôi mả của Mạc Cửu, hình chụp từ sau lưng tượng, nhìn về phía cửa sông Giang Thành ra biển. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp vào năm 1953. (đây là hình bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 1953. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1960, người trong hình là Nguyễn Đình Nguyên, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Nguyễn Đình Nguyên

Lăng Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa, hình chụp tại bờ ao sen trước ngôi đền. Hình: Trần Văn Dõng

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm cuối của thập niên 1960, người trong hình là anh Trần Văn Dõng, một học sinh Trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Dõng. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên phải, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Ngôi mộ Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản. (ta thấy có hình bức tượng tướng quân đứng hầu bên trái, đây là bức tượng gốc nguyên bản từ lúc lập mả)

Nói thêm về hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên mả của ông Mạc Cửu: Từ lúc lập mả người ta có làm hai bức tượng hai tướng quân đứng hầu hai bên mả, tả hữu rất oai nghiêm, từ xa xưa, có nhà nhiếp ảnh người Hà Tiên Quách Ngọc Bá có chụp hình làm bưu thiếp về lăng ông Mạc Cửu và hình tượng tướng quân đứng hầu. Lúc còn nhỏ mình có thấy hình bức tượng nầy do ông QNB chụp, ông chụp một cách rất nghệ thuật từ sau lưng nhìn về phía trước và chụp gần nên thấy trong hình bức tượng rất to lớn. Đến khi học Trung Học (những năm 60 – 70), mình thường theo nhóm bạn lên lăng Mạc Cửu chơi trong những giờ vắng thầy, không có giờ học, lúc đó mới nhìn thấy hai bức tượng thật sự trước mắt thì mới biết là hai bức tượng có khuôn khổ vừa phải không to lớn như mình tưởng lúc còn nhỏ .

Đến sau khi chiến tranh biên giới ở Hà Tiên chấm dứt (sau những năm 1978-1979), hai bức tượng nguyên bản gốc nầy đã bị người ta trộm mất đầu…Sau đó một thời gian dài người ta làm đầu bằng xi măng và gắn lên thân tượng gốc bằng đá còn lại …Tuy nhiên hiện nay hai bức tượng đã được người ta làm lại mới hoàn toàn, có nét vẻ sơn phết tô màu cho đẹp, còn hai thân tượng cũ nguyên gốc ngày xưa thì đã được cất giữ đâu đó không có tin chi tiết rổ.

Lăng Mạc Cửu trong những năm 1970, hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Hà Tiên Quách Ngọc Bá xuất bản.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp trong những năm 1970-1980. Người đứng trong hình là Trần Văn Phi (em của Trần Văn Dõng và Trần văn Mãnh), một học sinh trường trung Học Hà Tiên thời xưa. Hình: Trần Văn Phi.

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 1974, ta còn thấy bức tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu bên phải. Trong hình là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, giáo sư Trung Học Hà Tiên trong những năm 1965 – 1969. Hình: Nguyễn Hồng Ẩn

Ngôi mộ Mạc Cửu: Hình trắng đen trái: Một trong hai pho tượng nguyên bản gốc quan tướng đứng hầu (vị trí đứng bên trái ngôi mộ), hình trích trong ảnh do ông Quách Ngọc Bá chụp vào những năm 1970. Hình màu phải: Một trong hai pho tượng làm lại sau những năm 1990 (vị trí đứng bên phải ngôi mộ), hình trích trong ảnh do Missak chụp vào năm 2006.

Toàn cảnh Lăng Mạc Cửu rất đẹp năm 1994. Hình: TVM

Trần Văn Mãnh với nhà nghiên cứu Sử Học Trương Minh Đạt, hình chụp trước cổng tam quan đền Mạc Cửu năm 1994. Hình TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1996. Hình: tạp chí Hà Tiên Thập Cảnh, nhà xuất bản Văn Hóa.

Lăng Mạc Cửu năm 1999, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 1999. Hình: tạp chí Hà Tiên, Đất nước&Con người, nhà xuất bản Mũi Cà Mau

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 1999. Hình trích từ video TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2006, hình chụp nhìn ra ngoài ao sen trước đền. Hình: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2006, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: ThoNau

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2007, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: DawnBreeze

Lăng Mạc Cửu năm 2008, lối vào nhà Võ Ca từ cổng Tam Quan nhìn vào. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: BuiThiDaoNguyen

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2008. Hình: LeDuyThuong

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2009. Hình: BuiThiDaoNguyen

Bút tích của nhà chí sĩ Nguyễn Thần Hiến vẫn còn ghi lại trên vách tường đền thờ nhà họ Mạc. Hình: BuiThiDaoNguyen, 2009

Lăng Mạc Cửu năm 2009, bên trong Tiền Khu Chánh Điện chụp ra phía ngoài ao sen. Hình: FamilleToan

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2010, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: TranNguyenMinhHuy

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích vào năm 2011. Hình: LaiMyThanh

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2011, lúc nầy hai bức tượng tướng quân đứng hầu hai bên tả hữu đã được thay thế bằng hai bức tượng mới. Hinh: LaiMyThanh

Cổng tam quan chánh đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2011. Hình: NguyenSauRieng

Bái Đình nền gạch vuông trước khi vào chánh điện. Hình chụp khoảng năm 2011

Cổng tam quan phía bên phải đi vào lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Nhà Võ Ca trong sân đền Mạc Cửu vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: TVM

Tiền khu chánh điện bên trong lăng Mạc Cửu chụp vào năm 2012. Hình: AaronGeddes

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2013. Hinh: LeThanhHoangDan

Ngôi mộ Mạc Thiên Tích chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: ThanhKieu

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2014. Hinh: JimGoodman

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Cổng Tam Quan chánh và cổng bên phải lăng Mạc Cửu vào năm 2014. Hinh: DauDinhAn

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Cửu chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Ngôi mộ Mạc Tử Hoàng chụp vào năm 2016. Hinh: ThomasTNguyen

Bên phải đền Mạc Cửu, có con đường gạch dẫn lên khu mồ mả nhà họ Mạc. Hình: Kiều Trang 2017

Cổng Tam Quan chánh vào đền Mạc Cửu vào năm 2017. Hinh: Kiều Trang

Bái Đình lăng Mạc Cửu, hình chụp từ trong Bái Đình nhìn ra phía ngoài ao sen. Hình: SoniaMaclean 2018

Sơ đồ các ngôi mộ nhà họ Mạc tọa lạc trên 4 khu vực trên toàn địa phận núi Bình San và danh sách các ngôi mộ có đánh số và ghi tên.

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời quý đọc giả xem thêm các bài viết có liên quan đến đền Mạc Cửu:

1/ Bài viết về nguồn gốc các ao sen trước ngôi đền Mạc Cửu.

2/ Bài viết về ngôi chùa Tam Bảo qua các giai đoạn thời gian.

3/ Xin mời bạn đọc xem thêm video dưới đây về buổi viếng thăm lăng Mạc Cửu của hai người bạn năm xưa Trần Văn Mãnh và Nguyễn Đình Nguyên vào tháng 11 năm 1999:

 

Điều đặc biệt của Đông Hồ, Hà Tiên (Quang Nguyên)

ĐIỀU ĐẶC BIỆT CỦA ĐÔNG HỒ

Chỉ nói đến hai từ “Đông Hồ” phải chăng là bạn đã nghĩ ngay đó là một cái hồ ở phía đông? Thật đúng vậy, nhưng đó chỉ đúng có 50% về mặt địa lý, còn số phần trăm còn lại là sai vì nó vốn không phải là cái hồ, mà là một cái “đầm phá” được tạo hóa đặt để ở phía Đông của một Hà Tiên thơ mộng.

« Không ảnh » (ảnh chụp từ trên máy bay) toàn cảnh Hà Tiên và Đông Hồ. Ta thấy từ trên xuống, bờ biển Mũi Nai, giữa hình là mũi nhọn Pháo Đài, một phần núi Tô Châu, dưới bên phải là « đầm Đông Hồ » rất rộng lớn, dưới bên trái là bắt đầu kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Hình: Don Griffin 1966-67

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Tuan Vo

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Cảnh Đông Hồ (Hà Tiên) thơ mộng ngày xưa. Hình: Quách Ngọc Bá

Hà tiên sẽ bớt thơ mộng đi nhiều phần nếu không có Đông Hồ, đó là ta chưa nói đến những lợi ích “phồn thực” mà nó mang đến như cá tôm thủy sản hay lợi ích thủy lợi vì nó điều tiết nước khi nước lũ sông Cửu Long ào ạt tràn về, nhớ ngày ấy khi các cánh rừng tràm trong Trà Ten hay Đầm Chích còn mênh mông bạt ngàn, thì nước của Đông hồ đã có hai màu rõ rệt, màu nâu đỏ của nước rừng tràm trong đồng và màu phù sa của dòng Giang Thành chảy ra…

Cái hồ không ra hồ, đầm không ra đầm ấy, nó còn mang đến từng đợt gió Đông Bắc thổi vào tháng chạp, để người Hà Tiên cảm nhận cái lạnh của mùa Đông đến một cách rõ ràng khác lạ với các tỉnh thành khác của miền Nam, ở các nơi đó người ta vốn chân chất thiệt thà mà nói về khí hậu của xứ mình:

         – Xứ tui chỉ có hai mùa: một mùa nóng với một mùa …“nóng thấy mồ!”

Còn với Hà tiên thì người Hà Tiên có thể tự hào nói rằng:

         – Xứ tui có bốn mùa rõ ràng à nhe!

Này nhé, mùa Xuân thì dễ biết, khi hoa mai trên núi nở rộ, khi mấy đứa nhỏ lấy cái thùng giấy cứng khoét mấy cái lỗ làm đầu lân và trưng dụng cái khăn tắm của má nó làm đuôi lân, dùng cái thùng dầu rỗng căng bao nylon và hai cây đũa bếp để « oánh » trống inh ỏi, ngoài đường xe nước do người kéo kết thành đoàn như xe lửa, tấp nập từ Ao Sen chở về đến từng nhà trong chợ để người dân tích nước cho những ngày Tết… Mùa Hạ không nóng lắm với vạn con ve sầu hát vang lừng và vài con chỉ ngưng hát khi lỡ dính vào đầu cây sào có chấm một chút mủ mít của thằng cu nào đó đang ngước mặt nhìn lên những đám mây phượng đỏ trên cây mà tìm ve sầu, trong khi chân hắn đang dẫm lên những cánh phượng tả tơi rụng kín sân trường… Mùa Thu xứ này mát lạ, không có lá rụng mà toàn là … nước rụng, không biết cơ man nào là nước từ trời đưa xuống cái vùng cư dân nhỏ bé này với lượng nước thuộc loại cao nhất nhì quốc gia, mưa như mấy ông bợm nhậu, vui cũng uống và buồn cũng uống, hoặc không vui chẳng buồn cũng lai rai… Các cơn mưa Hà Tiên cũng thế, nước lớn cũng mưa, nước ròng cũng mưa, áp thấp hay bão ở đâu đâu thì Hà Tiên cũng mưa thúi trời thúi đất … Đến khi ấy, nàng Đông Hồ xinh đẹp của chúng ta mới ra tay, trong tích tắc bao nhiêu nước thừa thãi từ bồn, từ lu hũ của các gia đình đã hứng tràn, từ đường phố, từ mương rãnh, ao đìa, đồng ruộng… nàng cũng bao thầu hết dù với nàng suốt bốn mùa quanh năm thì – « nước nôi luôn đầy đủ! »

Ấy thế mới nói nàng Đông Hồ đặc biệt ở một xứ sở rất đặc biệt, còn tôi thì thích gọi Đông Hồ là “nàng Đông Hồ” vì vẽ đẹp quyến rủ của nàng đã mê hoặc tôi, và sự hy sinh thầm lặng đó của nàng như những bà mẹ, bà vợ, bà chị… chung quanh chúng ta, sự hy sinh của nàng đã thuyết phục cái não trạng tự cho là duy lý của tôi để rồi từ ngưỡng mộ, đến khâm phục và yêu luôn nàng từ xưa lắm…

Có những cái rất đặc biệt nơi Hà Tiên của chúng ta, những điểm đặc biệt về địa lý thì sách vở đã nói nhiều, những điều hay về văn chương thì muốn viết ra cũng phải hàng tấn giấy mực, còn công sức của bao người bao đời, của những anh hùng hào kiệt và tao nhân mặc khách thì nhiều như cây trên các ngọn núi chung quanh Hà Tiên hay nước của Vịnh Thái Lan vào ra xứ sở này… tôi không nhắc đến nơi đây, mà tôi muốn nói đến một cái “rất rất đặc biệt” khác.

Đó là câu chuyện của thường nhật, của quanh năm suốt tháng, cho dù khi ấy phía đông của nàng Đông Hồ đang lấp ló ánh hừng của rạng đông, hay phía tây của nàng đang đỏ bầm chạng vạng, cho dù khi ấy trăng mười sáu tháng tám soi bóng lung linh trên gương mặt khả ái của nàng, hay khi ấy là màn đêm thâm u sâu thẩm của đêm trừ tịch, cho dù hôm ấy gió mùa bấc thổi lạnh buốt từng cơn, hay trưa hè đứng gió, cho dù hôm đó là ngày Tết khiến cả Hà Tiên thay áo mới hay mưa thu đẫm ướt sụt sùi chèm nhẹp mấy ngày không dứt… thì người Hà Tiên vẫn nhớ và vẫn đến thăm nàng Đông Hồ đều đặn, thế mới thấy người Hà Tiên yêu nàng đến chừng nào…

Đó chẳng phải là điều đặc biệt lắm sao?

Người chưa đến gặp nàng thì căng thẳng, hấp tấp vội vàng như đang có điều chi sầu muộn, kẻ đã gặp nàng trở về thì tươi tắn rạng ngời… Và rồi cũng những người ấy của ngày hôm sau, vẫn vào những khoảnh khắc nhất định, họ phải đến gặp nàng cho bằng được rồi sau đó họ mới bắt đầu an tâm cho những sinh hoạt thường nhật của mình, quả thật nàng Đông Hồ đã có sức hấp dẫn diệu kỳ.

Nàng dành cho người Hà Tiên có một địa điểm để cùng đến thưởng thức trăng thanh gió mát, để chiêm ngưỡng mặt hồ, để ngắm núi Tô Châu, để thấy đám sương sớm tháng tám lãng đãng trôi nhẹ nhàng từ mặt hồ ra cửa biển đang thì nước đứng … Người ta chẳng hẹn mà gặp cùng nhau nơi đây, có thể ban đầu sơ giao mà lâu ngày thành quen, quen cả “cái cử” nhu cầu thiết yếu của nhau, thế mới đặc biệt! Tôi thì không biết đã có những mối tình nào được se duyên từ cái địa điểm đặc biệt này của nàng Đông Hồ hay chưa, bởi như mô tả thì nơi đây cũng rất đáng để “tức cảnh sinh tình”.

Nhưng, có chuyên này là có thật, một bạn nữ học chung trường Trung Học Hà Tiên, bạn này rất lém lỉnh, một hôm bạn nói với tôi rằng:

           – Sao bạn không viết về Đông Hồ? Hồi nhỏ hàng ngày tui thường ra nhà “thủy tạ” để … làm thơ!

Rồi tui chợt nhận thấy rằng mình không thể viết về Đông Hồ như mọi người đã biết về nơi ấy, mọi sự mô tả của tôi sẽ trở nên nhạt nhẽo và khuông sáo, bởi các văn nhân đã dùng mọi mỹ từ có ở trên đời để ca ngợi người đẹp Đông Hồ của xứ Hà Tiên mà vẫn không thỏa lòng độc giả, vậy thì làm sao mình “có cửa”?

Vậy nên, tôi phải viết về Đông Hồ theo một cách khác.

“Nhà thủy tạ” của Đông Hồ cũng là một nơi nên được nhớ trong chuỗi ngày dài qua đi một cách vội vã vô tình, rồi đây sẽ không còn mấy ai được biết những điều rất đặc biệt của xứ sở rất đặc biệt này, bởi nơi đây từng rất quen thuộc, người Hà Tiên chấp nhận nó một cách tự nhiên, gặp gỡ nơi đây cũng tự nhiên như chào nhau mỗi sáng ngoài phố hay hỏi nhau vài câu buổi chiều, điều đó làm cho tính cộng đồng của xứ sở được gắn kết chặt chẽ, người ta có thể thông tin cho nhau chuyện hàng xóm phố phường, chuyện ông nọ đau hay bà kia ốm trong phố mình, kể cả chuyện quốc tế có tổng thống Mỹ Dây Gân (Reagan) thay thế Dây Tơ (Carter)… rồi cùng mỉm cười ngắm đàn cá đông như một đội quân lính đang tích cực dọn dẹp soàn soạt dưới nước!

Một trong những nhà « Thủy Tạ » đặc biệt của Hà Tiên, được dựng trên Đông Hồ, nhìn qua núi Tô Châu, đối diện với trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa. Hình: TVM

Nàng Đông Hồ của tôi giờ đã không còn nhà “thủy tạ”, nàng cũng đã bớt đẹp đi vì nhan sắc bị người đời vùi dập, thế nhưng trong ký ức của những người già và người trung niên của Hà Tiên thì hình ảnh ấy vẫn nguyên vẹn như ngày nào…

Đó là sự vận động tất yếu của thời gian.

Để kết bài này, tôi mượn câu thơ của Hồ Xuân Hương mà cảm thán rằng:

                            “…Người xưa cảnh cũ còn đâu tá?

                           Ngơ ngẩn lòng thu khách bạc đầu”

Tác giả Quang Nguyên

12/2018

 

Tái Bút: Sau khi đọc bài và giới thiệu bài viết của bạn Quang Nguyên, mình cũng có vài cảm nghĩ về các đặc biệt của Đông Hồ…Thật vậy, cái đặc biệt mà bạn Quang Nguyên đã nói đến là chỉ có ở đất Hà Tiên của chúng ta mà thôi, và các điều đó đã được người Hà Tiên chúng ta chấp nhận một cách tự nhiên, không miễn cưỡng và cũng không mắc cở che dấu…Nhà Thủy Tạ là nơi gặp gở giữa trai tài gái sắc của Hà Tiên, nhiều khi kẻ đi ra người đi đến, chào nhau thân mật và mỉm cười thông cảm….(hiểu nhau …). Lại còn có lúc nhiều thi sĩ làm thơ cùng một lúc, nhà không còn đủ chỗ để tiếp khách, ngay khi có chỗ trống, có bạn đang chờ lại rất tử tế nhường chỗ cho bạn mình vào trước, còn mình thì vẫn còn rảnh rỗi vào sau cũng không sao…Chả trách chi Thầy Nguyễn Phúc Hậu vì vừa quá ngạc nhiên khi vừa mới đến « định cư » ở Hà Tiên để di dạy học, vừa cảm kích cái vẻ đẹp của đêm trăng Phương Thành trên Đông Hồ nên mặc dù đã rời xa Hà Tiên từ lâu nhưng thầy vẫn còn đủ cảm hứng để viết lên vài vần thơ ca tụng cái thao tác « làm thơ ngắm trăng » của đêm Đông Hồ….(TVM)

Thầy Nguyễn Phúc Hậu có làm bài thơ   » TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH  » để ghi dấu kỷ niệm khó quên khi thầy mới chân ướt chân ráo đến Hà Tiên để bộc bạch niềm luyến tiếc nhớ nhung khi xa đất Phuơng Thành. Đó là những hình ảnh của Hà Tiên 50 về trước , bây giờ không còn nữa.

TRĂNG SÁNG PHƯƠNG THÀNH
 
Trăng thanh soi chiếu chốn từng không,
Gió nhẹ hây hây mát cõi lòng.
Hòn Ngọc bỗng trầm gieo đáy nước,
Cá bầy hoan hỉ đớp trên sông.
Êm vang tiếng địch* làm vương vấn,
Nhẹ trút cơn sầu thỏa đợi trông.
Viễn khách có ai về bến cũ,
Phương Thành xin gởi trọn thương mong.
 
Nguyễn Phúc Hậu.
Ottawa 18.03.2015
( Viết lại từ bài Phương Thành Lạc Bích, sáng tác tháng 10/1969 để
ghi lại những kỷ niệm vui buồn ở Hà Tiên)
 
* Tiếng « địch »: tiếng sáo….
 
Mời quý vị xem thêm bài viết nầy rất hay và cũng cùng một chủ đề đây nhé,…
 
 

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) qua các giai đoạn thời gian (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, ở Hà Tiên ai trong chúng ta cũng biết chùa Tam Bảo, từ xa xưa ngôi chùa cổ kính và trang nghiêm nầy đã rất quen thuộc với chúng ta qua những ngày hội cúng kiếng dâng lễ Phật, cho tới những lần đến chùa du ngoạn và thăm thầy, bạn vì có một vài thầy và trò đã từng ở trọ trong chùa để đi dạy hoặc học tại trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa. (thầy Nguyễn Lê Hùng, Hồ Quang Điệp trong những năm thập niên 60 đã ở trọ trong chùa Tam Bảo Hà Tiên. Sau nầy trong những năm cuối thập niên 60 có bạn Ngọc người Rạch Giá cũng có xin ở trọ trong chùa Tam Bảo để đi học tại trường Trung Học Hà Tiên, Ngọc học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lê Công Hưởng, Nguyễn Đình Nguyên,..v..v..)

A/ Vài ý cần giới thiệu trước khi vào bài:

Trước khi đi vào đề tài chính về lai lịch của chùa Tam Bảo, mình xin nhấn mạnh một vài điểm sau đây:

1/ Toàn tỉnh Kiên Giang có đến hai ngôi chùa mang cùng tên Tam Bảo:

Một chùa nằm tại địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Chùa nầy do một người thường dân tên là Dương Thị Oán cất vào những năm cuối thế kỷ 18 với kết cấu đơn sơ.Trong thời gian bị nhà Tây Sơn truy đuổi, Chúa Nguyễn Ánh đã từng trú ẩn tại đây và được bà Oán tặng vài cuộn tơ tằm quý để cột quai chèo thuyền không đứt khi vượt biển. Vì vậy sau khi lên ngôi, năm 1803, vua Nguyễn nhớ ơn đã ban biển Sắc Tứ cho chùa, từ đó, chùa được gọi là Sắc Tứ Tam Bảo Tự.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 3 đường Sư Thiện Ân, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Chùa Tam Bảo thứ hai nằm tại địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Chùa Tam Bảo ở Hà Tiên cũng được vua nhà Nguyễn ban Sắc Tứ nên trước cổng chùa có đề tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự. Vậy chúng ta để ý đừng định vị sai lầm hai ngôi chùa cùng tên nầy. Có rất nhiều trang du lịch trên mạng dùng hình của chùa Tam Bảo ở Rạch Giá mà lại mô tả minh họa cho chùa Tam Bảo ở Hà Tiên (cũng như các trang đó dùng hình ảnh Hang Cá Sấu thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để mô tả và minh họa cho Hang Đá Dựng thuộc phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang…!!). Chủ đề của bài viết nầy nói về ngôi chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Cổng chùa và ngôi chùa Tam Bảo ở địa chỉ số 75, đường Phương Thành, phường Bình San, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Hình: Nguyễn Tấn Trung

2/ Bài viết nầy chỉ nhằm mục đích phổ biến rộng rải một cách bình dân những kết quả của các nghiên cứu do các nhà khảo cứu về vùng đất Hà Tiên và sự nghiệp họ Mạc (như tài liệu « Họ Mạc với Hà Tiên » trong tập « Nghiên Cứu Hà Tiên » của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, 2017,..v..v..) do đó bài không đi sâu dẫn chứng tư liệu phần lớn uyên bác và rất cần sự chú ý nghiêm túc mới thấm nhuần được các lý giải, dẫn chứng về các kết luận khoa học. Để được hiểu thêm sâu rộng, thầy cô và các bạn có thể tiếp tục đọc sách chuyên và tra cứu trên mạng những bài đã xuất bản về chủ đề nầy.

3/ Để đính chánh một lần thứ « n » nữa về các nhận định có tính chất sai lầm về lịch sử Hà Tiên nói chung và về nguồn gốc chùa chiền ở Hà Tiên nói riêng, mình xin nhấn mạnh ở đây điểm nầy: Trong suốt cuộc đời phiêu lưu và định cư ở miền đất Hà Tiên theo nghĩa rộng (tức là nói chung về các địa điểm mà Mạc Cửu đã từng xuôi ngang dọc trong suốt thời kỳ bắt đầu đi theo thương thuyền buôn bán ở miền biển phía Nam Trung Hoa), Mạc Cửu có xây dựng hai ngôi chùa: Chùa thứ nhất lập ra ở đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Theo truyền thuyết kể lại, vào năm 1718 khi Mạc Cửu đem gia quyến đi chạy giặc Xiêm từ Hà Tiên qua Lũng Kỳ, có một cái đầm nước tại đây tự nhiên nổi lên một tượng Phật cao bảy thước, tỏa hào quang rực rỡ. Lúc đó có một nhà sư Chân Lạp đi ngang qua thấy vậy bảo đó là điềm tốt, báo hiệu sẽ có một hiền nhân xuất hiện. Mạc Cửu sai người vớt lên nhưng bao nhiêu người cũng không khiêng lên được. Ông đành xây một ngôi chùa nhỏ ngay trên bờ đầm để thờ gọi tên là chùa Lũng Kỳ. Ít lâu sau, phu nhân của ông sinh hạ được một cậu trai mặt mày khôi ngô tuấn tú. Thấy hợp với điềm lành, Mạc Cửu đặt tên con trai là Thiên Tứ (nghĩa là trời ban tặng). Ngôi chùa thứ hai cũng do Mạc Cửu làm ra chính là chùa Tam Bảo ở Hà Tiên, lúc đầu chỉ là chùa nhỏ đơn sơ lợp lá dựng ở phía sau dinh thự của ông ngay tại trung tâm Hà Tiên, cốt yếu để cho mẹ của ông tu dưởng ở đó.

Về ông Mạc Thiên Tích thì trái với tin và chuyện đời truyền khẩu cho đến hiện tại bây giờ vẫn còn người tiếp tục giải thích: Mạc Thiên Tích không có xây dựng ngôi chùa nào cả (kể cả ngôi chùa Phù Dung gọi là Phù Dung Cổ Tự). Người ta thường ghép và thi vị hóa cho rằng Mạc Thiên Tích xây chùa Phù Dung cho bà Dì Tự tu vì bà đã chán cảnh đời, nhưng sự thật là không phải như vậy, vì chiếu theo niên biểu của Mạc Thiên tích (1718 – 1780) và nguồn gốc chùa Phù Dung thì ta thấy có sự chênh lệch về năm tháng rất lớn: chùa Phù Dung cũ được xây trước năm 1833 tại chân núi Phù Dung (núi Đề Liêm) và đã bị giặc Xiêm phá hủy năm 1833. sau đó chùa Phù Dung mới được nhân dân dựng lên vào năm 1846 ngay tại chân núi Bình San. Như vậy vào năm 1846 (tức là trong vòng 66 năm sau khi Mạc Thiên Tích qua đời) giai đoạn của chùa Phù Dung mới thì hoàn toàn không có mặt ông Mạc Thiên Tích. Chúng ta cần đính chánh rỏ cho khách du lịch và những người còn chưa hiểu rỏ về việc nầy để lịch sử không bị sai lệch. Tóm lại Mạc Thiên Tích không có xây cất ngôi chùa nào cả, ông chỉ dựng Miếu thờ Khổng Tử cùng với công trình xây cất ngôi nhà Chiêu Anh Các (1736-1771) mà thôi.

B/ Các giai đoạn của chùa Tam Bảo Hà Tiên:

Về nguồn gốc của chùa Tam Bảo Hà Tiên, ta có thể phân ra thành 5 giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn 1: Sau khi Mạc Cửu đến định cư ở đất Mang Khảm (Hà Tiên) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp, mở ra thôn xóm. Đến năm 1708, ông dâng đất cho chúa Nguyễn và được phong làm Tổng Binh, đất Mang Khảm được gọi là Hà Tiên Trấn. Thời kỳ nầy được an lành, cơ ngơi được ổn định cho đến năm 1718 thì quân Xiêm sang xâm chiếm Hà Tiên, Mạc Cửu phải chạy giặc qua Lũng Kỳ tị nạn. Trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến năm 1718, mẹ của ông Mạc Cửu (Thái Bà Bà) ở quê nhà Trung Quốc được ông cho người rước qua Hà Tiên vì bà có tỏ lòng nhớ con, mặc dù đã được 80 tuổi, mẹ ông ngỏ ý muốn đi tu vì sùng mộ Đạo Phật và ở lại luôn ở Hà Tiên. Mạc Cửu cho xây một ngôi chùa nhỏ phía sau dinh thự của ông cho mẹ an vị tu hành. Chùa nầy chính là chùa Tam Bảo của Hà Tiên hiện nay mặc dù ngôi chùa Tam Bảo hiện nay không phải là nguyên dạng hình ảnh của ngôi chùa ngày xưa vì đã được xây đi cất lại qua nhiều giai đoạn. Tuy nhiên ta có thể xem như vị trí của ngôi chùa Tam Bảo từ trước năm 1718 do Mạc Cửu cất cho đến nay cũng vẫn là một khuôn viên tuy diện tích có thể nhỏ lớn khác nhau theo từng thời kỳ. Cũng trong thời kỳ nầy, Thái Bà Bà mẹ của Mạc Cửu mất, ông chôn cất mẹ phía sau chùa, có cho đúc một tượng Phật và một cái chuông lớn để tôn thờ  tưởng niệm người mẹ. Sau đó giặc Xiêm chiếm đóng Hà Tiên (1718), Mạc Cửu cùng gia quyến chạy ra Lũng Kỳ tị nạn. Thành trì và chùa Tam Bảo lúc đó đều bị quân Xiêm phá nát, người chết quá nhiều chung quanh khu thành, đất đai trở nên âm u yếm khí nên sau khi trở lại Hà Tiên năm 1719 khi giặc Xiêm chấm dứt, Mạc Cửu xây dựng lại nhà ở, chọn nơi cao ráo sách sẽ ngay trước cái ao sen do ông cho đào ở núi Bình San lúc trước, chủ yếu chọn nơi cao để tránh ô nhiểm, đó là ngay chỗ có ngôi Đền Mạc Công Miếu hiên nay. Ngôi chùa Tam Bảo lúc trước đó bị phá hủy và không ai xây cất lại nữa. Trong suốt thời gian từ 1719 đến năm 1771 (tức 52 năm) không ai cất chùa lại. Trên địa thế khu phế tích của Mạc Cửu đó chỉ còn lại vài ba cái tháp (khoảng 3 cái tháp theo ghi nhận trên bản đồ Pháp vẻ năm 1869). Theo các khảo cứu thì đó là tháp của quý sư ông trụ trì đời Lâm Tế thứ 35, thứ 36 và bảo tháp của Thái Bà Bà, mẹ ông Mạc Cửu (hiện vẫn còn ba cái tháp nầy tại khuôn viên chùa Tam Bảo hiên nay). Đặc biệt là trong khuôn viên chùa Tam Bảo, hoàn toàn không có các tháp của quý sư đời Lâm Tế thứ 37, 38 và 39 vì sau năm 1719 không có chùa nữa. Một vài giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng không thuận tiện cho việc cất chùa lại là trong khoảng 1771-1773, quân Xiêm lại chiếm đóng Hà Tiên, khoảng 1775-1777 quân Tây Sơn đến Hà Tiên tình hình rất hổn loạn bất an.

Bản đồ do người Pháp vẻ tay vào năm 1869 khu vực Hà Tiên. Ô vuông đứng màu vàng phía trên là khu phế tích dinh thự thành quách của Mạc Cửu, trong đó có ghi rỏ vị trí chùa Tam Bảo đầu tiên và ba hình tròn nhỏ xem như ba bảo tháp còn lại. Khu ô chữ nhật màu vàng phía dưới là khu thành cũ của Mạc Thiên Tích xây dựng.

Vị trí chùa Tam Bảo nằm trong khu phế tích (thành xưa) của Mạc Cửu

2/ Giai đoạn 2: Đến đời Gia Long (1802-1819) vua cho người về Hà Tiên kiến thiết xứ sở (1811). Lúc nầy nhân dân lập lại chùa Tam Bảo và có sắc phong của vua nên chùa được mang tên Sắc Tứ Tam Bảo Tự cũng ngay tại chỗ cũ. Đến năm 1834 giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên nữa, chùa lại bị hư hại, rốt cuộc lần nầy chùa chỉ tồn tại trong vòng 23 năm. Cho đến khi người Pháp chiếm Hà Tiên (1867) và thực hiện bản đồ vẻ tay (1869) chùa Tam Bảo vẫn chưa được cất lại vì trong bản đồ chỉ ghi « Ruines » tức là phế tích mà không có ghi rỏ chùa chiền (Pagodes) nào cả.

3/ Giai đoạn 3: Đến năm 1901, chùa Tam Bảo được tái thiết lại bằng gỗ và có tượng Phật được an vị trên nền đất. Trong thời gian nầy có sư Phước Ân đời Lâm Tế thứ 40 đến chùa trụ trì cho đến năm 1920.

4/ Giai đoạn 4: Vào năm 1920 sư trụ trì cho khởi công xây lại chùa và công việc hoàn thành vào năm 1930. Trong chùa mới xây lại nầy sư cho tôn cao lên nền chánh điện và an vị tượng Phật trên cao. Sư trụ trì cũng cho trồng một hàng cây sao. Sư Phước Ân viên tịch năm 1946, tháp của sư cũng nằm sau chùa cùng với ba bảo tháp ngày xưa. Trong thời gian xây lại chùa, sư trụ trì có mời một bác sĩ người Pháp tên là Isnard đến ở tại chùa, trong một ngôi nhà tân thời vào thời đó, ngôi nhà nầy chính là ngôi nhà liêu dành cho quý sư trụ trì, nằm bên trái chùa. Lúc khánh thành chùa mới xây xong, có vị sư đời Lâm Tế thứ 39 ở Sài Gòn về dự và có vợ chồng Tri Huyện ở Rạch Giá cúng dường một quả chuông có khắc chữ ghi nhận sự kiện khánh thành chùa mới nầy.

5/ Giai đoạn 5: Đến năm 1974 có Ni sư Thích Nữ Như Hải về chùa Tam Bảo trụ trì. Vì từ khi chùa được kiến tạo năm 1930, Hà Tiên cũng bước qua nhiều giai đoạn chiến tranh biên giới, ngôi chùa cũng đã bị hư hao nhiều. Sư bà đã tổ chức trùng tu và kiến tạo một số công trình như: An vị tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên cao 5m, nặng 7 tấn ở vườn cây trước chùa, trùng tu chánh điện và nhà Tổ năm 1979, an vị tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền dưới cội bồ đề năm 1983 ở sân trước chùa, an vị tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn năm 1987 sau điện Phật, xây dựng cổng tam quan, phục chế bức tường đã sụp đổ năm 1992, an vị đài Di Lặc năm 2000 ở sân giữa chùa, an vị tượng Di Mẫu và 6 vị Tỳ kheo ni năm 2003 ở sân trước chùa. Hiện nay ngôi chùa Tam Bảo đã có một quy mô rất lớn, hai bên chùa cũng có xây cất nhà cữa cao ráo, chùa được sơn phết lại, cổng chùa xây cất rất hoành tráng, sân chùa có rất nhiều tượng Phật đủ tư thế,…Nhìn chung đó là nơi để du khách đến hành hường, tham quan và chiêm ngưởng tưởng nhớ người xưa, nhưng cũng gần như mất mát đâu đó một chút hồn thiêng của ngôi chùa xưa đất Hà Tiên xa xưa, của phong cảnh mộc mạc, bình dị của một ngôi chùa thuở ban đầu với chất liệu đơn sơ…

C/ Những gì còn lại sau khi ngôi chùa đầu tiên bị giặc Xiêm phá hủy năm 1718?

Sau khi mẹ của ông Mạc Cửu tu trong chùa Tam Bảo đầu tiên do Mạc Cửu lập ra, và đã hóa thân khi bà tụng niệm trước bàn thờ Phật, Mạc Cửu đã lập mộ của mẹ phía sau chùa, đồng thời truyền thuyết cho rằng ông cũng cho đúc kim thân của mẹ để thờ phụng, đúc tượng Phật A Di Đà và cũng có cho đúc một Đại Hồng Chung để trong chùa (có thuyết cho là ông cho người thỉnh từ Trung Hoa sang kim thân A Di Đà và  chiếc chuông nầy). Theo cái nhìn phân tích có tư liệu và khoa học của các nhà nghiên cứu sau nầy, đặc biệt là tác giả Trương Minh Đạt, quý ông cho rằng ngôi mộ bảo tháo của Thái Bà Bà, mẹ của Mạc Cửu vẫn còn ở sau chùa Tam Bảo hiện nay. Về ngôi tượng kim thân của mẹ Mạc Cửu thì đã không còn hay không hiện hữu, về kim thân A Di Đà thì vẫn còn an vị trong chánh điện của chùa hiện nay, tuy nhiên qua bao nhiêu thời gian và bao chinh biến, bức tượng Phật đã được sơn phết nhiều lớp nên rất khó xác định nguồn gốc. Còn quả Đại Hồng Chung thì hiện nay trong chùa vẫn có một quả chuông đồng xưa, nhưng vì chữ khắc trên chuông quá mờ không đọc rỏ ra, các nhà nghiên cứu cho rằng đó chính là quả chuông của một cặp vợ chồng Phật Tử (Tri Huyện ở Rạch Giá) cúng dường lúc làm lễ khánh thành chùa mới cất xong (1930). Lý lẻ có thể tin được là trong các thời gian có giặc Xiêm xâm chiếm Hà Tiên, cả ngôi tượng Phật, quả chuông đồng khó thoát khỏi sự tàn phá hủy hoại hay lấy cướp của giặc Xiêm. Tuy nhiên có một điều là sự thật và cũng là niềm an ủi lớn cho hậu bối như chúng ta là mặc dù đã sau nhiều lần xây cất sửa chửa lại, người ta vẫn còn giữ một vài vách đá xưa, vết tích của hào thành của Mạc Cửu thời đó, vách thành sau hơn 300 năm vẫn còn đứng vững mặc dù chỉ xây bằng vật liệu của thời đó, vật liệu làm bằng vôi và ô dước, mong rằng những vị có trách nhiệm quản lý ngôi chùa Tam Bảo hiện nay hãy quan tâm bảo tồn di tích duy nhất nầy còn lại nầy trong khuôn viên phế tích của thời Mạc Cửu….

D/ Về tên gọi « Chùa Tiêu ».

Tên gọi « Chùa Tiêu » được dẫn ra trong bài thơ « Tiêu Tự hiểu chung » (có nghĩa là chuông sớm ở chùa vắng) một trong 10 bài thơ nôm của Mạc Thiên Tích trong tập thơ « Hà Tiên thập cảnh khúc vinh » (cũng là một trong những bài thơ chữ Hán trong tập « Hà Tiên thập vịnh » của Mạc Thiên Tích). Có rất nhiều lý luận và kết luận về vị trí của ngôi chùa Tiêu nói trong bài thơ. Có ba khẳng định như sau: 1/ Chùa Tiêu là chùa ở núi Địa Tạng gần khu Thạch Động, 2/ Chùa Tiêu là chùa Phù Dung cũ ở núi Phù Dung (Đề Liêm), 3/ Chùa Tiêu tức là chùa Tam Bảo hiện nay. Cả ba kết luận nầy rất khó mà phán xét đúng hay sai lầm. Tuy nhiên xét theo lý giải khoa học và tổng hợp, so sánh các niên biểu  thì ta thấy chùa Tiêu có thể là ngôi chùa Phù Dung xưa, được cất trước năm 1833 và đã bị phá hủy sau đó khi có giặc Xiêm đánh phá Hà Tiên (1833). 

Ta hãy chiếu theo các niên biểu sau đây:

Khi Mạc Thiên Tích được sinh ra ở Lũng Kỳ (1718) và khi ông được Mạc Cửu đưa gia đình trở lại Hà Tiên (1719) thì chùa Tam Bảo (chùa của giai đoạn 1 đầu tiên) đã bị giặc Xiêm phá hủy. Vậy trong suốt thời gian còn trẻ thơ của Mạc Thiên Tích ông không có nghe tiếng chuông nào của chùa Tam Bảo..!! Đến khi chùa Tam Bảo được nhân dân cất lại vào năm 1811 thì Mạc Thiên Tích đã mất từ lâu (ông mất năm 1780). Vậy nói chùa Tam Bảo là chùa Tiêu có phần không hợp lý. Giai đoạn ra đời và hoạt động của thi đàn Chiêu Anh Các tại Hà Tiên là từ 1736 đến 1771. Chùa Phù Dung cũ được cất vào năm nào không ai rỏ, chỉ biết là chùa đã có từ trước năm 1833 và khi đến năm 1833 giặc Xiêm phá hủy chùa tan nát. Vậy nếu Mạc Thiên Tích có làm thơ nói về tiếng chuông chùa thì chùa Phù Dung cũ phải có mặt từ trước năm 1771 tức là năm mà tòa nhà Chiêu Anh Các bắt đầu bị bỏ hoang phế. Trên sơ đồ ta thấy nếu đặt giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung cũ được cất vào năm 1765 hay trước đó nữa thì Mạc Thiên Tích mới nghe được tiếng chuông và làm thơ ca ngợi trong bài « Tiêu Tự hiểu chung ». !! Trong sơ đồ có phần chữ nhật màu đỏ chính là phần tương ứng với sự có mặt đồng thời giữa hoạt động thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và sự hiện diện của chùa Phù Dung cũ (dĩ nhiên là trong giả thuyết là chùa Phù Dung cũ phải được cất lên vào những năm trước năm 1771). Một ngôi chùa có thể được tồn tại rất nhiều năm mặc dù chùa được cất đơn sơ, nếu ta chấp nhận cho chùa Phù Dung cũ được vững vàng trong một thời gian ít nhất là 68 năm tính từ khi được cất lên (1833 -68 = 1765) cho đến lúc bị phá bỏ (1833) thì rất có khả năng thi đàn Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích và chùa Phù Dung cũ cùng hiện diện trong khoảng một thời gian (1771- 1765 = 6 năm) , 6 năm thời gian đủ để Mạc Thiên Tích nghe tiếng chuông chùa vào mỗi buối sáng sớm…và làm ra bài thơ…!!

Còn nói chùa Tiêu chính là chùa Địa Tạng ở núi Địa Tạng gần Thạch Động thì không ổn lắm vì chùa Địa Tạng cách chùa Phù Dung mới (ở núi Bình San hiện nay) là 6 dặm tức (6*0.720 km = 4.32 km vì một dặm = 0.72 km) như vậy chùa Địa Tạng ở quá xa vùng Bình San nơi có Chiêu Anh Các ngày xưa, Mạc Thiên Tích không thể nghe tiêng chuông vào buổi sáng được. Vả lại không ai biết chùa Địa Tạng được xây cất vào năm nào, đến năm 1946 chùa vẫn còn đứng vững, sau đó đến thời kỳ chiến tranh thì chùa mới bị hư hại.

Còn giả thuyết cho rằng chùa Phù Dung mới (được nhân dân cất lại tại núi Bình san năm 1845-1846 thì hoàn toàn không hợp lý vì lúc đó Mạc Thiên Tích đã qua đời từ rất lâu rồi (ông mất năm 1780).

Tóm lại chùa Tiêu được nhắc tới trong thơ Hán và Nôm của Mạc Thiên Tích qua bài « Tiêu Tự hiểu chung » :

Rừng Thiền sít sát án ngoài tào
Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao

chính là ngôi chùa Phù Dung cũ được cất trước năm 1833 tại núi Đề Liêm (lúc xưa còn có tên chánh thức là núi Phù Dung), chùa nầy chỉ cách núi Bình San nơi có ngôi nhà Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tích ở khoảng không đầy 1 km. Nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt khẳng định chùa nầy chính là chùa Tiêu mà Mạc Thiên Tích nói trong bài thơ nàm trong tập thơ của Chiêu Anh Các. Mong rằng các nhà văn học, nghiên cứu lịch sử xem xét và tán thành ý kiến nầy.

Vị trí chùa Tam Bảo (Hà Tiên) so với bản đồ thành phố Hà Tiên hiện nay.

Bức hình chùa Tam Bảo (Hà Tiên) xưa nhất hiện nay chúng ta có (1957) :Hình: KimLy

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình do nhiếp ảnh gia nổi tiếng Quách Ngọc Bá xuất bản vào những năm 60-70

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1993. Hình: Phương Nguyên, 2013

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1994. Hình: TVM

Ao Sen phía sau nhà liêu sư trụ trì, bên trái chùa Tam bảo (Hà Tiên) năm 1994. Hình: TVM

Bên trái: Nguyễn Đình Nguyên, bên phải: tác giả bài Trần Văn Mãnh, trước tượng Phật Thich Ca sân trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình TVM, 1994

Tượng Phật Thích Ca và Phật Quan Âm trước sân chùa Tam Bảo Hà Tiên. Hình: TVM 1994

Tượng Phật Quan Âm phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình: TVM 1994

Cảnh Hòn Non Bộ phía sau chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Phía sau là bức tường cổ có trồng cây xanh rất đẹp. Hình: TVM 1994

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1996. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nhìn từ ngoài đường Phương Thành vào. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 1999. Hình trích từ vidéo TVM

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Các tháp xưa chung quanh khu viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên). Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Bên trái chùa Tam Bảo (Hà Tiên) có một phần vách tường dầy còn sót lại từ di tích hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình trích từ vidéo TVM, 1999

Chân dung bạn học cùng trường Trung Học Hà Tiên và cũng là bạn chơi văn nghệ thời học sinh: Lê Công Hưởng, được thờ ở bàn thờ phía sau chùa Tam Bảo, hình chụp năm 1999

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2000. Hình sưu tầm.

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2003. Hình sưu tầm.

Lễ Phật Đản tại chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2008. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2009. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2011. Hình: Nguyễn Tấn Trung

Quang cảnh sân phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) với ao sen sát lề đường Phương Thành vào năm 2012. Hình: TVM

Ao sen sát lề đường Phương Thành phía trước chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2012. Hình: TVM

Đường đi vào chùa Tam Bảo (Hà Tiên) sau khi qua khỏi cổng chùa. Hình: TVM 2012

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2013. Hình sưu tầm.

Cổng chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2015 được xây cất lại rất hoành tráng. Hình: Minh Tâm

Các tháp xưa trong khuôn viên chùa Tam Bảo (Hà Tiên) nay được sơn phết chỉnh trang lại tốt đẹp. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Một vài phần còn sót lại của bức tường xưa của hào thành đời Mạc Cửu đã hơn 300 năm nay được giữ lại ngay trong chùa Tam Bảo (Hà Tiên), tường làm bằng chất liệu vôi và ô dước. Hình trích trong vidéo của đài RFA Vietnamese, được đăng trên Youtube của bạn Tám Bùi. (2016)

Phía ngoài sân chùa Tam Bảo (Hà Tiên) cũng còn sót lại một phần vách tường xưa của hào thành Mạc Cửu đã hơn 300 nay. Hình sưu tầm

Chùa Tam Bảo (Hà Tiên) vào năm 2017. Hình: Thanh Nhàn

Toàn bộ khung cảnh chùa Tam Bảo (Hà Tiên) rất xinh đẹp nhìn từ trên cao, ta thấy chùa ngày nay đã được xây cất thêm các nhà lầu cao chung quanh rất đồ sộ. Hình Đặng Thanh Tùng, 2018

Tác giả bài viết (TVM) xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt và tất cả các nhiếp ảnh viên đã có hình được trích minh họa cho bài nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

Mời xem thêm những bài viết có liên hệ đến chùa Tam Bảo Hà Tiên rất hay:

1/ Bài viết của thầy Nguyễn Lê Hùng đã từng dạy Pháp Văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thạp niên 60.

2/ Bài viết của Cô Nguyễn Phước Thị Liên, cô giáo, nhà văn của Hà Tiên: “Kỷ Niệm Về Cố Hòa Thượng Huyền Vi”.

 

 

 

 

Ao Sen trước lăng Mạc Cửu qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên)

Thầy cô và các bạn thân mến, nói đến lăng Mạc Cửu thì ta không thể không nói tới ba cái ao sen nằm trước ngôi đền thờ các vị công thần họ Mạc. Thực ra thì ba cái ao sen hay nói một cách chính xác thì cái ao sen duy nhất nằm ngay trước mặt đền Mạc Cửu là không có liên quan gì đến ngôi đền nầy cả. Chúng ta đừng nghĩ là khi người ta lập đền thờ ba vị: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh (tên đền ngày xưa được gọi là Đền Mạc Công, hay Mạc Công Từ) rồi người ta cho đào ao và trồng sen để làm đẹp cho đền thờ. Thực tế là hoàn toàn không phải như vậy vì cái ao sen duy nhất nằm trước mặt đền thờ Mạc Cửu là đã có trước khi ngôi đền thờ được lập ra, và cái ao sen nầy hoàn toàn không có liên quan gì đến đền thờ cả.

Chúng ta phải đi ngược lại thời gian để sắp xếp các sự kiện theo thứ tự thời gian:

A/ Mạc Cửu đến đất Hà Tiên (lúc đó tên là Mang Khảm hay Phương Thành) vào năm 1700, ông chiêu dụ dân chúng đến lập nghiệp và mở ra các thôn xóm.

B/ Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Chúa Nguyễn và được tấn phong làm Tổng Binh.

C/ Năm 1718 quân Xiêm tấn công đốt phá Hà Tiên, Mạc Cửu đưa vợ chạy giặc đi đất Lũng Kỳ (còn có tên là Trủng Kè, Long Cả, Lũng Cả, miền đất nầy nằm ở phía tây bắc của đảo Phú Quốc, cách Phú Quốc một eo biển tên là Koh Thmay, eo biển Phú Dự, vùng đất nầy ngày nay đã thuộc về nước Kampuchéa hay Cambodge). Tại Lũng Kè nầy vào năm 1718 đó Bà Mạc Cửu đã sinh ra ông Mạc Thiên Tích.

D/ Sau đó năm 1719 giặc chấm dứt, Mạc Cửu đưa vợ và con trở về Hà Tiên xây dựng lại xứ sở. Chính trong thời gian nầy Mạc Cửu cho đào một cái ao lớn hình gần như vòng tròn để cung cấp nước cho dân chúng Hà Tiên. cái ao nầy sau đó chính là cái ao nằm trước mặt ngôi đền Mạc Công Miếu. Lúc nầy chưa hề có ngôi đền và cũng chưa có 2 cái ao sen nằm hai bên đường Mạc Cửu như sau nầy…

E/ Mạc Công Miếu lần đầu tiên được Mạc Công Du xây dựng vào năm 1818-1819 nằm ở bên trái chùa Tam Bảo xưa (lúc đó chùa Tam Bảo do ông Mạc Cửu cất cho mẹ ông tu, chỉ là cái am tự nhỏ nằm phía sau dinh thự của ông). 

F/ Năm 1833 có giặc loạn làm phản do Lê Văn Khôi cầm đầu, Mạc Công Du và các con theo phía Lê Văn Khôi nên sau khi giặc loạn bị dập tắt, Mạc Công Du và các con đều bị tội. Ngôi Đền Mạc Công cũng bị bỏ hoang phế.

G/ Năm 1845 vua Thiệu Trị nghĩ công lao dựng đất của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, nên cho phép xây dựng lại ngôi đền mới, nhưng thay đổi vị trí, đền hoàn thành năm 1847, tọa lạc dưới chân núi Bình San, đó chính là Mạc Công Miếu hiện tại ngày nay mà chúng ta đã biết từ lúc còn rất bé thơ đến bây giờ.

Vào năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Đến năm 1869 Pháp vẻ một bản đồ vùng đất Hà Tiên, trên bản đồ nầy có ghi rỏ ngôi đền Mạc Công Miếu và một cái ao hình gần như tròn trước mặt ngôi đền, trên bản đồ vẫn chưa có hai cái ao kế bên. Như vậy hai cái ao hình chữ nhật nằm hai bên đường Mạc Cửu là chưa có vào năm 1869. Sau nầy trong những năm người Pháp bắt đầu xây dựng đường xá Hà Tiên, họ làm bờ kè đá cho bờ ao trước mặt Mạc Công Miếu nên cái ao nầy trở thành hình bán nguyệt vì có một bờ thẳng theo con đường trước Mạc Công Miếu (vì thế ao trong thời kỳ nầy có tên « Bán Nguyệt Liên Trì »). Sau đó người Pháp cho đào thêm hai cái ao hình chữ nhật ở hai bên đường Mạc Cửu để lấy đất làm đường, mở chợ. Trong bản đồ Hà Tiên năm 1951 có ghi rỏ vị trí ba cái ao trước ngôi đền Mạc Công Miếu.

Trên bản đồ người Pháp vẻ tay năm 1869, ta thấy trước ngôi Đền Mạc Công Miếu (ô vuông nhỏ màu vàng đậm) có một cái ao hình hơi tròn (màu xanh tươi) đó là cái ao do Ông Mạc Cửu cho đào năm 1719.  Khu vòng màu xanh lá cây có ba đỉnh núi đó chính là khu núi Bình San (núi lăng). Bên phải góc trên hình có khu vòng màu xanh và một đỉnh núi, đó là núi Phù Dung (núi Đề Liêm).

Bản đồ Hà Tiên năm 1951 trong sách Monographie de la province d’Hà Tiên (Lê Văn An và Nguyễn Văn Hải dịch). Trên bản đồ có ghỉ rỏ vị trí ba cái ao (màu xanh lá cây) và ngôi đền Mạc Công Miếu (màu vàng đậm). Trong ba cái ao ta thấy có một cái ao hình bán nguyệt nằm ngay trước mặt Mạc Công Miếu, đó là cái ao duy nhất do Mạc Cửu cho đào vào năm 1719. hai cái ao hình chữ nhật thì mới được đào sau nầy trước năm 1951.

Tại sao lại gọi là « Ao sen »? Điều nầy chúng ta cũng không biết rỏ là vào năm nào thì người ta cho trồng sen trong ba cái ao nầy, chỉ biết là từ rất lâu năm (ngay trước những năm 1950 có thể đã có sen mọc trong ba cái ao rồi và người Hà Tiên thường ngày vẫn dùng nước ngọt tại ba cái ao nầy. Chính ba cái ao sen nầy đã cung cấp nước cho toàn dân Hà Tiên từ thời xa xưa và vì thế tại Hà Tiên có nghề chở nước bằng xe đẩy đến tận nhà khách hàng, tên nghề gọi là « đổi nước » (vì không thể nói là « bán nước » !!). Có những thời kỳ khô cạn ao cũng khô nước hết cả để lộ ra đáy ao toàn là đất sét và cỏ xanh. Chánh quyền thời xưa kêu gọi dân chúng góp công góp sức đào thêm cho ao sâu rộng thêm, mỗi nhà phải đào vài m3, mình còn nhớ hồi lúc còn nhỏ, mình cũng có tham gia vào phong trào đào ao sen đó. Cũng trong thời gian hạn khan hiếm nước nầy, nhà nào ở Hà Tiên cũng tự lấy xe đạp chở 2 thùng nước phía sau yên xe (loại thùng chứa dầu lữa bằng thiếc) và tự cung cấp nước cho gia đình, mình cũng đã có nhiều lần chở nước như cách nầy cho gia đình. Trong thời trẻ con, học trò ở Hà Tiên cũng thường la cà trong khu vực ao sen để móc đất sét và bắt cá lia thia…Đất sét thì đem về nặn hình con trâu, con bò làm đồ chơi, còn cá lia thia thì cho vô hủ (loại hủ đựng chao) và nuôi từ từ để cho tham dự vào các cuộc đá cá giữa bạn bè…

Một trong những bức hình xưa nhất về ao sen mà mình có, có lẻ là bức hình bạn Nguyễn Đình Nguyên (bạn thân học trên mình một lớp trường Trung Học Hà Tiên) chụp trước bờ ao sen:

Nguyễn Đình Nguyên còn rất trẻ, chụp tại bờ ao sen ngay trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) trong những năm 1960

Trong bức hình ta để ý thấy con đường Mạc Cửu chạy ngang ngôi đền thờ họ Mạc là đường đất, và bờ ao sen vẫn là bờ đất với cây cỏ chứ không có xây cất thẳng hàng bằng xi măng như một cái hồ nhân tạo.

Bức hình thứ hai cũng xưa nhất về ao sen là hình các người lính Mỹ đóng quân tại Pháo Đài (Hà Tiên), lấy xe chở thùng phuy để lấy nước về dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

Xe chở nước của lính Mỹ từ ao sen chở về Pháo Đài (Hà Tiên). Hình: Mc Carthy (1970)

Trong hình ta thấy rỏ con đường đất ngang lăng Mạc Cửu, đoạn về phía đường Chi Lăng. Bên phải hình là một lô cốt nhỏ (hay là một bót điện lực hồi xưa). Bên phải hình nối dài ra là ngôi chùa hay nhà của Ông Năm Ô (ta không thấy trong hình). Theo góp ý của bạn Lê Phước Dương thì cái lô cốt nầy là nơi đặt máy nổ bơm nước lên trên hai trạm lọc nước đặt trên đỉnh núi Bình San ở cuối đường Lam Sơn. Chính từ độ cao nầy nước được chảy xuống cung cấp cho các trụ nước trên các lề đường phố Hà Tiên. Phía trên đầu các trụ nước nầy có một đỉa sắt tròn và dầy và có một núm tròn làm tay nắm để khi người muốn lấy nước phải nắm tay vào đó và quay nhiều vòng cho nước chảy ra và hứng nước vào trong thùng nước (thường thùng nước dưới dạng hình hộp bằng thiếc sử dụng lại sau khi dùng hết dầu lữa chứa trong thùng). Trong mùa cạn hiếm nước, dân chúng Hà Tiên thường phải xếp hàng trước các trụ nước công cộng nầy để lần lượt lấy nước về nhà dùng. Còn ngôi chùa của Ông Năm Ô trụ trì nói ở trên tên là chùa Ông Bắc thờ ông Bắc Du Chơn Võ. Hiện nay chùa đã bị phá hủy không còn dấu vết gi nữa.

Ở giữa hình ta còn thấy một phần núi Bình San với vài tảng đá vôi màu trắng. Bên trái là ao sen. Trên bờ có hai chiếc xe sẳn sàng chở nước: một chiếc xe cây chứa các thùng nước nhỏ, có ba trẻ em đang tò mò đứng xem người Mỹ, và một chiếc xe loại thùng phuy lớn của nhà binh có lính Mỹ ngồi trên đó.

Ngôi đền Mạc Công Miếu vào năm 1953, phía trước mặt đền ta còn thấy một phần bờ ao sen với cây cỏ. Hình do một người lính Hải Quân Pháp tên Roland Drosson đóng quân tại Hà Tiên chụp.

Ngày xưa, quang cảnh chung quanh ba cái ao sen ở lăng Mạc Cửu rất đẹp, một vẻ đẹp tự nhiên do nước, sen, bờ ao, cây cỏ đất đá tạo nên, có rất ít hình thể nhân tạo bằng xi măng cốt sắt của con người tạo ra…Ta hãy quan sát một số cảnh đẹp của an sen ngày xưa:

Quang cảnh đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) và một phần bờ kè đá của ao sen chính nằm ngay trước đền, bờ ao còn cây cỏ xanh rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Quang cảnh ao sen giữa trong mùa khô cạn nước (ao nằm phía bên phải đường Mạc Cửu, Hà Tiên). Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1994

Hai ao sen nằm hai bên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên), cảnh đang lấy nước. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Đường Mạc Cửu (Hà Tiên), một khúc trước đền Mạc Công Miếu, bên phải là bờ kè đá của ao sen chính với bờ ao còn cây cỏ tự nhiên. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 1999

Một khách du lịch chụp hình trước ao sen chính ngay trước mặt đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2008, ta thấy tuy có bờ ao được xây kè đá nhưng phía mặt sau vẫn có cây cỏ đất đá rất tự nhiên. Hình: Fange

Ao sen chính trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên) với sen và cây cảnh trên bờ. Hình: ThuyDaoNguyen, năm 2009

Một cảnh cho ta thấy sự tiếp giáp của hai ao sen với bờ ao còn nét thiên nhiên, mặc dù có một phần xây dựng bậc thang xuống ao và bờ kè đá theo con đường. Hình Haniprince2, Hà Tiên, năm 2011

Cùng một cảnh tiếp giáp của hai ao sen như hình trên nhưng chụp vào năm 2014, bờ ao đã được « xi măng hóa », đường nét thẳng và có góc cạnh tuy rất sạch sẽ nhưng mất đi vẻ thiên nhiên cây cỏ đất đá…Hình: LamNguyen, Hà Tiên năm 2014

Một trong ba ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên), bờ ao còn vẻ rất thiên nhiên với cây cỏ xanh nét. Hình Ngọc Viên

Một trong những ảnh đẹp của cảnh ao sen trước lăng Mạc Cửu (Hà Tiên). Hình: sưu tầm chưa biết tác giả.

Trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên)  ngày xưa có trồng rất nhiều cây phượng đỏ, đến mùa phượng nở cảnh ao sen rất đẹp. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Một cảnh rất đẹp trên con đường Mạc Cửu (Hà Tiên)  trước đền Mạc Công Miếu và ao sen với hoa phượng nở đỏ. Hình: Trần Văn Mãnh, năm 2012

Người đẹp Ngọc Tiếng trước ao sen chính và trong mùa sen mọc kín cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012

Ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) trong mùa hoa phượng nở. Hình: Trần Văn Mãnh, 2012

Một cảnh đẹp trước ao sen chính với mùa sen mọc kin cả ao. Hình: Trần Văn Mãnh, Hà Tiên năm 2012 (Thực ra thì người và cảnh đều đẹp cả…!!)

Cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu (Hà Tiên) vào năm 2013, vẫn còn cây xanh rất đẹp. Hình: LeThanhHoangDan

Sau năm 2013, quang cảnh ao sen trước đền Mạc Công Miếu đã hoàn toàn thay đổi, toàn bộ các bờ ao đã được xây xi măng, tráng gạch, khung cảnh ba ao sen trở thành một công viên, « Công viên ao sen » !!. Để tiện việc định vị trí các ao, người ta gọi « Ao trên », « Ao giữa » và « Ao dưới ». Khái niệm « Trên » và « dưới » được so với hai khúc trên và dưới của con đường Mạc Cửu. « Ao trên » tức là ao nằm về phía chùa Lò Gạch, tức là cái ao nằm ngay trước mặt ngôi đền Mạc Công, cái ao đã có từ năm 1719 do Mạc Cửu cho đào. « Ao giữa » thì rất dể định vị trí, đó là ao nằm giữa trong ba cái ao, « Ao dưới » tức là cái ao nằm giữa hai con đường Mạc Cửu và Chi Lăng, tức là ao về phía tịnh xá Ngọc Hồ, về phía con đường tỉnh lộ 28 nối dài để đi ra Mũi Nai. Như trên đã nói hai cái ao: Ao giữa và Ao dưới là được đào sau nầy, sau năm 1869 và trước năm 1951. Đặc biệt là ao dưới cũng đã được nới rộng thêm ra, vượt qua khỏi con đường Mạc Cửu và qua phía bên kia đường (sau năm 2013), để dân chúng tiếp tục đi lại trên con đường Mạc Cửu trên khúc nầy, người ta cất thêm một cây cầu (cũng dưới dạng xi măng cốt sắt!!) và trang trí cho chiếc cầu đèn màu ban đêm trông rất đẹp mắt. Tuy nhiên với cơn sốt « xi măng cốt sắt » toàn bộ khu ao sen lăng Mạc Cửu đã hoàn toàn biến thành một công viên tráng xi măng sạch sẽ, hiện đại, không còn một nét nào thiên nhiên với cây xanh, phượng đỏ như ngày trước…Tất cả tùy thuộc vào quan điểm « cảnh đẹp », đẹp theo kiểu công viên ghế đá ở thành phố, không giữ được cái nét cỗ xưa với thiên nhien chung quanh.

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy vị trí các ao sen trong khu vực lăng Mạc Cửu, Hà Tiên. (Trong hình có ngọn núi tên là núi Phù Dung, chính là ngọn núi Đề Liêm theo tên thông dụng.

Sơ đồ cho thấy vị trí ba ao sen ngày nay (Hà Tiên, 2016). Ao dưới được đào thêm qua bên kia đường Mạc Cửu và con đường Mạc Cửu được nối liền với tỉnh lộ 28 bằng một chiếc cầu xi măng

Cảnh Ao Giữa và chiếc cầu ao sen trên Ao Dưới (Ao Dưới ở bên trái Ao Giữa). Hình: Nguyễn Lệ Thũy 2015

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Quang cảnh nhìn rỏ ba cái ao sen và chiếc cầu trên Ao dưới. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình trích trong vidéo « Hà Tiên Quê Tôi » của Alexander Duy, 2017

Cảnh « Ao dưới » với bờ ao được xây xi măng rất sạch không còn một cây cỏ xanh. Hình: NguyenHongThu, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa » với bờ ao được xây xi măng và còn rất ít cây xanh. Hình: NguyenThuHong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao Giữa ». Hình: Van Xuong, Hà Tiên, năm 2016

Cảnh « Ao giữa ». Hình: Trương Thanh Hào, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh hai ao sen với bờ ao được xây xi măng. Hình: Giang Kiên, Hà Tiên, năm 2017

Quang cảnh công viên Ao sen vói hàng ghế đá thay thế những cây phượng đỏ ngày xưa. Hình: NhuNguyen, Hà Tiên, năm 2017

« Ao trên » ngày nay với bờ ao được xây xi măng thẳng góc cạnh. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Bên trái phía dưới là Ao giữa, bên phải là đường Mạc Cửu, nối dài lên giữa hình là chiếc cầu ngang qua Ao dưới, nếu đi qua cầu ta sẽ qua bên phía đường tỉnh lộ 28 và tiếp tục đi ra Mũi Nai. Hình: DauDinhAn, Hà Tiên, năm 2016

Một góc nhìn để định vị trí cầu ao sen của « Ao dưới », nằm trên con đường Mạc Cửu kéo dài qua phía tỉnh lộ 28 đi Mũi Nai. bên phải phía dưới là một phần bức tường trên cao chỗ người đang đứng chụp hình. Hình: GiangHoang, Hà Tiên, năm 2017

Cảnh đẹp « Ao trên » nằm trước đền Mạc Công Miếu. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên, năm 2017

Cầu Ao Sen, chiếc cầu nầy ngang qua Ao dưới để nối liền đường Mạc Cửu và tỉnh lộ 28 đi ra Mũi Nai. Hình: Nguyễn Lệ Thủy, Hà Tiên năm 2017

Tóm lại, Hà Tiên của chúng ta ngày càng phát triển trên đủ mọi mặt. Đó là một điều tốt đẹp cho quê hương chúng ta, tuy nhiên, về phương diện lịch sử văn hóa, nếu chúng ta biết bảo tồn các giá trị và nền tảng đã có lâu đời, giữ được cái sắc thái cổ kính của những chùa chiền, đền thờ, các quang cảnh thiên nhiên mà từ xa xưa đã đem lại cho Hà Tiên một danh tiếng về phong sắc đẹp đẻ thanh tao, thì giá trị của các phong cảnh Hà Tiên càng được nâng cao. Thành phố, nhà cửa, dinh thự, công viên, mọi thứ đều cần được bảo trì, sửa đổi, xây cất cho mới và đẹp, nhưng những dấu vết lịch sử lâu đời thì lại cần được bảo tồn, tuy có củng cố xây dựng nhưng vẫn tôn trọng và giữ nguyên sắc thái tự nhiên thì vẫn hay và có giá trị trường tồn.

Viết xong ngày 06/11/2018 Trần Văn Mãnh

 

TVM thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã viết quyển Nghiên Cứu Hà Tiên (Họ Mạc với Hà Tiên) trong đó tác giả bài viết nầy đã tham khảo rất nhiều tư liệu lịch sử, xin cám ơn các bạn: Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trần Phương Nhu, Alexander Duy đã không ngừng nỗ lực động viên, khuyến khích và cung cấp thông tin hình ảnh cho bài viết. (Trần Văn Mãnh)

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

 

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong phần 1: « Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ » của bài « Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian », hôm nay xin viết tiếp phần 2: « Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh  » của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta từ lúc thành lập cho đến ngày nay.

Phần 2: Hình thể, vị trí ngôi trường và hình ảnh học sinh

Trước hết nói về vị trí của ngôi trường, trường Trung Học Hà Tiên tọa lạc ngay góc của hai con đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Thiên Tích, nằm dưới chân đồi Ngũ Hổ, cổng chánh nhìn ra đường Mạc Thiên Tích, còn một cổng thứ hai tuy phụ nhưng lại rất thực tiển, nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng.

Địa hình và vị trí của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào đầu năm 1960, trường gồm các yếu tố: trường học (dãy 6 lớp); sân chơi (bóng chuyền); cột cờ; ao xà lách; phòng thí nghiệm; cổng chánh và cổng phụ

Phía bắc ngôi trường giáp với chân đồi Ngũ Hổ và có rào ngăn chận không cho học sinh phiêu lưu leo lên đồi (vì lúc đó trên đồi có Lầu Ba là căn cứ đóng quân của đơn vị Địa Phương Quân), dưới chân đồi có một dãy phòng dài chính là phòng thí nghiệm của trường. Thời đó trường mới thành lập từ năm 1956 đến những đầu năm 1960, được trang bị một phòng thí nghiệm khá hiện đại và có đầy đủ các ống thử nghiệm, bàn làm việc thí nghiệm (paillasse de laboratoire), có đủ các chất hóa học và chai lọ dùng trong việc học Hóa Học. Phía đông giáp với một dãy nhà chính là văn phòng làm việc của quận lỵ Hà Tiên (Quận lỵ Hà Tiên có mặt chánh nhìn ra ngay góc đường Mạc Tử Hoàng và Mạc Công Du), Phía tây giáp với con đường Mạc Thiên Tích dẫn lên bên hông đồi Ngũ Hổ, ngay tại phía tây nầy có cổng chánh của trường, phía nam giáp với đường Mạc Tử Hoàng, và có một cổng nhỏ sát với văn phòng quận lỵ, học trò ở chợ từ đường Mạc Công Du đi học thường dùng cổng nầy để vào trường vì khỏi phải đi thêm một khúc đường nữa. Bên trái cổng phụ của trường còn có một khoảng sân nhỏ dùng cho học sinh cất xe đạp, và nhà trường cũng có trang bị một bàn đánh ping-pong cho học sinh chơi trong giờ rảnh.

Ở giữa sân trường có một cái ao gọi là ao xà lách không biết đào từ bao giờ, nhưng đã có từ rất lâu, trước khi có trường Trung Học Hà Tiên. Đó là ao nước mà lính tráng và tù phạm dùng để tưới rau vì có một khám tù từ thời Pháp thuộc gần đó, người ta trồng rau để cải thiện bữa ăn.

Kế đến có một cột cờ chánh giữa sân trường, học sinh thường tụ họp ngay tại cột cờ nầy để chụp hình. Rồi đến một sân xi măng hình chữ nhật dùng làm sân đánh bóng chuyền (ngày xưa thường có những trận đấu giao hữu bóng chuyền giữa các lớp, các bạn cùng lớp với mình chơi bóng chuyền rất hay như: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Lý Văn Tấn,….mình cũng có đôi lúc tham dự chơi trong đội bóng nhưng rất sợ bị sưng tay vì phải đánh vào bóng rất mạnh mới có hiệu quả…!!). Giữa sân chơi và dãy lớp học có lằn ranh giới thấp bằng xi măng và có nhiều cây bàng trồng sắp hàng song song với dãy lớp. Tất cả những yếu tố nầy đều có trong hình mà may mắn thay mình và các bạn đã có chụp hình lưu niệm lại. Thời đó chưa có máy chụp hình số, điện thoại chụp hình cũng chưa xuất hiện, nhờ có bạn Nguyễn Ngọc Thanh thỉnh thoảng « mượn đở » máy chụp hình của Ông Cha Micae Lê Tấn Công vì lúc đó Thanh là con chiên rất ngoan đạo của Nhà Thờ Hà Tiên (ở góc đường Mạc Tử Hoàng-Phương Thành), bạn Nguyễn Ngọc Thanh thường đến ở trong Nhà Thờ Hà Tiên để giúp lễ đạo cho Cha Công. Chính nhờ có máy chụp hình của Thanh đem đến mà chúng mình thời đó mới có nhiều hình còn giữ lại được đến bây giờ, thời đó chụp xong còn phải chờ đem rửa phim hình ra nữa chớ không trực tiếp xem liền như bây giờ, (loại máy của Cha Công là loại hình hộp, ở trên nhìn xuống khi ngắm chụp).   

Trường thành lập xong vào năm 1956 nhưng đến năm 1964 mình mới vào học lớp đầu tiên là lớp đệ thất, tuy nhiên từ năm 1956 đến năm 1964 cũng không có thay đổi nhiều, chỉ có số lớp từ lúc đầu là 4 lớp chuyển sang 6 lớp trước khi mình vào trường.

Một trong những học sinh của thế hệ đầu tiên của trường Trung Học Hà Tiên là anh Trần Phình Chu, chị Lâm Thị Ánh Tuyết (con của bác Chín Nhà Đèn Hà Tiên). Anh Trần Phình Chu sau khi học thành tài trở thành thầy giáo dạy tại Trường Trung Học Hà Tiên, chị Lâm Thị Ánh Tuyết sau khi học thành tài cũng trở thành cô giáo dạy tại Trường Tiểu Học Hà Tiên.

Đây là một trong hai bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp quý thầy cô đứng tại bậc thềm trước lớp học, trên vách dãy lớp ta còn thấy các bảng triển lãm hình ảnh (Hình thầy Nguyễn Văn Nén 1962)

Một trong những lớp học rất xưa của Trường Trung Học Công Lập Hà Tiên: niên học 1961- 1962, lớp Đệ Lục, ban Pháp Văn. Người đứng giữa quần trắng là anh Đỗ Thành Tâm

Đây là một trong những bức ảnh xưa nhất mà chúng ta có hiện nay liên hệ đến trường Trung Học Hà Tiên, hình chụp thầy cô và học sinh tại cột cờ giữa sân trường. Đầu niên khóa 1962-1963, học sinh lớp đệ nhị B.

1: Thầy Nguyễn Văn Nén, 2: Thầy Nguyễn Lê Hùng, 3: Huỳnh Hữu Điền (chết), 4: Đặng Văn Thơm, 5: Phù Thọ Phương, 6: Phù Thọ An, 7: Huỳnh Văn Năm (con bà Lép bán chè đậu), 8: Phan Hoàng Minh, 9: Đỗ Bỗ Khén (chết), 10: Lâm Hữu Lễ (con ông Tám Trọng ) (chết), 11: Hồ Quang Phụng (em thầy Hồ Quang Điệp), 12: Hồ Chung Hiệp (chết); 13: Trình Thị Bạch Mai (con thầy Trình Kim Chung) (chết ở Sài Gòn), 14: Trần Diệu Hiền (chết), 15: Huỳnh Ngọc Yến, 16: Lý Thị Lắc, 17: Nguyễn Thị Túy Tâm (ở Mỹ), 18: Nguyễn Thị Nhung, 19: Lâm Tấn Lộc (con ông 9 nhà đèn), 20: Trương Ý, 21: Lô Sến (chết), 22: Giang Văn Thân.

Có thể xem như đây là một trong những bức ảnh đầu tiên nhóm bạn mình chụp tại trước cột cờ trường Trung Học Hà Tiên, phía sau xa xa là dãy phòng thí nghiệm và ngôi Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Hình chụp với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của người bạn rất thân: Nguyễn Ngọc Thanh (nay đã qua đời,..). Từ trái sang phải phía trên: Trần Văn Danh, Nguyễn Anh Tài, Lý Cui, Trần Văn Yến và Trương Thái Minh, ngồi dưới ở giữa: Trần Văn Mãnh, những dòng chử lưu bút trong hình là do Nguyễn Ngọc Thanh viết (Thanh đang chụp hình nên không có mặt trong hình nầy).

Hình chụp tại sân trường với nhóm bạn làm bích báo (báo treo tường) vào lúc học lớp đệ ngũ (lớp 8 bây giờ) Trung Học Hà Tiên niên khóa 1966-1967. Trên hình có di bút của bạn Nguyễn Ngọc Thanh (người mang kính nay đã qua đời). Chụp với tờ báo vừa làm xong, tên báo là « Đất Mẹ » viết theo kiểu chử Trung Hoa. Từ trái sang phải: Trần Văn Mãnh, Lý Văn Tịnh, Trương Thái Minh, Nguyễn Anh Tài (Tài Bưu Điện), Lý Văn Tấn, Trần Văn Yến và Nguyễn Ngọc Thanh tác giả của những dòng chử lưu bút trong hình. Phía bên phải hình ta còn thấy một góc lô cốt khám tù và dãy cây dừa trên đường dẫn lên đồi Ngũ Hổ.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên, ngồi ngay tại cột cờ: từ trái sang phải: Cô Giám Thị Trần Diệu Hiền, phía trên: Trần Tấn Công, phía dưới: Trần Hoàng Phượng, Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh (tay vén tóc), Trương Thái Minh, Trần Tiên và Trần Văn Mãnh..Đây là các bạn cùng trong lớp học giữa thập niên 60

Hai bạn cùng lớp ngồi cạnh cây bàng tại sân Trường Trung Học Hà Tiên (1968), bên trái: Trần Văn Mãnh, bên phải: Nguyễn Văn Tài (nhà của Tài trước bên hông chùa Ông Bắc, góc đường Lam Sơn-Nhật Tảo). Phía sau hình là dãy nhà dân ở đường Mạc Thiên Tích đối diện với cổng chánh của trường. Bên trái phía dưới hình là lằn ranh xi măng giới hạn sân chơi và phần dãy lớp học.

Học sinh Trần Văn Mãnh chụp tại sân trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60. Phía sau là một phần ao xà lách và xa hơn là lô cốt của khám tù ngày xưa phía bên phải ngôi trường.

Hình chụp tại sân Trường Trung Học Hà Tiên khoãng những năm 60. Bên trái: Trần Văn Yến (nay đã mất), bên phải: Trần Văn Mãnh, sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên ở bên phải ngôi trường.

Kỹ niệm ngày lể phát thưởng 03/06/1967 diễn ra tại bên trong dãy phòng thí nghiệm Trường Trung Học Hà Tiên. Người trao phần thưởng là Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành dạy Lý Hóa, người nhận phần thưởng là học sinh Trần Văn Mãnh

Ba cô bạn gái cùng chung lớp học, hình chụp trước cửa lớp Trường Trung học Hà Tiên: từ trái sang phải: Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, Trần Hoàng Phượng (mang kiếng). Khoãng những năm 60.

Bức ảnh cho thấy cổng chánh ở đường Mạc Thiên Tích và dãy 6 lớp học của ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 1968, phía xa sau lưng là dãy văn phòng Quận lỵ Hà Tiên. Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (đã mất), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn, Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (thầy Nguyễn Hồng Ẩn có một tập hình xưa rất quý về trường Trung Học Hà Tiên vào những năm cuối thập niên 60, mình sẽ lần lượt trình bày, xin nồng nhiệt cám ơn thầy).

Thầy và học trò chụp trước sân trường Trung Học Hà Tiên (1968), phía sau là dãy phòng thí nghiệm và Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Từ trái qua phải: Nguyễn Thị Điệp, Phạm Thị Kim Loan, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn, Trần Thị Như Liên (đã mất)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chính và dãy lớp học Trường Trung Học Hà Tiên đường Mạc Thiên Tích, bên phải là sau lưng dãy lớp học nhìn ra đường Mạc Tử Hoàng, phía xa bên trái là dãy phòng thí nghiệm (hình 1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng chánh đường Mạc Thiên Tích trường Trung Học Hà Tiên (1968)

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn trước cổng sau đường Mạc Tử Hoàng Trường Trung Học Hà Tiên, bên trái có một mái che làm nhà để xe đạp và có bàn ping-pong (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trần Văn Dõng (bìa trái), Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đã mất), bên bìa phải là Trần Văn Mãnh (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Phước (bìa trái), kế là Bùi Văn Tư, bìa phải là Nguyễn Ngọc Thanh (mang kính, đă mất), kế là Trần Anh Kiệt (đã mất), kế Kiệt là Nguyễn Đình Nguyên, kế Nguyên là Trần Văn Dõng. (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Bìa trái là cô Trần Diệu Hiền (đã mất), kế Cô Hiền là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế thầy Hiển thì không biết, kế nữa là Bùi Văn Tư (cầm gói thuốc Capstan), bên phải Thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (cầm ly uống nước), (1968)

Sinh hoạt thầy trò ăn tiệc trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên:  bìa trái là Nguyễn Thị Điệp, kế Điệp là Phước, kế Phước là Thầy Trương Minh Hiển (đã mất), kế Thầy Hiển là Bùi Văn Tư (1968).

Cô thư ký và giám thị Trần Diệu Hiền (đã mất) trên hàng ba có lót gạch bông trước dãy lớp học trường Trung Học Hà Tiên (thập niên 1960)

Học trò và cô thư ký giám thị trước lớp học trường Trung Học Hà Tiên: Trương Thanh Hùng, Cô Trần Diệu Hiền (đã mất), Mong Đức Hưng, Hoàng Đức Trung, Lý Minh Chữ và Kiệt (cuối thập niên 1960)

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình anh Trần Văn Dõng, từ giả trường Trung Học Hà Tiên ra đi, buồn vô cùng (hè 1968-1969), chụp một tấm làm kỹ niêm trước khi sang Rạch Giá học lớp 12 niên khóa 1969-1970.

Bức ảnh nhìn toàn diện phía trước dãy lớp học có bậc thềm cao trường Trung Học Hà Tiên. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà niên khóa 1968-1969 lớp đệ lục.

Học trò chụp hình trước bậc thềm vào lớp học. Hồ Thị Kim Hoàn (những năm 1970)Ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên, dãy phòng thí nghiệm và xa hơn là Lầu Ba trên đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Thị Phương Hà, học sinh trường niên khóa đệ lục 1968-1969

Bức ảnh cho thấy một phần ao xà lách giữa sân trường Trung Học Hà Tiên và khu nhà dân phía bên trái ngôi trường trên đường Mạc Thiên Tích, sát với đồi Ngũ Hổ. Trong hình là bạn Dương Diễm Hà, học sinh thời 1970 (nay đã mất)

Thầy cô và học trò chụp hình ngay bậc thềm trước lớp học. Niên khóa 1970-1971

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích

Khoảng năm 1968-1969 vì nhu cầu phát triển, trường Trung Học Hà Tiên được cất thêm một dãy lớp học sát với đường Mạc Thiên Tích (bên phải trong hình). Thầy cô và học trò chụp hình trước sân truòng. Niên khóa 1970-1971

Thầy cô và học trò niên khóa 1970-1971 chụp hình trước dãy lớp mới cất thêm (bên phải, cất vào khoảng năm 1968-1969).

Học sinh Dương Diễm Hà (đã mất) trước cửa sổ của dãy lớp mới cất thêm của Trường Trung Học Hà Tiên. (niên khóa 1970-1971)

Bên trong một lớp học của trường Trung Học Hà Tiên, thầy Nguyễn Văn Nén trong giờ Toán lớp đệ nhị A niên khóa 1971-1972 (đứng bên phải)

Từ trái qua phải: Nguyễn Kim Tuyến (đã mất), Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén, phía sau là dãy lớp mới cất thêm (1968-1969)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971, trước một lớp học trong dãy lớp mới cất thêm, Trung Học Hà Tiên)

Hình lớp Trần Hoàng Trang (nhà đường Lam Sơn) chụp trước cột cờ của trường Trung Học Hà Tiên, phía sau ta thấy rất rỏ là dảy phòng thí nghiệm, xa hơn là Lầu Ba (gọi là Lầu Ông Chánh trên núi Ngũ Hổ). Hàng dưới, từ trái sang: Châu, Tươi, Liễu, Quý Nương, Viễn, Chi. Hàng trên: Trang, Hoàng, Thanh, Lý. (1972)

Học sinh chụp trước bậc thềm lớp học trường Trung Học Hà Tiên. Lớp học Trần Hoàng Trang (ngồi hàng trên ở giữa) năm (1972)

Một lớp học của Trường Trung Học Hà Tiên chụp hình tại cột cờ giữa sân trường, phía sau ta thấy rỏ Phòng Thí Nghiệm và xa hơn là Lầu Ba. Hình: Minh Đức Dương, 1975

Sau giai đoạn những năm trong thập niên 1970 lần lượt học sinh cùng một thế hệ của mình đều rời trường, có bạn tiếp tục đi học ở các tỉnh hay lên Sài Gòn, có bạn nghỉ học vào lính, ngay cả chính mình cũng rời trường qua Rạch Giá và Cần Thơ tiếp tục học, rồi ra trường đi dạy hoc, không còn có dịp chụp hình trường lớp như những ngày xưa. Đến cuối thập niên 70 nầy vì chiến tranh biên giới bùng nổ, trường lớp bị bỏ hoang, thầy cô và học sinh phân tán ra nhiều điểm…trong giai đoạn nầy rất tiếc là chúng ta không có một tấm hình nào lưu niệm tình hình hủy hoại của ngôi trường Trung Học Hà Tiên…

Như đã kể trong phần 1, trong khoảng thời gian 3 năm 1978-1980, trường Trung Học Hà Tiên bị phân tán vì phải chạy giặc biên giới. Cấp 2 về học tạm ở các điểm ở Thuận Yên, cấp 3 về Kiên Lương. Vì không có sẳn cơ sở trường lớp, thầy trò học sinh Hà Tiên bắt tay vào xây dựng tạm các lớp học lợp bằng lá dừa và ngôi trường tọa lạc phía trong đồng ruộng. Bạn Nguyễn Hữu Tâm học sinh lớp 12 trường Hà Tiên lúc đó, là một trong những nhân lực rất tích cực trong công việc tạo dựng các lớp học tạm ở điểm Kiên Lương nầy. Ngày nay chính bạn Nguyễn Hữu Tâm cũng còn nhớ lại địa điểm Trung Học Cấp 3 Hà Tiên điểm Kiên Lương nầy và có lưu lại vài tấm ảnh như sau:

Dãy lớp học tạm của trường Trung Học Cấp 3 Hà Tiên lúc di tản xuống điểm Kiên Lương nằm phía sau ngôi trường Tiểu Học (có hai lớp) nầy. Ngôi trường Tiểu Học có 2 lớp nầy là nơi học trò tá túc trong đêm di tản.

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa.

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980)

Đến đầu thập niên 80, ngôi trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu hồi sinh lại sau chiến tranh, thầy trò từ điểm học Kiên Lương lần lượt về Hà Tiên xây dựng ngôi truòng lại cho tốt đẹp.

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Phạm Quốc Việt, Trương Minh Nhật Quang, Lâm Nguyên Khánh và Trương Minh Quang Nguyên

Hoc sinh lớp 10 niên khóa 1980, Trung Học Hà Tiên: từ trái qua, Trương Minh Quang Nguyên, Huỳnh Ngọc Phúc, thầy Phan Văn Báo, Võ Hoàng Dzuy, Trương Minh Nhật Quang, Nguyễn Thoại Oanh 

Hai bạn học cùng lớp 10 niên khóa 1981 Xuân Xanh và Mai Anh chụp hình tại bậc thềm dãy lớp học năm xưa sau khi được phục hồi tốt đẹp, trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng (1981)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982. Trong hình có thầy Nguyễn Văn Hùng, Lê Văn Trợ và từ phải đếm qua người thứ ba mang kính, áo ngắn tay là thầy Lý Mạnh Thường.

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Các dãy lớp học phía sau học trò được sửa sang lại tốt đẹp. Hình lớp 11 của Lê Ngọc Ngân năm 1982

Học trò chụp hình trước dãy lớp cất thêm vào năm 1968. Sau chiến tranh biên giới 1977-1978, dãy lớp nầy được sửa sang lại tốt đẹp. Trường Trung Học Hà Tiên, điểm  Mạc Tử Hoàng (1982)

Ngôi trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng phục hồi lại sau cuộc chiến tranh biên giới 1977-1978. Hình lớp 12 Huỳnh Ngọc Phúc, năm 1983

Học sinh Đỗ Mỹ Hạnh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Đỗ Mỹ Hạnh

Học sinh chụp hình trước cổng trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng vào năm 1995. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lớp học 12A, năm 1995 trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Lễ chào cờ trường Phổ Thông Trung Học Hà Tiên cấp 2 & 3 đường Mạc Tử Hoàng. Hình: Nguyễn Văn Phúc

Vào năm 2015, thầy Lê Văn Trợ, dạy Sử Địa (1979-1984), có trở lại Hà Tiên và đến thăm trường Trung Học Hà Tiên điểm Mạc Tử Hoàng, thầy Trợ có làm bài thơ kỷ niệm như sau:

Chữ viết bài thơ của thầy Lê Văn Trợ khi về thăm lại trường Trung Học Hà Tiên (2015)

Sau niên khóa năm 2000, trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Học trò xưa Nguyễn Bích Thủy thăm lại trường Trung Học Hà Tiên, lúc đó là Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2015)

Trường Trung Học Hà Tiên trở thành Trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, địa chỉ ở số 3 đường Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2016)

Năm 2016, cô Võ Kim Loan từ nước Mỹ về thăm nhà, có ghé lại thăm trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. Cô Loan chụp hình trước văn phòng nhà trường.

Thầy Nguyễn Văn Nén và cô Võ Kim Loan cùng các học trò xưa chụp hình trước văn phòng nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên, hình năm 2016

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hình ảnh ngôi trường Trung Học Hà Tiên vào năm 2016 do Lê Phước Dương ghé thăm trường xưa chụp.

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên), dãy lớp học cất thêm vào năm xưa 1968 vẫn còn đó. Hình năm 2017

Bên trong sân nhà trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên đã hoàn toàn thay đổi so với những năm 1970, 1980. Có dãy lớp học đã được cất lên lầu, hình năm 2017

Cổng chánh và bảng tên trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên hiện nay. Hinh chụp năm 2018

Từ sau những năm 2000, phòng thí nghiệm ngày xưa dưới chân đồi Ngũ Hổ đã bị san bằng, ao xà lách nằm giữa sân trường ngày xưa cũng đã bị lắp lại dành chỗ để xây thêm các phòng lớp học mới. Bên trái là dãy lớp học nhìn về phía đồi Ngũ Hổ của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng. (2018)

Hai cổng phụ vào trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hai góc nhìn khác nhau phía bên trong của trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên. (2018)

Hiện tại cho đến ngày hôm nay, có nghe tin trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2 tại điểm Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên cũng có sự thay đổi, người ta phá vở một vài dãy lớp để xây dụng lại nhiều cơ sở mới, hy vọng là ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta trải qua bao nhiên năm tháng từ 1956 cho đến nay tiếp tục chuyển biến để đi đến sự tốt đẹp bền vững luôn.

Tác giả xin trân trọng cám ơn sự giúp đở và động viên của quý thầy cô và tất cả các bạn học năm xưa, đặc biệt là xin cám ơn quý thầy cô Nguyễn Văn Nén (Nguyễn Nên), Nguyễn Hồng Ẩn, Nguyễn Phúc Hậu, Võ Kim Loan, các bạn anh chị cùng trường: Trần Văn Dõng, Hoàng Thị Minh Liên, Dương Thị Phương Hà, Hồ Thị Kim Hoàn, Trần Phương Nhu, Trần Hoàng Trang, Lê Phước Dương, Lê Ngọc Ngân, Nguyễn Bích Thủy, Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Nguyễn Hữu Tâm, Đỗ Mỹ Hạnh, Nguyễn Văn Phúc  đã cung cấp nhiều hình ảnh sử dụng trong phần bài viết nầy.

Trân trọng cám ơn quý tác giả những hình ảnh minh họa cho bài viết.

   Trần Văn Mãnh, Paris, viết xong ngày 22/10/2018

Trường Trung Học Hà Tiên qua các giai đoạn thời gian: Phần 1: hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » từ ngày thành lập 04/10/2015 đến ngày hôm nay 12/10/2018, đã đạt được 91926 lượt xem, 24733 người đến xem (những đọc giả từ hơn 47 nước trên thế giới đến xem), với 176 bài viết trong đủ các tiết mục và do chính thầy cô và các bạn là tác giả. Tuy nhiên nhìn qua nhìn lại ta chưa thấy bài viết nào nói về quá trình hình thành ngôi trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta…! đây quả thật là một điều thiếu sót lớn lao…Bạn Trương Thanh Hùng (Giá Khê) có viết một loạt nhiều bài trong mục « Chuyện vui buồn ngày xưa » và có nhắc đến một phần về sự ra đời và phát triển của trường chúng ta. Thật ra cũng rất khó mà viết ra được một tài liệu đầy đủ và chính xác về lịch sử của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, đó là việc làm của các nhà nghiên cứu mà sớm hay muộn chúng ta cũng hy vọng rằng sẽ có bài viết về đề tài nầy, mong rằng các cây bút có quan hệ nhiều đến trường Trung Học Hà Tiên như Trương Thanh Hùng, Trương Minh Quang Nguyên,…v..v….và nhiều thầy cô bạn học khác sẽ có ngày cho ra đời nhiều bài viết về lai lịch ngôi trường của chúng ta, như thế khi làm công việc tổng họp lại chúng ta sẽ có một cái nhìn thông suốt và đầy đủ về trường xưa. Bản thân mình cũng có một tham vọng dựng lên quá trình thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên, nhưng phần vì ở xa không có điều kiện đến tại chỗ tìm tòi sách vở hay tham khảo các ý kiến tiền nhân tại Hà Tiên, phần lại sinh sau đến muộn, chưa đủ thời gian trải nghiệm từ khi trường được ra đời nên rất khó thực hiện được ý nghĩ nầy…Rồi lại suy nghĩ rằng « kẻ ít người nhiều », nếu mỗi người trong chúng ta đóng góp một vài tư liệu, viết một vài dòng, đăng một vài tấm ảnh kỹ niệm ngày xưa thì có khi kết quả lại bất ngờ rất hay, lý thú và giúp cho một bạn văn nào đó có ý khoa học, biết suy luận, tổng kết và từ đó sẽ có bài viết đầy đủ cho chúng ta về lai lịch ngôi trường xưa Trung Học Hà Tiên. Cần xác nhận là ngôi trường nói trong bài viết nầy là ngôi trường Trung Học Hà Tiên, tọa lạc tại góc đường Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Hoàng, dưới chân Lầu Ba (núi Ngũ Hổ).

Phần 1: Quá trình về hiệu trưởng và các vị giáo sư, nhân viên văn phòng, bảo vệ:

Sau khi tham khảo ý kiến một số bạn từng là học sinh Trung Học Hà Tiên và chiếu qua các hình ảnh về ngôi trường, ta có thể bắt nguồn như sau: Vào năm 1955, thầy giáo trẻ Trường Minh Đạt sau khi học xong các trường lớn ở Sài Gòn (Trương Vĩnh Ký, Sư Phạm Sài Gòn,…) đã trở về Hà Tiên làm việc với ý định mở trường lớp cho con em Hà Tiên có điều kiện theo học tại chỗ. Thầy giáo Đạt lập hồ sơ xin thành lập trường Trung Học Tỉnh Hà Tiên dưới sự quản lý của các Nha Bộ ở Sài Gòn. Qua năm 1956 trường được thành lập với tên chính thức « Trường Trung Học Hà Tiên » với 4 lớp học và người Hiệu Trưởng đầu tiên là ông Thanh Tra tỉnh kiêm hiệu trưởng: thầy Hà Văn Điền (người Hà Tiên gọi ông một cách cung kính là Ông Đốc Điền, chính là ba của cô giáo Hà Thị Hồng Loan, sau nầy cô Hồng Loan cũng trở về dạy học ở ngôi trường nầy vào những năm 1960, nhà ông Đốc Điền ngày xưa ở đường Bến Trần Hầu, Hà Tiên).

Thầy Trương Minh Đạt (người gốc Hà Tiên), một trong những vị thầy có công trong công việc thành lập ngôi trường Trung Học Hà Tiên. Trái: hình chụp năm 1968, phải: hình chụp năm  2017. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên và đã trở thành một nhà nghiên cứu về Hà Tiên.

Cuối năm 1956, Hà Tiên trở thành quận thuộc tỉnh Kiên Giang, ngôi trường Trung Học Hà Tiên vẫn như vậy nhưng xem như là trường quận. (1956-1957)

Sang năm 1958 có thầy Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu) về Hà Tiên làm Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên, lúc nầy thầy Trương Minh Đạt bắt đầu thuyên chuyển về Phan Rang. Theo một tài liệu trên face book mà mình tìm ra được thì vào năm 1959, trường Trung Học Hà Tiên có một giáo sư đổi về trường dạy, vị thầy nầy tên là Phạm Công Nhựt và thầy có viết trong một nhận xét trên fb như sau:

« Tôi nhận sự vụ lệnh xuống dạy ở trường Trung Học Hà Tiên tháng 9/1959. Hiệu trưởng lúc đó là Ông Hồ Văn Chiếu, thanh tra tiểu học tạm đảm nhiệm. Trường có 4 lớp, từ đệ thất tới đệ tứ. Ban giáo sư gồm có:
– Ông Bảo – dạy toán
– Ông Viên – dạy văn (tức là thầy Nguyễn Văn Viên)
– Ông Tường – Pháp văn (tức là thầy Võ Thành Tường)
– Ông Nam và Ông Điệp – Anh văn (tức là thầy Nguyễn Xuân Nam và thầy Hồ Quang Điệp)
– Ông Nhựt – Vạn Vật- Nhạc- Thể Dục (tức là thầy Phạm Công Nhựt)
– Ông Hoan- Lý Hoá (tức là thầy Lê Trung Hoan)
– ông Ký – giám thị (tức là thầy Trịnh Học Ký)
Niên khoá sau 1960-1961, ông Doãn Quốc Sỹ xuống đảm nhiệm chức hiệu trưởng trung học Hà Tiên. Ông Hồ Văn Chiếu trở về Ty tiểu học Rạch Giá. Hai năm sau, ông Doãn Quốc Sỹ trở về Sài Gòn, ông Lê Trung Hoan (dạy Lý Hoá) được thay thế. Lúc nầy tất cả các GS lần lượt bị đông viên. Ông Lại Xuân Quất được cử làm hiệu trưởng thay thế ông Lê Trung Hoan »

Thầy Phạm Công Nhựt, hình trái chụp năm 1973 (lúc nầy đã đổi về dạy trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá), hình phải năm 2017, hiên nay thầy Nhựt định cư ở nước Canada.

Như vậy qua tài liệu nầy ta biết được diễn biến của trường Trung Học Hà Tiên qua khoảng thời gian 1959 – 1961. Vì bản thân mình là « hậu bối » nên không được biết trực tiếp thầy Phạm Công Nhựt. Tuy nhiên đối chiếu lại trong bài giới thiệu bạn học cùng trường, phần bài về chị Nguyễn Thị Hoa, thì thấy thầy Phạm Công Nhựt có dạy lớp chị Hoa vào niên khóa Đệ Thất 1961-1962; thầy dạy môn Vạn Vật. Sau khi trải qua hai vị hiệu trưởng: Hà Văn Điền (1956-1958); Hồ Minh Chiếu (hay Hồ Văn Chiếu 1958-1960); theo lời thầy Nhựt viết thì đến giai đoạn thầy hiệu trưởng Doãn Quốc Sỹ (1960-1962), mãi sau nầy người Hà Tiên chúng ta mới biết được là thầy Doãn Quốc Sỹ chẳng những là một nhà mô phạm, mà lại còn là một nhà văn rất nỗi tiếng của nền văn học miền nam, ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị. Sau 1975 ông cũng từng đi học tập cải tạo, ở tù, sau đó ông đi định cư ở nước Úc và hiện nay ông sống ở nước Mỹ. Đến năm nay 2018, thầy Doãn Quốc Sỹ đã mừng sinh nhật 95 tuổi (Xin thầy cô và các bạn chú ý là tên của thầy viết là Doãn Quốc Sỹ chứ không phải là Sĩ).

Thầy hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên và cũng là nhà văn Doãn Quốc Sỹ lúc trẻ và hiện nay.

Kế đến là thầy hiệu trưởng Lê Trung Hoan (1962-1964); đến đây bắt đầu các vị hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên mà mình được biết đến một cách trực tiếp, đó là thầy Lại Xuân Quất (1964-1966), xin thầy cô và các bạn chú ý, tên của thầy phải viết là Quất chứ không phải « Quấc hay Quốc », vì mình còn dấu mộc tên của thầy đóng trong các sổ học bạ của mình vào thời nầy. Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Lê Trung Hoan và Lại Xuân Quất.

Mộc Hiệu Trưởng trường Trung Học Hà Tiên và tên thầy hiệu trưởng: Lại Xuân Quất (1964-1966)

Thầy Lại Xuân Quất  làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên lúc mình vào lớp đệ thất, niên khóa 1964-1965

Trái: Hiệu trướng Lê Trung Hoan, phải: Hiệu trưởng Lại Xuân Quất

Khoảng cuối năm 1962, có thầy Nguyễn Văn Nén từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Nén là một trong ba vị giáo sư cùng về dạy trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu của thập niên 60. Đó là thầy Nguyễn Văn Hiệp (dạy môn Văn), thầy Nguyễn Trí Thuận (dạy môn Pháp văn), và thầy Nguyễn Văn Nén (dạy môn Toán).  Ba vị thầy nầy rất có ảnh hưởng đến riêng cá nhân mình và của lớp học của mình, vì quý thầy dạy lớp học của mình nhiều năm. Qua các lời phê chuẩn, chấm điểm bài làm của riêng mình và của toàn lớp mình, quý thầy đã tỏ ra có sự chú ý rất thân mật, thường khuyến khích, khen ngợi kết quả học tập của riêng mình và của toàn lớp mình. Mỗi buối tối, các học trò Hà Tiên thường thấy ba vị thầy dùng cơm tối ở quán Xuân Thạnh đường Trần Hầu, Hà Tiên.

Từ lúc 1965, trường Trung Học Hà Tiên đã có 6 lớp từ đệ thất đến đệ nhị. Các lớp từ đệ thất đến đệ ngũ học buổi chiều, đệ tứ đến đệ nhị học buổi sáng, học sinh Anh văn và Pháp văn học chung, đến giờ sinh ngữ thì một lớp phải học tại phòng thí nghiệm (vào buổi chiều nắng rất nóng). Nền nếp này được duy trì cho đến năm học 1970-1971. Nhưng từ năm học 1968-1969, do nhu cầu phát triển, trường có hai lớp đệ thất và phân ra lớp Anh văn và lớp Pháp văn, tuy nhiên chưa có cơ sở vật chất nên phải mượn phòng học của trường tiểu học, đồng thời trường cũng được cất thêm dãy phòng học cặp đường Mạc Thiên Tích.

Vào năm 1965 có một phong trào các vị giáo sư trẻ từ Sài Gòn đổi về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là một dịp rất may mắn cho học trò Trung Học Hà Tiên vì lực lượng quý thầy cô nầy rất hùng hậu, trẻ tuổi, đầy tâm huyết và trong sự tiếp xúc, giao thiệp quý thầy rất gần gủi với học sinh. Trong số nầy có thầy Nguyễn Hồng Ẩn (dạy môn Lý Hóa), thầy Bùi Hữu Trí (dạy môn Anh văn và Pháp văn), cô Nguyễn Minh Nguyệt (dạy môn Anh văn và Pháp văn), thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa)…v…v…Trong thời gian nầy, một trong những vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất với học trò là thầy Nguyễn Hồng Ẩn, thầy vừa trẻ tuổi, rất đẹp trai, ăn mặc phong độ, và thường hay tiếp xúc, đi du ngoạn với học trò nên các bạn học cùng trường ai cũng rất quý mến thầy, chính nhờ có khối tư liệu hình ảnh riêng tư mà thầy Ẩn đã chụp rất nhiều trong thời gian dạy học ở Hà Tiên mà chúng ta mới có được những hình ảnh ngôi trường xưa và hình ảnh các đồng nghiệp của thầy, mình sẽ trích đăng vào đây các hình ảnh về ngôi trường mà thầy Ẩn đã còn lưu lại được, xin cám ơn thầy Nguyễn Hồng Ẩn rất nhiều.

Trong khoảng giữa năm 1966 có một giai đoạn ngắn thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp văn) giữ quyền hiệu trưởng vì thầy hiệu trưởng đương chức là thầy Lại Xuân Quất thuyên chuyển đi nơi khác. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ lục (1965-1966) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Trí Thuận:

Thầy Nguyễn Trí Thuận quyền hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn ngắn giữa năm 1966

Từ giữa năm 1966 trở về sau, thầy Nguyễn Văn Thành (dạy môn Lý Hóa) được cử làm hiệu trưởng chính thức trường Trung Học Hà Tiên, đây là một giai đoạn ổn định và thầy Thành làm hiệu trưởng trong một thời gian khá lâu dài (1966-1973). Chúng ta không có tin tức hiện nay của hai thầy Nguyễn Trí Thuận và Nguyễn Văn Thành. Dưới đây là một phần trang học bạ năm lớp đệ ngũ (1966-1967) của mình có chữ ký của thầy Nguyễn Văn Thành:

Thầy Nguyễn Văn Thành làm hiệu trưởng Trung Học Hà Tiên trong một giai đoạn khá lâu (1966-1973)

Trái: Hiệu trướng Nguyễn Trí Thuận, phải: Hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành

Trong lúc nầy vào ngày 02/03/1966 thầy Nguyễn Văn Nén nhận lệnh gọi nhập ngủ  nên thầy rời trường Trung Học Hà Tiên lên đường nhập học quân sự. Sau khi mản khóa học ra trường Bộ Binh, Thầy được bổ nhiệm trở lại ngành Giáo Dục nên trở về lại tiếp tục dạy học ở trường cũ Trung Học Hà Tiên vào tháng 3 năm 1970.  Trong thời gian nầy hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên là thầy Nguyễn Văn Thành (đồng thời  cũng là giáo sư Lý Hóa). Thầy Nguyễn Văn Nén tiếp tục dạy môn Toán trong thời gian nầy và đôi khi cũng dạy thêm môn Sữ Địa cho lớp đệ thất. Kể từ niên khóa 1973 thầy Nguyễn Văn Nén được bổ nhiệm làm hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên  và giữ chức vụ đó cho đến ngày 05/05/1975 thì bàn giao trường lớp lại cho ban quản lý mới. Thầy Nguyễn Văn Nén là một trong những vị thầy còn gắn bó rất lâu với trường Trung Học Hà Tiên, sau tháng năm năm 1975 thầy nghỉ dạy học và ở nhà cho đến tháng ba năm 1995 thầy được định cư ở nước Mỹ. (Bắt đầu cuộc sống định cư bên nước Mỹ, thầy đổi tên là : Nguyễn Nên). Mặc dù hiện định cư ở đất Mỹ nhưng thầy Nguyễn Văn Nén vẫn dành thời gian dài gần 2 năm lưu trú tại Việt Nam, ngay tại ngôi  nhà thân thương đầy kỹ niệm tại đất Hà Tiên. Hiện thầy sống ở nước Mỹ. Chính thầy Nguyễn Văn Nén đã cung cấp cho chúng ta một số ảnh hiếm và quý về quý vị giáo sư trong những năm đầu thập niên 1960, xin cám ơn thầy rất nhiều.

Thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Nén, hình trái chụp vào năm 1965, hình phải chụp vào năm 2016

Sau đây là một số hình ảnh về quý thầy cô đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu khi trường mới được thành lập.

Niên khóa 1962-1963, trước văn phòng trường Trung Học Hà Tiên. 1: Thầy Lê Văn Triệu (Toán), 2: Thầy Vũ Quang Vinh (Văn); Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 4: Thầy Lê Văn Quang (Sử Địa), 5: Thầy Đỗ Huỳnh Có (Vạn Vật), 6: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 7: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 8: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 9: Thầy Võ Thành Tường (Pháp Văn), 10: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 11: Cô Lý Ngọc Mai (Nữ Công), 12: Thầy Lê Trung Hoan (Hiệu Trưởng), 13: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp văn)

1: Thầy Nguyễn Ngọc Lung (Âm Nhạc), 2: Thầy Võ Thành Tài (Anh Văn), 3: Thầy Nguyễn Văn Hiệp (Lý Hóa), 4: Ông Nguyễn Văn Thân (Thư Ký), 5: Thầy Nguyễn Văn Nén (Toán), 6: Thầy Nguyễn Lê Hùng (Pháp Văn), 7: Thầy Nguyễn Trí Thuận (Pháp Văn), 8: Thầy Lại Xuân Quất (Hiệu Trưởng), 9: Thầy Đinh Văn Giáp (Sử Địa), 10: Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), 11: Thầy Hồ Quang Điệp (Anh Văn), 12: Thầy Trịnh Học Ký (Giám Thị, Thể Dục)

1/ Thầy Doãn Quốc Sỹ, 2/ Thầy Trần Văn Hương, 3/ Thầy Trương Minh Hiển, 4/ Thầy Hồ Quang Điệp, 5/ Thầy Phạm Công Nhựt, 6/ Thầy Lê Trung Hoan, 7/ Cô Quỳnh, 8/ Thầy Nguyễn Xuân Nam, 9/ Thầy Nguyễn Như Bảo, 10/ Thầy Lê Văn Triệu, 11/ Ông Nguyễn Văn Thân, 12/ Thầy Võ Thành Tài, A/ Anh Phan Đình Khải (con trai của bác Phan Văn Thân tiệm đồi mồi Hà Tiên ngày xưa), B/ Anh Trần Tuấn Hùng (con trai của bác Trần Thiêm Trung tức Ông Phán Trung, anh Hùng là anh của Trần Hoàng Phượng và Trần Hoàng Trang)

Thầy Võ Thành Tường (Anh văn, Pháp văn), hình trái chụp năm 1962, hình phải chụp năm 2018. Hiện thầy Võ Thành Tường đinh cư tại nước Mỹ.

Từ trái qua phải: Thầy Hứa Văn Vàng (giám thị), Thầy Nguyễn Hồng Ẫn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Văn Thành (Toán), Cô Trần Diệu Hiền (thư ký) và Chú Tỷ bảo vệ trường. (trước cổng chánh trường Trung học Hà Tiên năm 1968. Bổ túc thêm là vào những năm 1960, trường Trung Học Hà Tiên có hai nhân viên bảo vệ tên là Bác Ngọ và Chú Tỹ.

Thầy Trương Minh Hiển (người gốc Hà Tiên, anh song sinh với thầy Trương Minh Đạt), dạy môn Quốc văn trong những năm 1960-1970. Hình phải thầy Trương Minh Hiển chụp vào năm 1997 tại Hà Tiên. Thầy mất năm 2005.

Trái qua phải: Cô Nguyễn Minh Nguyệt (Pháp Văn), cô Vương Thị Lành (Quốc Văn), cô Hà Thị Hồng Loan (Quốc Văn), cô Trần Diệu Hiền (giám thị) trường Trung Học Hà Tiên.

Bên trái: Cô Hà Thị Hồng Loan, giữa: cô Nguyễn Minh Nguyệt, phải: cô Vương Thị Lành, đang dự tiệc cuối năm (bánh tây và nước ngọt). Sau lưng cô là một bạn học sinh không biết tên, các bạn cố gắng nhận dạng là ai nhé. (Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Bên trái: có thể là thầy Nguyễn Tấn Ngoan, giữa; cô Hà Thị Hồng Loan, phải: cô Trần Diệu Hiền (văn phòng Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970)

Cô Hà Thị Hồng Loan (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. Hình phải, cô Hồng Loan hiện nay sinh sống tại Hóc Môn ngoại ô Sài Gòn.

Cô Vương Thị Lành (người gốc Hà Tiên) dạy môn Quốc văn tại trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970. cô Lành cũng có một thời gian ngắn làm xử lý thường vụ chức Hiệu Trưởng thế cho thầy Nguyễn Văn Thành.  Hình phải, cô Vương Thị Lành (2017) hiện nay cô định cư ở nước Mỹ.

Niên khóa 1965-1966, từ trái qua phải: Thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Lý Hóa), Thầy Nguyễn Đức Sơn (Quốc Văn), Thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), Thầy Phùng Tuấn Sinh (Triết học, Công Dân)

Từ trái sang phải: Đại Úy Lực, thầy Bùi Hữu Trí (Anh văn, Pháp văn), thầy Nguyễn Hồng Ẩn (Vật Lý). Hình chụp trong những năm 1965-1966 tai sân quần vợt đường Mạc Công Du, Hà Tiên.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa từ năm 1965. Hình phải (2018): hiên nay thầy Nguyễn Hồng Ẩn định cư ở nước Mỹ, thầy đang chào quý thầy cô và các học sinh Trung Học Hà Tiên đó các bạn…

Thầy Phan Văn Xuân (dạy lớp mình môn Toán trong những năm 1960-1970). Thầy Xuân là người gốc gác Hà Tiên, thầy là vai cậu của các bạn Hoàng Đức Trung, Hoàng Thu Bình, Hoàng Thị Minh Liên. Hiện thầy Xuân vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên. Trái: Ảnh chụp lúc thầy còn đi học; phải: ảnh chụp lúc thầy về nghỉ hưu ở Hà Tiên 2017

Đặc biệt trong thập niên 1960-1970, trường Trung Học Hà Tiên có được hai thầy cô dạy môn Sinh Ngữ (Pháp văn và Anh văn) rất nhiệt tình và rất yêu mến học trò. Đó là thầy Bùi Hữu Trí và phu nhân của thầy là cô Nguyễn Minh Nguyệt. Thầy cô trong sinh hoạt giảng dạy, văn nghệ, thể thao rất thân cận với học trò, nhất là cô Minh Nguyệt, cô có rất nhiều học trò « thân yêu », vì các bạn đó học giỏi môn của cô dạy (Pháp văn). Sự có mặt của thầy cô Trí và Nguyệt ở Hà Tiên làm cho giới trẻ học trò rất yêu thích và luôn ngưởng mộ thầy cô. Thầy Trí ngoài giờ dạy còn tổ chức lớp dạy võ Karaté, lấy phòng thí nghiệm dưới chân Lầu Ba làm võ đường thực tập, mình cũng có tham dự học lớp võ thuật Karaté của thầy Trí. Còn cô Nguyệt thì tươi trẻ, ăn mặc rất đẹp và tân tiến, đem sắc thái « à la mode » của thủ đô Sài Gòn về Hà Tiên…Một số bạn học giao thiệp rất thân với thầy cô như: Lý Cảnh Tiên, Lý Mạnh Thường, Trần Văn Mãnh, Trần Văn Dõng, Nhan Hồng Hà, Nguyễn Đình Nguyên, Lê Công Hưởng…(phần lớn là các bạn chơi nhạc và tập võ thuật…). Chúng ta không có tin tức về thầy cô hiện nay, chỉ biết là thầy cô đã định cư ở nước Mỹ.

Thầy Bùi Hữu Trí và cô Nguyễn Minh Nguyệt, thầy cô dạy môn Pháp văn và Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong thập niên 1960-1970

Cô Tiền Ngọc Thanh (người gốc Hà Tiên, dạy môn Vạn Vật trong những năm giữa thập niên 60). Hình phải: 2018, hiện nay cô Tiền Ngọc Thanh đinh cư tại nước Mỹ. (cô luôn giữ được nết đẹp quý phái)

Trong những năm cuối thập niên 60, có một đợt các vị giáo sư trẻ đổi về Hà Tiên dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là quý thầy: Nguyễn Phúc Hậu (dạy môn Pháp văn), thầy Nguyễn Tấn Ngoan (dạy môn Toán), thầy Bùi Văn Cầm (dạy môn Vạn Vật), Nguyễn Văn Út (dạy môn Sử Địa), thầy Nguyễn Thanh Liêm (dạy môn Toán), thầy Phan Văn Chiếu (dạy môn Công Dân Giáo Dục)… Thầy Nguyễn Phúc Hậu hiện nay định cư ở nước Canada, thầy Nguyễn Tấn Ngoan thì học sinh không có tin tức, thầy Bùi Văn Cầm sau khi về quê Qui Nhơn sinh sống, có lúc vào năm 1986 bạn Trương Thanh Hùng có gặp thầy tại Qui Nhơn nhưng sau đó thì không được tin tức của thầy nữa. Chúng ta cũng không có tin của thầy Nguyễn Văn Út, nghe nói thầy đã mất lâu rồi, Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy lớp mình môn Toán, thầy Liêm rất gần gủi học trò, sau một hai năm dạy học ở Hà Tiên, thầy đã chọn nơi nầy làm quê hương thứ hai, thầy chính là phu quân của chị Nguyễn Thị Hoa học trò kỳ cựu Hà Tiên, thầy Liêm sau khi trở về quê thì bệnh và qua đời tại quê Thốt Nốt (2013). Thầy Phan Văn CHiếu cũng đã qua đời tại nước Pháp.

Thầy Nguyễn Phúc Hậu vào năm 1970, hình phải: thầy Hậu hiện định cư ở nước Canada.

Thầy Nguyễn Thanh Liêm dạy toán những năm 1969-1972; hình phải: thầy Liêm đổi về quê Thốt Nốt và qua đời vào năm 2013

Trong những năm đầu của thập niên 1970, có thêm một đợt quý cô đổi về trường Trung Học Hà Tiên, đó là cô Võ Kim Loan (dạy môn Quốc văn), cô Nguyễn Ngọc Oanh (dạy môn Lý Hóa) và cô Dương Thị Minh Hoa (dạy môn Vạn Vật). Cô Kim Loan hiện định cư ở nước Mỹ, chúng ta không có tin tức của cô Ngọc Oanh, cô Minh Hoa hiện định cư ở nước Mỹ. Vì mình đã rời trường Trung Học Hà Tiên bắt đầu vào niên khóa 1970-1971 nên mình không được dịp hân hạnh tiếp xúc với quý cô, chỉ sau khi có Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » thì được bạn học giới thiệu với quý cô và vẫn giữ liên lạc với quý cô.

Cô giáo sư trẻ đẹp Võ Kim Loan (1970), hình phải (2018): hiện cô Vó Kim Loan định cư ở nước Mỹ.

Cô giáo sư tươi trẻ ngày xưa Duong Thị Minh Hoa (1970); hình phải (2017): Cô Minh Hoa hiện định cư tại nước Mỹ

Hình trái: Cô Nguyễn Ngọc Oanh (1970), hiện nay ta không có tin tức về cô; hình phải (1970) thầy Phan Văn Chiếu, thầy qua đời bên nước Pháp

Bên trái: thầy Hứa Văn Vàng, dạy học và đồng thời là giám thị, bên phải: cô Trần Diệu Hiền, thư ký văn phòng và cũng là giám thị trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 60-70. Thầy Vàng và cô Hiền đều đã qua đời tại Hà Tiên

Đồng thời trong thời gian nầy, những năm đầu của thập niên 1970, có thầy Huỳnh Văn Xền, người gốc gác Hà Tiên, nhà thầy ở đường Tô Châu, thầy Huỳnh Văn Xền dạy một thời gian tại trường Trung Học Hà Tiên. Hiên nay thầy Huỳnh Văn Xền định cư ở nước Pháp.

Thầy Huỳnh Văn Xền dạy học tại trường Trung Học Hà Tiên vào những năm đầu thập niên 1970.

Thầy Lê Quang Khải dạy môn Anh văn, Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1970 trở đi, thầy Khải là người gốc Hà Tiên, em của thầy Lê Quang Thuyên và anh của thầy Lê Quang Khanh, thầy Khanh ngày xưa dạy mình ở bậc Tiểu Học Hà Tiên. Ba anh em thầy Lê Quang Thuyên, Lê Quang Khải và Lê Quang Khanh dều là con của nhà giáo, nhà thơ lão thành Lê Quang Phấn (hiệu là Bach Như), một trong những người Hà Tiên tiếp nối truyền thống Chiêu Anh Các (Mạc Thiên Tích). Chính nhà thơ Bạch Như là tác giả của hai câu đối chưng trong phòng tiền vãng trường Tiểu Học Hà Tiên.

« Hạnh đàn vắng vẻ chạnh tiền nhân soi tỏ đuốc quan hoài

Mộc đạc vang lừng giục hậu tấn bước lên đài tiến hóa ».

Thầy Lê Quang Khải, người gốc Hà Tiên, dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên trong những năm đầu thập niên 70, hiện thầy định cư ở nước Mỹ

Vào niên khóa 1973-1974 có một thầy tên Khải nữa về dạy trường Trung Học Hà Tiên, đó là thầy Phạm Văn Khải, thầy Khải dạy môn Anh văn. Xin mở ngoặc ở đây là vì trường có hai thầy cùng tên Khải nên học trò thường đặt tên phụ cho mỗi thầy một biệt danh để phân biệt: thầy Lê Quang Khải có râu rất oai phong học trò gọi là thầy « Khải râu », còn thầy Phạm Văn Khải không để râu, học trò gọi là thầy « Khải trụi »,….đó cũng là tính lý lắc của mấy bạn học trò ngày xưa, mong quý thầy thông cảm tha thứ cho nhé,…

Gần cuối nhiệm kỳ của thầy hiệu trưởng Nguyễn Văn Thành, khoảng từ năm 1973 trở đi, trường Trung Học Hà Tiên lại có thêm một cô thư ký nữa, đó là cô Lê Thị Tám, không phải ai xa lạ, cô Tám chính là người em gái ruột của bạn Lê Công Hưởng (Hưởng là bạn học chung lớp với anh Trần Văn Dõng, Lâm Hữu Quyền,…). Đó cũng là truyền thống của người học trò Hà Tiên, vì thường thường các học trò khi học tập xong rất thích ở lại phục vụ nhà trường, có người trở thành thầy cô giáo, có người trở thành thư ký cho trường, vì tình trạng cũng rất thuận lợi, ở ngay tại quê nhà, gần gủi cha mẹ đồng thời làm việc phục vụ cho trường lớp quê mình. Cô Lê Thị Tám làm thư lý nhiều năm tiếp theo, sau nầy cô cũng chính là phu nhân của thầy hiệu trưởng Bùi Đăng Trường. Thầy Bùi Đăng Trường người gốc Nhà Bè, thầy Trường có giọng ca « vọng cổ » rất hay. Hiện cô Lê Thị Tám vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên.

Cô Lê Thị Tám, ngày xưa là học sinh của Trường Trung Học Hà Tiên và sau đó là thư ký của Trường Trung Học Hà Tiên trong những năm 1973.

Trong khoảng thời gian 1973-1975 có cô Trương Thị Bạch Cúc người gốc Rạch Giá, về trường Trung Học Hà Tiên dạy môn Văn, sau đó cô Bạch Cúc chuyển về dạy tại Kiên Lương. Hiên nay cô Trương Thị Bạch Cúc định cư ở nước Canada.

Thầy Lâm Hữu Quyền, người gốc gác Hà Tiên, và cũng là một học sinh của ngôi trường Trung Học Hà Tiên, là bạn học cùng lớp với các bạn Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Nhan Hồng Hà,..v..v…Bạn Quyền học trên mình một lớp. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, thầy Lâm Hữu Quyền về dạy môn Toán tại quê nhà, trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Lâm Hữu Quyền sau nầy làm hiệu trưởng trường cơ sở Đông Hồ Hà Tiên và hiện nay thầy về nghỉ hưu, vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Thầy Lâm Hữu Quyền dạy môn Toán trường Trung Học Hà Tiên. Hiện nay thầy vẫn sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Từ nhỏ đến lớn mình vẫn luôn theo học tại hai ngôi trường Tiểu Học và Trung Học Hà Tiên, đến niên khóa 1970-1971 trường Trung Học Hà Tiên vẫn chưa có lớp đệ nhất (lớp 12) nên niên khóa nầy mình chuyển sang theo học ở trường Trung Học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, vì thế sự hiểu biết về tình hình giảng dạy, đội ngũ thầy cô giáo sư, hiệu trưởng của trường Trung Học Hà Tiên đối với mình trở nên thiếu sót và thông tin hơi khá phức tạp.Tuy nhiên theo sự đóng góp của thầy cô và các bạn có liên hệ đến ngôi trường Trung Học Hà Tiên, có thể tóm tắt tình hình tiếp tục như sau tuy vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Sau khi chuyển giao ngôi trường Trung Học Hà Tiên cho ban quản lý mới vào tháng 05 năm 1975, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động cho đến năm 1977. Trong thời gian nầy có cô Lâm Ngọc Mai vốn là một học sinh gốc gác Hà Tiên, đã từng theo học tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nầy từ xưa, và cô đã thành tài trở về dạy học tại ngôi trường nầy từ những năm 1969, 1970. Khi trường do ban quản lý mới điều hành sau tháng 05 năm 1975, cô Lâm Ngọc Mai được cử làm hiệu trưởng trong khoảng thời gian 1975-1976. Sau đó cô Lâm Ngọc Mai chuyển về Rạch Giá làm việc và hiện nay cô về nghỉ hưu tại Sài Gòn. Khoảng năm 1975 có thầy Nguyễn Văn Hợi dạy môn Sinh Vật.

Cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai, trái: hình chụp trong những năm 60, phải: hình chụp hiện nay 2018

Qua niên khóa 1976-1977 có thầy tên Lê Thanh Chương làm hiệu trưởng trường Trung Học Hà Tiên. Dưới đây là hai mẫu học bạ có chữ ký tên của cô Lâm Ngọc Mai và thầy Lê Thanh Chương. Đến đây nếu thầy cô và các bạn chú ý sẽ thấy tên gọi chánh thức của trường Trung Học Hà Tiên đã thay đổi, trong dấu mộc đóng bên cạnh tên của hiệu trưởng, ta thấy có đề tên: Trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên, tuy nhiên dưới chữ « Phổ Thông » trong dấu mộc đóng, ta không nhìn rỏ ra được các chữ tiếp theo là chữ gì, chỉ đọc được chữ « cấp » sau đó nét mực đỏ hơi bị nhòa nên không rỏ là 3 (cấp 3) hay là 2 và 3 (cấp 2 và 3) !!

Hình trái: Chữ ký tên của cô hiệu trưởng Lâm Ngọc Mai (1976), hình phải: chữ ký tên của thầy hiệu trưởng Lê Thanh Chương (1977)

Thầy Trần Đại Thắng là học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa (con trai của thầy hiệu trưởng trường Tiểu học Hà Tiên Trần Văn Hương), học chung lớp với các đàn anh đàn chị như Nguyễn Thị Hoa, Huỳnh Thị Kim, Trần Hồng Khanh,..Sau khi thành tài, thầy Trần Đại Thắng trở về Hà Tiên làm hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc (trường xây tại chân núi Địa Tạng gần Thach Động). Sau 1975 thầy Trần Đại Thắng về dạy môn Sinh Vật trường Trung Học Hà Tiên và tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục cho đến lúc về hưu. Bạn Thắng cũng có lúc (1973-1975) thường đi chơi chung với mình và một người bạn nữa là La Tấn Lực. Bạn Thắng mất vì bệnh vào ngày mùng 3 tháng 9 năm Mậu Tuất (Âm lịch) nhằm ngày 11/10/2018 dương lịch. Thầy Trần Đại Thắng an nghỉ tại đất nhà tại núi Đề Liêm (núi Phù Dung) ngày mùng 6 tháng 9 Mậu Tuất, nhằm ngày 14/10/2018.

Hiệu trưởng trường Nông Lâm Súc Hà Tiên và cũng là thầy dạy Trung Học Hà Tiên: thầy Trần Đại Thắng (hình chụp trong những năm gần đây)

Vào niên khóa 1976, một người bạn thân thiết từ sáu năm trong bậc Trung Học Hà Tiên, học chung lớp với mình là bạn Lý Mạnh Thường, sau một thời gian theo học ngành « Thương Mại Ngân Hàng » ở Long Xuyên, bạn Mạnh Thường trở về quê nhà Hà Tiên và theo ngành giáo, vào dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên. Thầy Mạnh Thường ngoài môn chánh là Anh văn, thầy còn phụ trách văn nghệ cho trường và có dạy thêm các môn ca, vũ, múa,…cho các em học sinh. Thầy Mạnh Thường rất được sự quý mến của các em học sinh trường Trung Học Hà Tiên. Sau một thời gian nghỉ dạy về hưu ngay tại căn nhà xưa ở đường Mạc Công Du, thầy Mạnh Thường lâm bệnh và từ trần vào năm 2013. (trước đó vào tháng 6 năm 2012, nhân một chuyến về thăm quê Hà Tiên mình và bạn Trương Thái Minh có đến thăm bạn Mạnh Thường).

Thầy Lý Mạnh Thường dạy môn Anh văn trường Trung Học Hà Tiên từ năm 1976

Một trong những học trò của ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn Nguyễn Thúy Vân, người gốc Hà Tiên, bạn học cùng lớp với Lâm Thị Lan, Trương Thanh Hùng, Hồ Thị Kim Hoàn,…v…v….cũng vào ngành giáo và dạy học môn Văn tại ngôi trường Trung Học Hà Tiên nhiều năm (từ năm 1974). Cô giáo Nguyễn Thúy Vân hiện nay đã về hưu và hiện vẫn sinh sống tại Hà Tiên.

Cô giáo trẻ Nguyễn Thúy Vân dạy môn Văn trường Trung Học Hà Tiên; bên phải (2017) hiện cô Nguyễn Thúy Vân sinh sống tại quê nhà Hà Tiên

Trong khoảng thời gian 1977 – 1981, ngôi trường Phổ Thông Hà Tiên lâm vào tình trạng bị bỏ hoang phế vì dân Hà Tiên đã di tản chạy giặc miền biên giới Khmer đỏ. Học sinh ở mọi cấp lớp buộc phải nghỉ học vì sơ tán, học trò tán loạn, giáo viên cũng phân tán, tất cả đều vượt qua sông Hà Tiên để tránh tầm pháo. Trường Phổ Thông Hà Tiên lúc đó gồm có cấp 2 và cấp 3 và có tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12, vì tình hình thực tế nên phải tách ra thành 2 bộ phận: Học trò cấp hai (từ lớp 6 đến lớp 9) thì học ở điểm Rạch Núi Thuận Yên, đình Thần Hoàng ở Thuận Yên… Còn cấp ba (từ lớp 10 đến lớp 12) thì phải chạy về đến Kiên Lương học trong những lán trại bằng lá dừa nước mới dựng tạm ở trước nhà ông Chín Vĩnh đoạn Bưu điện cũ của Kiên Lương mà đi sâu thêm vài trăm mét trong đồng …(điểm trường này do các thầy cô và học trò từ Trung Học Hà Tiên qua đây, bắt đầu xây dựng từ niên học 1977-1978 trong những năm chiến tranh đó, sau đó có thêm vài căn nhà lá nối tiếp, đến hết niên học 1980-1981 thì chính thầy trò học sinh dọn trường nầy trở về lại ngôi trường Trung Học Hà Tiên (của địa điểm Mạc Tử Hoàng).

Đến đây thì tình hình trở thành khá phức tạp, vì nếu tiếp tục viết theo quá trình trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên thì như trên đã viết, trường nầy đã sát nhập vào trường cấp hai của xả Thuận Yên. Lúc nầy thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cơ sở xã Thuận Yên nên tất cả học bạ của học sinh cấp 2 trường Hà Tiên đều do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, thầy Lâm Hữu Quyền làm hiệu phó cấp 2. Dưới đây là một phần trang học bạ của một học sinh cấp 2 trường Phổ Thông Hà Tiên do thầy Hứa Nhất Tâm ký tên, chú ý trong dấu đóng mộc, tên trường là Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên. Bắt đầu qua niên khóa 1979-1980, tình hình chiến tranh Tây Nam hơi yên ổn, thầy Hứa Nhất Tâm trở về Hà Tiên xây dựng, sửa sang lại trường lớp và năm sau thầy Tâm trở thành hiệu trưởng trường Phổ Thông cấp 2 Hà Tiên. Cũng xin nói thêm là năm học 1977-1978 cũng chính là một năm học rất đau buồn đối với học trò cấp 2 trường Phổ Thông Cơ Sở Hà Tiên vì chẳng những phải lìa xa ngôi trường ở Hà Tiên mà lại còn chứng kiến giai đoạn bi thảm của một gia đình thầy cô đang dạy học trong thời kỳ chiến tranh nầy: đó là cái chết của cô Phan Thị Tuyết Mai (dạy cấp 2 môn Sinh Vật) vì bị trúng đạn pháo kích của quân Khmer đỏ, người con của cô cũng bị chết , chồng của cô là thầy Trương Tự Cường (dạy cấp 2 môn Toán) cũng bị thương tích nhưng thoát chết. Sau đó người ta đưa cả gia đình thầy về Sài Gòn, kẻ sống người chết thật đau buồn, từ đó đến nay học sinh Hà Tiên không có tin tức của thầy Cường.

Thầy Hứa Nhất Tâm làm hiệu trưởng Trường Phổ Thông Cơ Sở xã Thuận Yên, cũng quyền hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 2 Hà Tiên. (1977-1979)

Mặt khác nếu viết theo quá trình của trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên thì như trên đã viết, từ niên khóa 1977-1978, trường di tản về Kiên Lương, lớp học dàn dựng tạm trên những chiếc lán trại, nhà lá, trong thời gian nầy thầy Lê Thanh Chương vẫn tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 1979. Đến từ niên học 1979-1980 thầy Nguyễn Văn Hùng dạy môn toán cấp 3 làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 (trường của Hà Tiên nhưng tạm di tản xuống ở Kiên Lương). Mình không có dịp biết thầy Nguyễn Văn Hùng, nhưng theo học trò Hà Tiên thì thầy Hùng rất dể mến, hiền hậu và rất được học trò kính mến. Thầy Nguyễn Văn Hùng đã từng dạy tại trường Trung Học Hà Tiên ngay từ năm 1974. Thầy Hùng, người gốc Gò Công, khi giặc Khmer đỏ pháo kích Hà Tiên, thầy Hùng bị thương. Sau này thầy Hùng làm hiệu trưởng rồi được điều sang làm trưởng phòng giáo dục Hà Tiên. Thầy Hùng đã mất vì bệnh vào năm 2015 tại quê nhà Củ Chi ngoại ô Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Văn Hùng từng làm hiệu trưởng trường Phổ Thông Cấp 3 Hà Tiên trong những năm trường di tản xuống Kiên Lương. (Hình thầy về nghỉ hưu ở quê nhà Củ Chi, ngoại ô Sài Gòn)

Cùng một đợt về trường Hà Tiên với thầy Nguyễn văn Hùng năm 1974, có thầy Trương Minh Tùng dạy môn Lý Hóa, sau đó thầy Trương Minh Tùng kết hôn với chị Trần Diệu Châu, em của cô Trần Diệu Hiền và là con của thầy Trần Hòa Hùng (thầy Hùng là hiệu trưởng một thời của trường Tiểu Học Hà Tiên). Hiện không biết thầy Trương Minh Tùng ở nơi nào.

Cô Trần Thị Mộng Hoàng dạy Pháp văn trường Trung Học Hà Tiên khoảng những năm 1977 trở đi. Theo lời học trò kể lại (Nguyễn Hữu Tâm): « Cô rất đẹp và rất tây với cặp mắt kính gọng to. Thời trung học cô là nữ sinh trường Marie Curie. Cô hát nhạc Pháp rất hay và chuẩn… Những năm gian khổ nhất của cấp 3 Trung học Hà Tiên là phải đi lao động cực nhọc ở những công trường đắp đập đào kinh, cô luôn theo sát với các học sinh đặc biệt là lớp tụi em.Cô hát bất cứ lúc nào tụi em yêu cầu để quên đi cái cực nhọc về thể xác…rất mong muốn được biết tin của cô đó các bạn ».