Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)

Publicités

Gửi bạn Đoàn Kim Minh (Lý Thị Lắc)

Thầy cô và các bạn thân mến, càng ngày chúng ta càng sống lại nhiều hơn với quá khứ và ký ức của Trường Trung Học Hà Tiên xưa….Thật vậy, mới hai ba hôm nay anh cả của Trường (tạm gọi như vậy nhé…) Trung Học Hà Tiên ngày xưa, anh Đoàn Kim Minh vừa xuất hiện với chúng ta qua sự khám phá và đọc bài trên Blog nầy, anh đã đem đến cho chúng ta nhiều kỷ niệm rất xa xưa, xa xưa đến nổi ngoại trừ những anh chị cao cấp không ai trong chúng ta có thể nhớ lại những câu chuyện do anh Minh kể trong bài viết…May mắn thay, tiếng kêu gọi của Trung Học Hà Tiên xưa đã vang đi khắp nơi, và hôm nay chúng ta hân hạnh đón tiếp một cách thật vui, thật trịnh trọng một cây bút mới, mới với Blog nhưng rất quen thuộc với khung trời Trung Học Hà Tiên ngày xưa…Đó là bài viết của chị Lý Thị Lắc, một người học trò của thời khai sanh ngôi trường Trung Học Hà Tiên,…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay chẳng những để gửi đến người bạn cùng trường lớp năm xưa với chị là anh Đoàn Kim Minh, mà còn viết bài để cho tất cả chúng ta, trước hay sau, cao tuổi hay vẫn còn « tươi trẻ »…biết được những kỷ niệm xa xưa mà chị và quý anh chị ngày xưa đã từng trải nghiệm qua…Chị Lý Thị Lắc viết bài hôm nay vì chị đã đọc qua bài viết của anh Minh và không thể không viết lên vài hàng chia sẻ cảm xúc. Một trong những người cô đã dạy mình thời Trung Học Hà Tiên, cô Tiền Ngọc Thanh, khi đọc bài của anh Minh viết cũng bồi hồi xúc động, vì hơn ai cả cô Thanh đã thấy trong bài anh Minh có nhắc đến người bạn đời thân yêu của cô năm xưa, cô đã viết nhận xét như sau:

« Cám ơn anh Đoàn Kim Mình. Tôi rất bùi ngùi khì anh nhắc đến Vương Mình Quí người yêu đầu tiên cũng là người chồng của tôi Tiền Ngọc Thanh. Khì ấy tôi còn rất nhỏ nên không biết các bậc đàn anh nhiều. Anh Quí mất rất sớm lúc chưa đầy 30 tuổi. » !! 

Hôm nay, trong bài viết nầy, chị Lý Thị Lắc cũng có nhắc đến thầy Vương Minh Quí, với một tính chất luôn cười vui nên được các bạn đặt cho danh hiệu, mình hoàn toàn không hiểu danh hiệu nầy và cũng không biết Ô.B.K ở gần chùa Năm Ông ngày xưa, mong rằng đó một danh hiệu vui, minh họa được tánh cách yêu đời, hay cười của thầy Quí…, hay cười, yêu đời cho dù thầy Vương Minh Quí đã rời xa cuộc sống một cách quá sớm…

Rồi thời gian cứ trôi qua, trường lớp có còn đó, vẫn « trơ gan cùng tuế nguyệt », cho dù dấu hằn của năm tháng, dấu tàn phá của chiến tranh biên giới, dấu hao mòn của bao nhiêu thế hệ học sinh sinh hoạt ở trường lớp từ lúc các bậc đàn anh, đàn chị rời xa trường mãi mãi,…Các anh chị người thì đi thật xa, người thì còn ở lại Hà Tiên, nhưng dù ở phương trời nào, ta cũng có cái tâm gần nhau, có một khung trời chung trong con tim, đó là khung trời kỷ niệm của Hà Tiên,…và dù cho ta chắc chắn sẽ rời xa trường lớp một lần nữa, lần nầy là vĩnh viễn, hãy tâm đắc với cái triết lý sống « đi về không hứa hẹn, không từ giả, hãy im lặng với vui buồn là đủ…. »  . (TVM viết vài hàng giới thiệu, Paris, 27/04/2019)

GỬI BẠN ĐOÀN KIM MINH (Lý Thị Lắc)

Tôi phải đặt bút viết ngay những dòng cảm xúc khi đọc bài của bạn. Rất cảm ơn đã cho tôi và những bạn học cùng lớp ngày xưa trở lại bao kỷ niệm vàng ngọc thuở ấu thơ. Thương yêu biết mấy tuổi học trò. Nếu không có Patrice Trần sáng lập trang “Trung học Hà Tiên xưa và nay” thì bao kỷ niệm ngày xưa… “tự mình ôm lấy”.

Đọc bài của bạn tôi phục sát đất, bạn nhớ kỹ quá, tài quá. Tôi nghĩ những ai là diễn viên múa trong bài “Gấm vàng” khi đọc những dòng của bạn chắc phải rưng rưng…

Tôi vẫn nhớ bạn rất thân với Vương Minh Quí. Quí lúc nào cũng cười cười, cười cười… Trong lớp mình, Nguyễn Văn Thu (ông xã của Huỳnh Thị Lành, nay đã mất) thường đặt cho mỗi người một “hỗn danh”, thấy Quí cười cười hoài Thu đặt Quí là “Ô.B.K” (Minh có nhớ ở chùa Năm Ông gần nhà máy đèn có Ô.B.K không?). Nói sao cho hết những kỷ niệm thuở học trò.

Còn một chuyện vui này nữa, tôi không biết bạn có bị “cồng sin” trong vụ án ăn cắp dừa nước ở mương đào gần lò vôi trên đường đi Thạch Động không? Hôm đó vào ngày chúa nhật, từ 7h – 9h chúng tôi bị thầy Giám thị Trịnh Học Ký bắt vào lớp “cấm túc” vì người chủ dừa nước thưa lũ học trò phá phách. Đến 9h, hết giờ “ở tù” thầy Giám thị nhỏ nhẹ: “Mấy em được về”. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi vẫn không quên hình ảnh thầy Ký há mồm kinh ngạc khi “bọn tù” nhao nhao:

– “Không về! không về! Ai biểu thầy phạt tụi em…”

Chân dung thầy Trịnh Học Ký, dạy môn Thể Dục và là Giám Thị Trường Trung Học Hà Tiên

Ôi, cha mẹ ơi! có bọn tù nào không chịu về khi được thả??? Đúng là “Nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bạn ạ, sau này chúng tôi thường đi đám giỗ thầy Trịnh Học Ký ở Sóc Trăng, khi cầm nén hương trước thầy tôi thường khấn: “Thầy ơi, xin tha tội cho lũ học trò quỉ quái ngày xưa”.

Bạn Minh ơi,

Thời gian qua nhanh quá, ngày nào chúng ta còn là những cậu bé, cô bé tuổi học trò, vui đùa vô tư trong sân trường Trung Học Hà Tiên mà nay đã là những lão niên tuổi cao sức yếu. Bây giờ, mỗi sáng chúng tôi thường tập dưỡng sinh trước sân nhà thầy Trương Minh Đạt. Trên đường đến sân tập, tôi thường tâm đắc với hai câu thơ:

“… Đi không từ giã, về không hẹn
Câm nín, vui buồn, ai biết đâu…”

Lý Thị Lắc, Hà Tiên, 27.4.2019

Cuộc hội ngộ giữa thầy, cô, học trò Trung Học Hà Tiên vào năm 2016. Hàng ngồi: Thầy cô Võ Thành Tường và thầy Nguyễn Văn Nén. Hàng đứng gữa: bìa trái chị Lý Thị Lắc và cô Nguyễn Thị Sồ, thầy Phan Văn Xuân và anh Đạng Văn Thơm. Phía sau: anh Lập (Hình: Nguyễn Bích Thủy)

Hình ảnh: Thầy Nguyễn Văn Nén, Nguyễn Bích Thủy

Thay mặt Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa », xin trân trọng cám ơn chị Lý Thị Lắc đã đóng góp cho chúng ta một bài viết thật hay, đầy kỷ niệm những năm xưa, hy vọng là chị sẽ tiếp tục cho chúng ta đọc những bài viết đầy ký ức của một thời trường Trung Học Hà Tiên.

Sai lầm (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngôi trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa đã có một khối lượng học sinh tuy không to lớn lắm nhưng cũng đủ để trải dài qua nhiều thập niên, từ khi được thành lập vào những năm đầu thập niên 50 cho đến những năm đầu của thiên niên 2000, kể ra cũng đã được hơn 50, 60 năm…Từ các bậc đàn anh, đàn chị của những lớp đầu tiên của ngôi trường: quý anh Trần Phình Chu, Phù Thọ Phương, Đoàn Kim Minh, Huỳnh Hữu Điền, quý chị Lý Thị Lắc, (cô) Hà Thị Hồng Loan,…cho đến quý anh chị bậc trước sau hay cùng thời với mình như Thái Nam Đệ, Trần Hồng Khanh, Trần Văn Dõng, Lý Cảnh Tiên, Lâm Hữu Quyền, Trương Thái Minh, Lý Mạnh Thường, Lâm Xuân Cúc, Trần Học Quang, Lê Phước Hải, Trường Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan,…và các bạn tuy đi sau nhưng cũng có liên hệ tình bạn thân thiết như Trần Tuấn Kiệt, Lê Phước Dương, Phạm Thị Kim Loan, Trần Thị Như Liên, Nguyễn Thị Điệp,..rồi các bạn của thời gian hơi xa  xa phía sau như Huỳnh Thị Sáu, Huỳnh Ngọc Tuyết, Trần Mỹ Hạnh, Lê Thị Tám,….rồi đến những niên học thật xa sau nữa thì mình không còn biết được các bạn, các em đi sau đó,…Tuy nhiên với những trang viết kể chuyện học trò, chuyện trường lớp, các kỷ niệm thời học sinh đó đã đưa chúng ta từ những anh chị cả của những thập niên 50 cho đến các em xa xa sau nầy, chúng ta lại hiểu được phần nào sinh hoạt học đường của tất cả…Từ các câu chuyện chơi văn nghệ rất xa xưa cho đến câu chuyện theo bạn năn nỉ học đánh trống gần gần sau nầy, tất cả đều cho chúng ta thấy những hoạt động liên hệ bạn bè, vui chơi của cả một khung trời của Trung Học Hà Tiên…Kỷ niệm có rất nhiều, kỷ niệm rất vui rất nhộn, nhưng cũng có những kỷ niệm hơi đau buồn, hơi luyến tiếc của một thời học sinh tuổi còn rất trẻ, ngôn từ, hành động cử chỉ không biết đo lường, suy tư, để rồi đi đến một điều gì đó gây muộn phiền cho mình, có khi sự muộn phiền đó theo đuổi, gặm nhấm tâm hồn mình cho đến nhiều năm dai dẳng sau nầy,..Chính bản thân mình cũng có trải qua kinh nghiệm sống nầy, đôi khi mình gây ra buồn phiền cho một người bạn trong quảng thời gian xa xưa, rồi vì một lý do nào đó, tự ái, sự bồng bột háo thắng, sự tự kỷ, sự co rút của mình tất cả những đặc tính đó làm cho mình không can đảm nói lên một lời dịu ngọt để làm cho tan biến sự giận hờn, buồn phiền, hiểu lầm trong tình bạn năm xưa,…Nếu một ngày nào đó với cuộc sống chính chắn của một người trưởng thành, mình được có một dịp may gặp lại và nói lên lời giải tỏa cho khúc mắc năm xưa thì thật là hay và đó cũng là dịp để ta vui mừng gặp lại bạn năm xưa và cùng nhau nhắc lại kỷ niệm xưa với một tình thần thật thanh thản thoải mái,..Nhưng dòng đời nhiều khi cũng đưa đến cho chúng ta nhiều bất ngờ, nhiều éo le, có khi gặp lại bạn rồi nhưng chưa nói lên được những gì thông cảm nhau thì thời gian lại khắc nghiệt không cho phép ta kéo dài thêm nổi vui hội ngộ,…Cây bút Quang Nguyên hôm nay cống hiến cho chúng ta một câu chuyện, chuyện thật hay, thật nhẹ vì cách hành văn trẻ trung, vui nhộn, nhưng chuyện cũng đượm một vẻ buồn vì cái kết thúc đau thương…và cái hối tiếc vẫn còn vấn vương đâu đó trong tâm hồn bạn,..Tựa bài là hai chữ « Sai lầm »,…chúng ta sẽ đặt câu hỏi « Sai lầm » của ai, ai đã phạm sai lầm ??? Và sự sai lầm nầy có thể được sửa chữa không ?? Rất khó mà phán quyết về sự kiện xảy ra trong câu chuyện, có sai lầm không khi ta không kịp nói lên lời phân giải với bạn, để nổi khúc mắc quá lâu với thời gian, có sai lầm không khi mình chọn một cách sống đi ra ngoài chuẩn mực của xã hội, có sai lầm không khi sự giáo dục của gia đình hơi buông lơi vì mọi thứ ràng buộc chung quanh, và có sai lầm không khi ta lại nhắc chuyện xưa mà thời gian gần như chôn lấp đi rồi…?? Nói tóm lại khi đọc câu chuyện mỗi người trong chúng ta sẽ tự phân tích và tự tìm hiểu cái thông điệp mà tác giả Quang Nguyên muốn gửi gắm qua bài viết nầy..Có một điều mà riêng mình nghĩ là sẽ không có gì sai lầm khi ta vẫn còn nhớ về bạn, về trường cũ năm xưa…!!.(Paris tháng 4, 2019, TVM viết vài hàng giới thiệu bài của Quang Nguyên)

Sai lầm  (Quang Nguyên)

Ai cũng từng trải tuổi thanh thiếu niên, ắt hẵn cũng thấy tình bạn trong tuổi học trò nó đáng quý thế nào, bởi từ tuổi học trò này đến mãi về sau, chúng ta có rất nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều người tốt kẻ xấu lần lượt bước vào và bước ra khỏi cuộc đời bạn, nhưng có một góc tủ riêng trong mỗi con người mà ở đó họ sắp đặt ngăn nắp những câu chuyện cũ thời học trò như những báu vật giá trị, thỉnh thoảng họ lại lấy các báu vật ra lau chùi, ngắm nhìn… rồi họ cảm giác hạnh phúc vì có nó. Những kỷ niệm của tuổi học trò là những báu vật, những người bạn của chúng ta vẫn ở mãi trong đó với mối thâm tình trân trọng keo sơn cùng đi với chúng ta đôi khi hết cả cuộc đời mình.

… Có một hôm tôi đi làm về khuya, mở đài FM tần số 99.9 Mhz hay 104,5 Mhz chi đó để làm ngắn đi quãng  đường vài chục ki lo mét về nhà, tôi chợt nghe một ca sĩ nào đó mà chất lượng giọng hát thoạt nghe chỉ có thể “té ghế” chứ không thể xoay ghế như The Voice được, lời bài hát quen thuộc được “đọc” bởi một ca sĩ lạ hoắc:  « … Bây giờ còn nhớ hay quên? Ngày xưa hè đến, phượng hồng nở hoa… »,  giọng ca đó nó không làm tôi có chút cảm hứng nào để tiếp tuc nghe, nhưng vô tình nó gợi nhớ một thằng bạn rất thân từ nhỏ học cùng lớp cũng hay nghêu ngao hát bài hát này. Ngày xưa, khi nghe bạn hát tôi rất bực, tôi bực không phải vì bạn tôi có giọng hát hay hơn tôi, mà tôi bực vì lời bài hát không phù hợp chút nào với lứa học trò lớp bảy, lớp tám của bọn tôi, nhưng bực là bực thế thôi chứ cái thằng tôi (dù còn rất nhỏ) cũng hiểu đó là sở thích của bạn và anh ta có quyền tự do mà?

H là « con nhà giàu, đẹp trai, và… viết chữ bự! ». Thật ra H thân với anh Q của tôi hơn, nhưng vì tôi luôn cặp kè với anh Q nên tui cũng thân với H bởi cả ba cùng học chung một lớp… Cũng có thể là tôi tự ngộ nhận về mức độ “thân” này.

Anh Q của tôi không cần nói thì mọi người đều biết là rất đạo mạo và rất chi là nghiêm túc, lại già dặn hơn tuổi rất nhiều. tôi thường thấy anh ấy và H tâm sự với nhau về những “ câu chuyện học trò”,  nhiều khi tôi rất muốn tham gia vì tôi cũng để ý đứa này đứa kia chứ bộ? Thế nhưng H và anh tôi thường hay lãng tránh và một cách công khai nói rằng sợ tôi “bép xép” (mà cái này thì đúng là anh tôi không sai – vì quả thật tôi rất “nhiều chuyện” – một cái tính không thể chấp nhận có trong một thằng cu !).

H học cũng khá giỏi, lại viết chữ đẹp và hát hay, vẽ thì cực đẹp…H hay cùng Q làm báo tường và trang trí cho sân khấu hay những tiết mục văn nghệ của trường. Trường Trung Học Hà Tiên năm xưa có tay trống lừng danh Nguyễn Kha Ly, H chơi với Kha Ly và trở thành môt tay trống giỏi, năm hoc 1977-1978 Miên Đỏ đánh sang biên giới, anh Kha Ly di tản đi đâu đó thì H nghiễm nhiên trở thành tay trống của trường, Trường Trung Học Hà Tiên có dàn trống jazz hồi nào không rõ, chỉ là một dàn trống căn bản cho học trò gồm có: Bass, Snare, hai cái Tom, một cái chập chã đôi Hi-hat và một cái “chiêng” Cymbal, chỉ là vậy thôi nhưng ngồi vào đó là “oai” lắm. Hằng ngày sau khi học xong H hay tìm đến dàn trống ấy, nó được đặt trong cái phòng sau lưng Ban Giám Hiệu sát mé núi của điểm trường Rạch Núi mà bọn học trò Trung Học Hà Tiên chúng tôi đã được chia bớt về đây, và tôi thì quyết không bỏ qua cơ hội để tiếp cận cái dàn trống này.

Cuối cùng, sau những đòi hỏi nhây nhưa lầy lội của một thằng bẻm mép như tôi, H cũng trở thành « thầy » dạy tôi đánh trống (nhờ vậy nên sau này khi lên đại học tôi có thêm một nghề là đánh trống thuê kiếm tiền ăn sáng uống cà phê, cũng có khi được tiền nhiều bao cả bạn bè cả một bàn cà phê sữa đá cùng gói thuốc thơm Samit và mấy lượt bình trà Thái Đức cùng nhau ngồi đồng!…). Trong trường thì có nhiều con mắt mơ màng của mấy nàng nhìn ngắm anh chàng này, H có dáng vẻ “bất cần” trộn chút kiêu hãnh, lại con nhà giàu, luôn ăn mặc đẹp, vẽ đẹp hát hay, có tài chơi trống…, thế là quá dư để trở nên nổi trội.

Bọn con trẻ tụi tôi chơi với nhau vô tư không phân biệt giàu nghèo hay hoàn cảnh của gia đình, gia đình H giàu có và có tiệm vàng ở Hà Tiên, H vô tư trong bản chất một đứa trẻ thiếu niên, trong khi anh em tụi tôi quá nghèo, hôm nào vào lớp cũng phải kèm thêm bao bánh mì bán cho các bạn trong giờ ra chơi và đầu óc ngoài chuyện học chỉ quay quanh cơm gạo, chúng tôi không có cả một chiếc quần Tây để đi học, việc đó khiến má tôi vì thương con nên tìm cách có được cái quần cho hai thằng nhóc, bà lấy vải bao cát xanh của Mỹ (loại làm công sự) mà may thành cái quần đùi cho hai thằng cu của bà có cái mặc mà đến lớp, tuy thô ráp nhưng được cái rất bền và … rất mát! Nó thưa đến nổi khi ra nắng thì ôi thôi – hai thằng anh em tôi trở nên nổi tiếng là sexy boys nhất trường làng… Sự khác nhau về “đẳng cấp” xã hội nó không khiến cho tình cảm của chúng tôi có sự “tách lớp” như nước và dầu, chúng tôi cùng chơi, cùng học và cùng trao đổi những điều thú vị trong cái nhãn quan nhỏ nhoi mà bọn trẻ góp nhặt được chung quanh đời sống thường nhật, chưa bao giờ vì sự cách biệt đó mà H không chơi với chúng tôi.

Tuy nhiên – bao giờ cũng có “tuy nhiên” trong một vấn đề mà người ta tưởng chừng như chân lý.

H luôn xem tôi là một đứa “trẻ trâu” (là nói theo ngôn ngữ thời thượng bây giờ), là một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch, mặc dù anh ta chỉ hơn tôi một tuổi, “nhưng mình học chung lớp mà? Cũng là bạn bè nhau sao phân biệt đối xử với mình vậy?”, tôi thường đem suy nghĩ này ra để lằng nhằng với bạn bởi tính tôi thô thiển và “ruột ngựa”, “phổi bò” trong thân xác “trẻ trâu” như đã nói. Cái sự trẻ con rách việc của tôi đến một lúc nào đó thì nó cũng gây ra chuyện… Một hôm, vì chịu không nổi một thằng bạn thuộc họ móng guốc này đã làm một chuyện gì đó tệ hại đến độ làm tổn thương H, H đã rất lịch sự và không tuyên bố chi cả, đơn giản chỉ âm thầm nghỉ chơi với tôi.

Nhưng bạn vẫn « nồng ấm” với anh tôi thế mới ức chứ? 

Tôi đau khổ vì chuyện này cho tới rất nhiều năm sau mỗi khi nhớ lại …Tôi không hiểu tại sao bạn H không có cả một nụ cười với tôi nữa, lẽ ra phải tha thứ cho tôi khi nghĩ rằng đó là thằng con nít? Thế nhưng mãi mãi từ hôm ấy cho đến tận sau này bạn không bao giờ nói chuyện với tôi, không nhìn tôi, mặc dù tôi làm đủ mọi cách để làm hòa mà không có tác dụng, tôi chỉ còn biết tự trách mình.

Năm học lớp 8 (1978-1979) đột nhiên H bỏ học, tôi rất buồn vì năm này rất nhiều bạn bỏ học, đám học sinh sơ tán của Trung Học Hà Tiên nay vắng rất nhiều bóng dáng thân quen…

Bẳng đi khoảng năm năm chúng tôi không thấy H đâu, tôi rất nhớ bạn cùng với nỗi buồn gặm nhấm…

Rồi sau đó hai anh em tôi đi học Đại Học, gia đình vẫn đang còn rất khó khăn, hàng ngày các em tôi vẫn phải xe nước mướn, nên mùa hè là thời gian mà tôi và anh Q phải gánh vác cho các em được “thư giãn”… Một hôm, khi hai anh em đang kéo nước thì thấy H xuất hiện, trổ mã đẹp trai như một thiên thần và nhoẻn miệng cười với… anh của tôi, dừng chiếc xe đạp, bạn hỏi thăm anh tôi, trao đổi với anh Q nhiều câu chuyện, trong khi tôi đứng sát một bên mà tuyệt nhiên không hỏi tôi dù nửa câu. 

Ngày đó tôi đau khổ hơn những ngày khác nhiều lần, giá như ngày ấy chỉ cần bạn cười với tôi một cái, có thể hôm đó tôi sẽ dư sức kéo được gấp đôi số xe nước của mọi ngày…

Không lâu sau H đi nghĩa vụ quân sự, thỉnh thoảng tôi vẫn gặp bạn “cách xa” trong một cự ly rất gần, rất gần nhưng rất xa… Tôi thích ngắm nhìn H trong bộ đồ lễ phục của quân đội được ủi đàng hoàng thẳng thóm, bạn hiện diện trong đội quân duyệt qua lễ đài trong những ngày lễ (ngày xưa chính quyền hay bắt người dân đi mít – ting), hình ảnh bạn tôi quân phục chỉnh tề đứng trong hàng quân vuông vức làm tôi xúc động.

Rồi sau đó bạn ra quân rồi về làm việc bên Văn Hoá Thông Tin của thị trấn, H rất có hoa tay, tôi thích ngắm những bức tranh cổ động mà H vẽ, bạn vẽ cho các áp-phích của rạp xi-nê Phát Minh trông rất ấn tượng và hấp dẫn, quả là bạn ấy vẽ rất có hồn, các chùa chiền ở Hà Tiên cũng thuê bạn tô vẽ tượng Phật trong những đợt trùng tu hay làm mới lại các pho tượng… Có điều, bức tượng của H trở nên trẻ trung lạ lẫm hơn so với trước, bạn gửi gắm tâm hồn mình vào trong đó, các tượng Phật đã không còn tẻ nhạt, không còn bí hiểm, các gương mặt Đức Phật trở nên tươi trẻ khoẻ khoắn, gần gũi lạ thường, nó dễ khiến chúng ta có cảm tình mà dễ đến với đấng từ bi hơn…

Hóa ra bạn H của tôi có bí quyết đem “đời” vào chùa nhiều hơn!

Thời gian trôi nhanh….

Năm 2006 trong một bữa giỗ ở gia đình tôi, cả đại gia đình nhà tôi đang đông đủ, tôi nhìn ra ngoài đường phía trước nhà thấy một ông già hành khất rách rưới, ốm đói và bộ dạng thật tệ hại ngồi cách nhà tôi độ mươi bước chân, ông ta không già vì tuổi tác, mà già vì bộ dạng…. Tôi nhìn thật lâu và nhận ra H, tôi hoảng hồn, đau khổ, chết lặng…Rồi bao nhiêu kỷ niệm về người bạn thiếu thời quay về ngay lập tức, kể cả những câu hỏi thời con nít còn đang chưa được trả lời…

Tôi gọi anh Q ra và xúi anh mời H vào buổi tiệc đang đông đủ bà con, (cũng như hồi còn nhỏ, tôi hay xúi anh tôi những chuyện mà tôi không dám làm, tôi rất yếu đuối, thật vậy!). H rất vui và còn nhớ chuyện bạn bè, nhắc tên đứa này đứa kia… Và Trời ạ! H cũng nhắc và nhớ “thằng Nguyên” mặc dù bây giờ mắt anh ta đã lòa không nhận ra “thằng tôi” đứng cạnh bên, tình cảnh đó khiến thằng trung niên bốn mươi tuổi dạn dày sương gió cuộc đời chực trào nước mắt…

Hậu quả của rượu làm H trở nên như vậy, đôi mắt nhãn quan nghệ sĩ của anh đã bị lòa, bàn tay tài hoa của anh cũng bị liệt, H bị bại liệt bán thân.

H bây giờ vô gia cư sống đầu đường xó chợ, vợ con bỏ rơi, sống nhờ sự bố thí của bà con cô bác trong địa phương “Đất Phật Người Hiền” của chúng ta, người cho bạn cơm, kẻ cho bạn tiền… Cứ thế bạn sống cho qua ngày đoạn tháng, bạn đã không còn ý chí và sức lực để làm lại cuộc đời, và có đồng nào H xiêu vẹo ngật ngưỡng mua rượu uống hết để quên đi quá khứ vàng son, sự thất chí đã đẩy H đến tận cùng của sự kiệt quệ, H không than thân trách phận, không mượn rượu quậy phá chửi rủa ai hay chửi đời đông đổng theo kiểu Chí Phèo của Nam Cao… Ngày cũng như đêm, bạn chỉ lặng lẽ đâu đó trong những góc tối của thị trấn bé nhỏ này …

Chính tôi “xúi” anh tôi đưa bạn vào nhà, nhưng tôi không đủ can đảm để nói chuyện với bạn, tôi viết một tờ giấy nhỏ (mà không chắc H còn có thể đọc được) đại ý nói rằng – « … ông cầm tiền này ra mua rượu uống cho thỏa chí đi, vì tôi biết đó là niềm vui của ông, là bạn bè không gì vui hơn khi thấy bạn vui… ». Em gái tôi nói rằng:  « anh cho tiền ảnh là ảnh sẽ đi nhậu hết ngay trong một đêm! », tôi không trả lời em tôi nhưng tôi hình dung ra nụ cười sảng khoái của bạn vì đêm nay chắc chắn bạn sẽ say nhiều hơn mọi ngày khác…

Đó là điều tốt nhất cho H, theo tôi nghĩ vậy.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được vì mãi chiêm nghiệm về cuộc đời… Mới ngày nào hình ảnh H còn phơi phới, rạng rỡ như thiên thần vậy mà giờ đây ám ảnh trong tâm trí tôi đó là một H thiểu nảo thân xác tả tơi xiêu vẹo lên xuống nhấp nhô với cái bóng đổ dài xiên xẹo trong buổi chiều tà hôm ấy, cái bóng đong đưa qua lại gập ghềnh trên đôi nạng gỗ, dịch chuyển đều đều xa dần trông như quả lắc đồng hồ đếm ngược vội vàng thời gian còn lại theo từng bước chân mà H đã thật khó nhọc mới nhấc được cơ thể mình giữa  hai cây nạng…

Tôi cứ mãi trách mình, sao mình không nói chuyện với bạn ấy?

Mãi mãi tôi không còn cơ hội để nói chuyện với bạn, vì H đã đem theo xuống mồ cái lý do đã giận tôi suốt mấy mươi năm (cũng có khi H còn không nhớ được)… Mùa đông gió bấc năm 2007 (nếu tôi nhớ không lầm?), trong sân một ngôi chùa lớn ở thị trấn yên tĩnh này, người ta tìm thấy H nằm chết co ro dưới chân ngôi tượng Phật mà tự tay H đã tô vẽ nên… Khung cảnh đó, hình ảnh đó, với cái xác người tả tơi, ốm yếu, khẳng khiu xơ xác và co quắp đen đủi, bên cạnh là chiếc nạng gỗ nằm dưới một góc… Thật chẳng khác chữ ký của một nghệ nhân bên tuyệt tác của mình.

Và có lẽ bạn còn đủ tỉnh táo trong phút cuối của cuộc đời, bạn đã đến dưới chân bồ tát để ra đi thanh thản với niềm tin vào sự cứu rỗi của Đức Từ Bi.

Còn tôi khi nhớ về bạn, tôi luôn nhớ về các điều sai lầm: sai lầm đầu tiên là tôi đã để mất bạn từ năm xa xưa ấy, gần ba mươi năm sau tôi đã có cơ hội để sửa sai nhưng tôi đã không làm và điều này là thêm một sai lầm. Còn H, bạn đã mắc phải sai lầm nào để cuộc đời bạn rả nát tan hoang?  

Và rồi, hôm nay tôi kể lại chuyện này có thể đây lại thêm một sai lầm nữa? Cũng có thể lắm!. »

 (Để tưởng nhớ về bạn tôi– D.S.H)

Quang Nguyên.

04/2019.

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Thầy cô và các bạn thân mến, nếu muốn tìm một người có khả năng giữ chức vụ « người giữ ký ức Trung Học Hà Tiên xưa » thì không ai có thể xưng đáng hơn là tác giả bài viết dưới đây, bậc đàn anh Đoàn Kim Minh, thật vậy, anh Đoàn Kim Minh, mà mình được hân hạnh tìm đến với anh qua cơ duyên những trang bài Trung Học Hà Tiên và những bức hình thầy cô anh chị học trò Hà Tiên đăng trên trang face book. Được biết anh Minh là một trong những đàn anh thuộc thế hệ đầu tay của trường Trung học Hà Tiên, cùng với thế hệ thầy cô đầu tiên ở ngôi trường vừa mới được thành lập..đó là một điều rất hân hạnh, rất đáng quý và rất hảnh diện đối với mình. Ngày xa xưa, nếu nói từ năm 1956 anh Đoàn Kim Minh bắt đầu theo học Trung Học Hà Tiên, thì mình cũng vừa mới đạt được 4, 5 tuổi đời….vào học lớp chót bậc Tiểu Học cũng chưa được…Vì vậy mình không có cái may mắn biết anh Minh, tuy nhiên qua lời kể rất chi tiết và rất chính xác của anh Minh, mình cũng biết một số anh chị quê quán gốc gác ở Hà Tiên là bạn học với anh Minh. Vài người bạn của anh Minh trở thành thầy cô dạy học cho mình sau nầy (thầy Đường Minh Phương, cô Hà Thị Hồng Loan,…). Anh Đoàn Kim Minh kể lại rất nhiều kỷ niệm thời học trò ngày xa xưa đó, qua câu chuyện của anh, chúng ta còn hình dung được một Hà Tiên êm ả, bình dị ngày xưa, cái thời mà theo anh Minh kể, chiếc xe đạp để quên ngoài chợ một đêm, sáng ra tìm vẫn còn y chỗ cũ…Học trò thời nào thì cũng được xếp hạng thứ ba chỉ thua hai bậc quỷ, ma mà thôi,…nên cũng có những chuyện vui đùa, phá phách một cách dễ thương, đáng tha thứ…Cái chuyện viết tên ghép hai người học trò trai gái có tình ý với nhau trên bảng đen hay trên vách tường, cột kèo trong lớp học thì quả thật không phải độc quyền của một thời đại nào, mà hình như ở thế hệ học trò nào cũng có, có điều là các bậc đàn anh quá hay, viết làm sao mà cho đến ngày nay cũng không ai khám phá ra tên tác giả…Rồi đến câu chuyện rời xa trường lớp, chia tay mỗi người một ngả,..điều kỳ diệu và quý báu là dù ở phương trời nào, nếu còn cơ duyên, thầy trò, bạn học anh chị em vẫn còn cơ hội gặp lại,..Anh Minh đã có cái may mắn là đã được gặp lại dù ở Sài Gòn ngày xưa, hay ở phường trời xa xôi Cali ở Mỹ, anh được gặp lại thầy dạy ngày xưa, được gặp lại các bạn thân, đó là một điều rất an ủi cho thầy cô, bạn bè và cũng là niềm khích lệ cho chúng ta , bậc đàn em đi sau, luôn nghĩ rằng, dù ở một phương trời nào (Paris hay New York…như lời thầy Hà Phương Linh đã nói trong lớp lúc một học trò đem tấm thiệp chúc tết lên đưa cho thầy…mà mình vẫn còn nhớ câu nói của thầy…) hãy luôn nhớ đến công ơn thầy cô giảng dạy, như trường hợp lớp anh Đoàn Kim Minh, nhờ được sự đam mê giảng dạy thơ Đường Luật của cô Khang mà quý anh chị đã giỏi môn Văn khi lên các lớp trên…Xin mời thầy cô và các bạn quay trở lại khung trời trường Trung Học Hà Tiên, không phải vài thập niên trước mà tính ra cũng phải hơn 50, 60 năm về trước…qua bài viết của anh Đoàn Kim Minh. (TVM viết lời giới thiệu, Paris 22/04/2019)

Ký ức về trường Trung Học Hà Tiên (Đoàn Kim Minh)

Bài viết cho Blog Trung Học Hà Tiên Xưa những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên.

Ba tôi đổi về Tòa Hành Chánh Hà Tiên năm 1956 và tôi theo học các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên nầy. Trước hết tôi nhớ lại quý thầy cô dạy tôi: Thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Trần Hiệp Nam, thầy Nhường, thầy Nguyễn Như Bảo, cô Khang, nếu còn thiếu xin quý bạn chỉ giáo thêm. Lúc đó ông Hà Văn Điền (ba chị Hà Thị Hồng Loan) làm Hiệu Trưởng. Tôi còn nhớ kế trường là có dãy một phố năm căn, căn đầu là văn phòng trường, kế đó là nhà thầy giáo Trần Hòa Hùng (ba anh Trần Đắc Chí), chính giữa là nhà thầy Đạt, kế nữa là các vị giáo sư, căn chót là nhà thầy giáo Trịnh Học Ký (ba các anh Quang, anh Tùng), cuối cùng có khu vườn nhỏ và có giếng nước. băng qua đường là dãy nhà tôi ở, có sân tennis kế đó. Thầy Đạt rất thương học trò, tụi học trò chúng tôi chọn nhà thầy làm chỗ hội họp. Thầy dạy rất tận tâm, chỉ bảo rõ ràng. Tôi còn nhớ có năm tất niên, Tòa Hành Chánh, Ty Thanh Niên và nhà trường tổ chức buổi văn nghệ ở nhà lồng chợ Hà Tiên. Thầy Đạt dạy nhóm nữ sinh một màn múa. Tôi còn nhớ múa theo một bản nhạc, đó là bản « Gấm Vàng » của nhạc sĩ Dương Minh Ninh:

Gấm vàng một cuốn gấm vàng,
Óng a óng ánh như tóc nàng Quỳnh Tiên.
Nàng Quỳnh Tiên đàn trong động Đào Nguyên,
Hằng đêm nàng lên múa hát trên miền Thiên Thai.

Ngoài ra thầy Đạt còn dạy nhóm học trò tiết mục ca hát nữa. Đêm văn nghệ thành công rực rỡ, dân Hà Tiên vỗ tay vang trời. Tôi còn nhớ em Danh tôi mới sáu tuổi, thầy Đạt dạy em ca bản «Về Miền Nam» của nhạc sĩ Trọng Khương, khán giả hô bis, bis,…quá trời, nhưng vì thầy dạy có một bản ruột nên Danh đành ca lại bản đó một lần nữa. Sau nầy Danh đi lính BĐQ với cấp bậc Trung Úy và mất bên nước Mỹ, thọ 72 tuổi.

Xin nói tiếp về thầy Võ Thành Tường giáo sư Pháp văn, sau ba bốn chục năm thầy vẫn còn nhớ tên họ, chữ lót và chỗ ngồi trong lớp của từng đứa học trò. Vì thầy học chương trình Pháp nên thầy nói tiếng Pháp như mây bay gió cuốn…!!. Sau nầy tôi gặp lại thầy bên nước Mỹ, thầy có xuống San José gặp lại học trò cũ như: Trần Đắc Chí, Phạm Thanh Hòa, Lâm Hữu Dư, Nghiệp (không nhớ họ). Thầy có người bạn là đai úy Lực. Bọn học trò chúng tôi thỉnh thoảng có lên thăm thầy cô ở gần Los Angeles và thăm các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải…Thầy Tường uống rượu Pháp mạnh Cognac không học trò nào uống bằng dù thầy lúc đó đã quá lục tuần…Thầy Trần Hiệp Nam dạy Anh văn (thầy là rể Ông Giáo Trần Văn Hương, chồng chị Nga và anh rể của bạn Trần Đại Hải). Tôi còn nhớ thầy người cao lớn, đẹp trai, dạy rất hay, tận tâm chỉ dạy học trò, thầy Nam làm ở Tòa Hành chánh quận, Trường Trung Học Hà Tiên có mời dạy Anh văn cho học trò. Thầy Nguyễn Như Bảo người bắc, dạy môn Toán, thầy ở nhà của một nhóm giáo sư kế nhà thầy Đạt, sau nầy thầy vào chùa Tam Bảo trú ngụ. Thầy Nhường dạy Pháp văn lớp Đệ Lục của tôi. Cô Khang dạy Việt văn, cô rất thích thơ Đường, dạy luật thơ Đường như « Thất ngôn bát cú », « Thất ngôn tứ tuyệt », « Ngũ ngôn tứ tuyệt »…Cô cho 10 điểm trò nào làm thơ đúng luật, không cần hay dở…Sau nầy nhờ vậy mà bọn học trò chúng tôi có cái vốn mà lên lớp trên được khá về Việt văn. Chồng của cô Khang là đại úy Lê Đăng Sĩ, anh của Lê Đăng Thượng. Tôi còn nhớ phía bên phải nhà tôi ở là căn nhà của đại úy Cái Văn Ngà, bên trái là nhà của trung úy Danh (không nhớ họ), kế là sân tennis, trước mặt là vườn nhà ông Ba Lón. Chiều chiều bọn học trò thường vào sân xem trận đánh banh của thầy Hiệu Trưởng Hà Văn Điền cùng với thầy Hứa Văn Vàng, thầy tư Thuận (ba của hai chị Trần Nguyệt Hồng, Trần Nguyệt Tươi)…

Tiếp theo đây tôi xin kể về bạn bè trong lớp của hai năm học các lớp Đệ Lục và Đệ Ngũ ở trường Trung Học Hà Tiên. Thứ nhứt, bạn thân của tôi là Vương Minh Quí (hảng nước đá Cửu Long, đường Phương Thành Hà Tiên), Trần Đại Hải (con ông Hiệu Trưởng Trần Văn Hương), Lê Quang Kính (con ông Trưởng Ty Thông Tin Lê Quang Phấn), Trịnh Thanh Tùng (con thầy giáo Trịnh Học Ký), Hiệp (không nhớ họ, nhà Hiệp là tiệm vàng gần tiệm đồi mồi Lâm Văn Cao, Hà Tiên). Ngoài ra bạn trong lớp hơi lớn tuổi thì có Trần Phình Chu, Phạm Thanh Hòa, Huỳnh Hữu Điền, Lương Phến Cang, Phù Thọ Phương… Bạn đồng tuổi thì có Lê Đăng Thượng, Lý Phú Hào, Lý Đại Độ, ngoài ra còn có Đường Minh Phương, Lê Minh Hoa, Lê (?) Văn Quang (Quang người bắc, con ông Trưởng Ty Bưu Điện). Sau nầy còn có những du học sinh bãi trường về Hà Tiên dịp hè như Trần Đắc Chí (con thầy giáo Trần Hòa Hùng), Luận (con thầy Bảy Cao làm bên Ty Y Tế Hà Tiên), Về phía bạn gái có chị Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc, chị Nga, chị Lan, chị Phát, chị Hoàng, chị Lang…Nói về anh em, chị em cùng một lớp có anh Trịnh Thanh Quang-Trịnh Thanh Tùng, Lý Phú Hào-Lý Đại Độ (có người em là Lý Tuấn Kiệt), Đường Minh Lang-Đường Minh Phương, Trần Nguyệt Hồng-Trần Nguyệt Tươi (con thầy Trần Văn Thuận làm việc ở Tòa Hành Chánh Hà Tiên). Đó là những anh em, chị em cùng học một lớp.

Với mọi lứa tuổi nào nếu là học trò thì cũng được xếp vào hàng « thứ ba »…Lũ học trò thời chúng tôi cũng phá phách, nhưng rất hiền. Tôi còn nhớ một buổi sáng vô lớp, tình cờ nhìn lên cây cột trên trần thấy hai chử C-L to tướng (Cl = ký hiệu hóa học của chất Chlore). Ai cũng biết là chữ viết tắt tên của hai bạn trong lớp, mà cách ghép của chúng tôi lại là lố bịch…đó là ghép hai tên Chu và chị Lan. Thầy Đạt điều tra hoài mà không ra, đến bây giờ cũng không biết ai là tác giả của ký hiệu đó nữa !!.

Lũ học trò nhỏ trong lớp cũng có chừng chục đứa. Tôi chơi thân với Vương Minh Quí, Trần Đại Hải, Trịnh Thanh Tùng, phá làng phá xóm nhất là Quí. Nhớ có một lần ba đứa tôi (tôi, Quí và Hải) lang thang quanh phố Hà Tiên, trời vào chạng vạng tối, Quí và tôi đưa Hải về. Quí nhìn thấy trái đu đủ trong sân và leo vô hái, tôi ngăn không được đành làm tòng phạm đem đu đủ về nhà Tùng chén…Mảng cầu vườn nhà ông Ba Lón trước mặt nhà tôi ở không bao giờ có trái chín. Tôi còn nhớ cô Khang thích dạy thơ Đường, trò nào làm thơ đúng luật không cần hay dở, cô cũng cho 10 điểm. Quí và tôi đem giấy có vẽ ô « Nhất tam ngũ bất luật, nhị tứ lục phân minh » lên Pháo Đài ngó trời mây non nước để đặt thơ. Thằng nầy chê thằng kia thơ dở hơn thơ con cóc, mà thơ đúng là quá dở đành xuống bãi bắt nghiêu sò ăn đở ghiền !!! Còn mấy anh lớn như anh Thu, anh Cơ ở xóm chài, Phù Thọ Phương dạy lũ nhỏ « chuyện đời ». Cuối tuần chúng tôi năm ba đứa đi chơi chùa Phù Dung, thăm Thạch Động, vượt cả biên giới Miên Việt có cây cầu nhỏ bằng cái ống cống làm dấu, rồi vô Đá Dựng hái trứng cá, cây trứng cá mọc cả nguyên cánh rừng. Ra Mũi Nai tắm biển, nếu nhằm dịp gần tết thì vô rừng phía bên trái Mũi Nai để chặt lấy cành mai. Tôi còn nhớ chúng tôi ra căn nhà nhỏ ở Đông Hồ hóng mát. Đi ngang nhà thầy Bảy Cao có cây dừa ba ngọn, hình như có cái miếu nhỏ bên gốc cây dừa. Hà Tiên lúc gần tết, trên đường ra Thạch Động dưa hấu chất như núi, học trò xin một trái, chủ dựa cho ba trái, ăn no nê luôn. Tôi còn nhớ dân Hà Tiên hiền lành, lương thiện, tối ngủ không bao giờ khóa cửa nhà. Tôi để quên xe đạp ngoài chợ cả đêm, sáng hôm sau ra lấy vẫn còn nguyên…Thỉnh thoảng có gánh hát cải lương về Hà Tiên hát trong nhà lồng chợ, họ căng vải chung quanh ngôi chợ, đó là dịp để dân chúng Hà Tiên giải trí, cũng là dịp chúng tôi lén giở vải lên chui vô chợ coi cọp, không chịu đợi đến gần hết tuồng người ta sẽ cho coi tự do…

Mỗi cuối tuần, ở Ty Thông Tin có buổi ca nhạc do học trò Trung Học Hà Tiên như Phù Thọ Phương (đàn guitare và hát), Lê Quang Kính (đàn mandoline), thầy Châu (không nhớ họ, chơi phong cầm accordéon), còn tôi thì xách đàn cho quý vị nói trên để được vô ké trong Ty Thông Tin. Tôi ở Hà Tiên có hai năm nhưng có không biết bao nhiêu là kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm về thầy cô thương yêu, về bạn bè thân mến. Sau gần năm, sáu chục năm trời tôi vẫn cất trong tim và không bao giờ quên được.

Sau khi theo học hai năm ở Trung Học Hà Tiên, ba tôi đổi về làm việc ở Tòa Hành Chánh Cần Thơ. Tôi vào trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ, nơi đây tôi gặp lại Trần Đắc Chí và tôi còn gặp lại Huỳnh Ngọc Sơn trong quân đội (Sơn mang cấp bậc đại úy). Năm 1962 tôi lên Sài Gòn học đại học và gặp lại Vương Minh Quí…hai anh em cùng đi chơi. Sau nầy nghe nói Quí đi quân đội về Cà Mau. Tôi cũng gặp lại Trịnh Thanh Tùng lúc tôi học ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Tùng đi quân đội (binh chủng Thủy Quân Lục Chiến). Tôi còn gặp lại Trần Đại Hải và Phạm Thanh Hòa, cả hai học Luật, nhà ở góc đường Bùi Chu – Võ Tánh. Tôi có gặp lại Lê Minh Hoa học Đại Học Sư Phạm và em của Hoa là Lê Thị Chiếu học chung với tôi ở trường Dược. Khi sang Mỹ tôi gặp lại thầy Võ Thành Tường, các bạn Huỳnh Hữu Điền, Trần Đại Hải (sau khi tốt nghiệp trường Luật, Hải vào quân đội làm Ủy Viên chánh phủ ở Cần Thơ), Trần Đắc Chí, Lâm Hữu Dư, chị Nguyễn Thị Túy Tâm. Tôi cũng từng gặp lại bạn Lê Quang Kính và cô em gái của Kính là chị Điệp Vân ở Sài Gòn trước năm 1975.

Còn tôi, Đoàn Kim Minh, sau khi học ở Hà Tiên, lên Cần Thơ học, sau khi tốt nghiệp Trung Học, lên Sài Gòn học Dược. Khi ra trường vào quân đội, sau đó định cư sang Mỹ, làm việc hơn hai mươi mấy năm, hiện đang hưu trí…Cảm kích tinh thần anh Patrice Tran, tôi viết lại những kỷ niệm ngọt ngào thời niên thiếu lúc học Trung Học Hà Tiên, mong thầy cô và quý bạn đọc cho vui nhé..

 Cali, tháng tư năm 2019 Đoàn Kim Minh

Quý thầy dạy lớp anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): thầy Trương Minh Đạt, thầy Võ Thành Tường, thầy Nguyễn Như Bảo.

Quý anh chị bạn học với anh Đoàn Kim Minh (1956 Trung Học Hà Tiên): anh Phù Thọ Phương, anh Huỳnh Hữu Điền, cô Hà Thị Hồng Loan, chị Lý Thị Lắc

Thay mặt Blog Trung Học Hà Tiên Xưa, xin trân trọng cám ơn tấm chân tình của anh Đoàn Kim Minh, đã không ngần ngại đáp lời kêu gọi đóng góp bài vở để Blog của chúng ta ngày càng thêm phong phú và đầy đủ về hình ảnh, bài vở, kỷ niệm xưa…

 

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, những câu chuyện của một thời còn mặc áo trắng thì không thiếu, kỷ niệm thật nhiều, hầu như đó là một nguồn văn không bao giờ cạn…Xin giới thiệu một bài mới với một cây bút rất quen thuộc, đang trên chiều hướng tạo nên một tên tuổi, đó là cây bút Lê Phước Dương…với vài câu chuyện ngày xưa, chuyện của một thời mà học trò chúng ta chỉ biết ham học, tuy trái tim còn dại khờ nhưng cũng biết rung động trước một vài hình dáng xinh đẹp, dịu dang,…Học trò với lứa tuổi còn ngây ngô, biết học mà cũng biết …yêu!! Dù cho tình yêu có dại dột, liều lĩnh nhưng không kém phần chân thật của một tình cảm phát xuất tận một trái tim chưa hề khắc ghi trước đó một hình bóng xinh đẹp nào….(TVM viết lời giới thiệu 15/03/2019)

Những câu chuyện một thời áo trắng (Lê Phước Dương)

Năm Đệ Tứ (niên khóa 1969-1970) nổi lên bốn thằng chơi thân với nhau và cùng học khá dần lên: Hưng, Kiệt, Thánh, Dương. Giữa năm có bạn cùng lớp tên Huy yêu say đắm người bạn gái cùng lớp Dương Hồng Minh, tình yêu không được đáp lại nên Huy buồn chán rủ Nguyễn Phước Lộc cùng nhau đi Cần Thơ đăng lính. Chưa tròn được một năm được tin Huy tử trận, vĩnh viễn không về.!!

Trang Việt Thánh lúc nầy như đang bị trọng thương nên trên sàn diễn tình yêu bỏ mặc cho Hà Quốc Hưng độc diễn với món võ công bùa yêu, vở kịch thương hận…Còn Trần Tuấn Kiệt không nhớ vì lý do gì bị phạt trong giờ thầy Nguyễn Văn Nén nên có lần một mình vô trường tìm thầy để « lý luận »…!!

Đầu năm Đệ Tam (niên khóa 1970-1971) Trang Việt Thánh và Trần Tuấn Kiệt chuyển trường lên Sài Gòn học. Kiệt thì học ở trường Hưng Đạo đường Cống Quỳnh, Thánh được vào Trường Công Lập Võ Trường Toản với thành tích cuối năm dù chỉ là học sinh của một quận lỵ nhỏ bé vùng biên giới thế mà lại chiếm hạng nhì cả lớp, chỉ sau hạng nhất, con của ông Hiệu Trưởng của trường mà thôi!!.

Hai người bạn với hai cá tính khác nhau, cả hai cùng thất tình mà kẻ thì muốn tìm quên ở chiến trường, người thì muốn quên trong sách vở, mà có quên được không? Khi chết chưa hẳn là đã quên thì lúc còn sống đương nhiên là phải nhớ…

Con kênh dài đưa tôi về bến cũ
Nao nao lòng con nước xoáy tâm tư
Đâu những chiều vàng ngồi mơ thi sĩ
Mãnh trăng tan lóng lánh nước hồ Đông.
Thuyền ai đó chơ vơ trôi dưới Nguyệt .
Vẳng giọng buồn thương lờ lững hư không.
Nay tôi về bến cũ vẩn còn đây .
Nhưng tiếng hát con đò xưa vắng bóng .
Gặp bạn bè hỏi ra mới biết .
Nàng theo chồng từ độ …sang sông .
(Ngày về – 1970)

Một kết thúc buồn thế mà hay mà còn để giữ gìn được chút thương, chút yêu, chút hoài niệm của một thời chỉ là những gã khờ rằng yêu chỉ là yêu chứ nào biết gì đâu…!!

Nói về Trang Việt Thánh: người bạn sống hết lòng vì bạn bè. Nhớ năm 1971 Thánh cầm hai chỉ vàng đeo trong tay mà mẹ cho mang theo hộ thân để đưa cho nhóm bạn: Mãnh, Trung, Hưng (Mong), Hưng (Hà) đang đi bụi ở Sài Gòn lây lất tiếp tục cuộc đi bụi vài ngày nữa, có ai còn nhớ món nợ ân tình nầy không ?!

Thuở nhỏ Thánh vốn con nhà khá giả, sống với mẹ và bà ngoại dù không có cha, nhưng đầy đủ và sung túc. Những năm học trường Tiểu Học không có gì nổi trội, chỉ làng nhàng và không biết vì sao ở lại lớp và rồi khi thi đậu lên lớp Đệ Thất thì Thánh và mình cùng học chung một lớp. Những năm Đệ Thất, Đệ Lục được cùng nhau lên lớp đã là may cho ba thằng Kiệt, Thánh, Dương. Rồi nhờ có cơ duyên là biết yêu sớm, Thánh viết thư tỏ tình, nhưng bị nàng cự tuyệt mà đành ra tiệm hớt tóc cạo đầu từ giả những lần cúp cua lên núi Lăng trộm mít, hái soài…

Anh bước vào đời thơ ngây
Dại dột yêu em nên chết cả đời
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẫu nhớ dẫu thương dầu giận dầu hờn
Anh nghĩ tình yêu như thuốc đắng.
Khi yêu rồi thuốc đắng khó quên
Hình bóng nào còn mãi trong tim
Thời gian khó xóa bao vết cũ
Hằng lên anh, ôi mãi mãi đời đời!.
                              (Dấu Tình -1969)

(Hai bài thơ nầy do Trang Việt Thánh làm ra với bút hiệu Hoài Nhân mà sau nầy mình mới biết nhờ có một lần đọc được trong một tạp chí lúc đang thụ huấn tại trường Bộ Binh Thủ Đức).

Ôm một khối u tình mà ở nhà lục tìm lại sách giáo khoa về môn Toán, Lý Hóa từ năm Đệ Thất mà học từ khái niệm về đường thẳng, về đoạn thẳng, về những trường họp hai tam giác bằng nhau rồi vẻ lên bảng, ghi giả thuyết, ghi kết luận rồi chứng minh…

Nửa năm lớp Đệ Ngũ về sau, Trang Việt Thánh dần dần học khá về môn Toán, kéo theo hai thằng khờ Kiệt và Dương khá theo. Trước đây trong lớp có hai chàng Bùi Văn Năm và Dương Đình Lộc,giỏi về môn Hình Học, nay thì đã có thêm Trang Việt Thánh. (viết xong ngày 16/02/2016)

Năm 1970, tựu trường vào lớp Đệ Tam, lúc nầy Tiền Ngọc Dung, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt đã chuyển lên học ở Sài Gòn. Có vài người bạn vì học trể tuổi nên phải đi lính như Huỳnh Văn Năm, Bùi Văn Năm, Dương Đình Lộc…một vài người bạn nữ có chồng, một vài bạn nam bỏ học, lớp học có nhiều ghế trống…

May mắn làm sao lớp có được hai gương mặt nữ mới là Vương Ngọc Hường và Nguyễn Kim Tuyến từ Kampuchia theo gia đình hồi hương về Hà Tiên, cả hai trước đây đều học Trường Pháp nên môn Pháp văn rất giỏi, tuy nhiên về tiếng Việt thì hơi có vấn đề, thế là mình và Hưng cùng nhau tiếp cận hai nàng. Hà Quốc Hưng thì cao lớn đẹp « chai » nên đã chọn Kim Tuyến, còn mình thì Ngọc Hường…!!

Năm học đó thầy Nguyễn Văn Nén làm Hiệu Trưởng và dạy môn Toán. Không biết là ý nghĩ của thầy hay của Hưng mà đầu năm học thầy tổ chức bình bầu trong lớp để chọn ra ban đại diên học sinh của trường vì lớp trên lớp mình năm đó phải thi Tú Tài nên việc nầy giao lại cho lớp sau là lớp mình.

Hà Quốc Hưng ăn nói lưu loát, dáng dấp phong lưu nên được bầu làm Đại Diện Học Sinh của trường, nhiệm vụ là cầu nối giữa phụ huynh, học sinh và Ban Giám Hiệu cùng thầy cô. Mình được cả lớp bầu làm Trưởng Ban Học Tập của cả trường, có nhiệm vụ chỉ giúp các bạn, đàn em về Toán, Lý Hóa và các môn khác khi có yêu cầu dù là ở nhà riêng hay ở trong lớp…

Nhớ vào ngày thứ hai có chào cờ năm đó, bốn người đứng sát bậc thềm hành lang văn phòng nhìn xuống hướng cột cờ, trước sự hiện diện của học sinh toàn trường và được thầy Nén giới thiệu từng tên họ, từng chức danh qua micro:

  • Hà Quốc Hưng: Trưởng Ban Đại Diện Trường
  • Lê Phước Dương: Trưởng Ban Học Tập Trường
  • Nguyễn Kim Tuyến: Phó Ban Học Tập Trường
  • Trần Quốc Dũng: Trưởng Ban Kỷ Luật Trường

… đề nghị tất cả các em vổ tay……

Nghe thầy đọc tên mà sướng ran người.

Tình cờ được Hoàng Đức Trung giới thiệu mình được dạy kèm môn Toán lớp Đệ Thất cho em Tâm (nhà có một em bé gái rất là dể thương) nên mình có thêm được tiền xài. Hằng đêm nếu không đi dạy kèm thì đến nhà của Vương Ngọc Hường cùng học, cùng làm bài tập Toán với phương trình thông số m, chứng minh Hình Học..v..v…

Không biết Ngọc Hường có chút tình cảm gì với mình không chứ mình thì đêm nào mà không đến cùng học với Hường thì cứ ray cứ rứt, nhớ làm sao mùi tóc thoang thoảng nhè nhẹ bay vào mũi, giọng nói ngọt ngào cứ « Dương ơi! Dương à!…cái nầy gọi là gì…, cái nầy làm sao… »…cứ văng vẳng bên tai. Tình cảm đầu đời của thằng con trai mới lớn sao mà dể thương người ta, dể nhớ người ta quá vậy…

Lâu lâu thỉnh thoảng cũng có những em ham học (đa số là con gái…) hỏi nầy hỏi nọ mình cũng nhiệt tình chỉ dạy hết mình. Rồi nhớ có lần…

Sáng hôm đó chắc là ngày nghỉ, sau khi đẩy xe cây ra chợ rồi dọn hàng cho mẹ xong mà còn chưa sáng nên về nhà ngủ nướng…Đang khò khò giấc mộng vu sơn thì bỗng dưng có cảm giác ai nắm giò lôi kéo, giựt mình thức dậy thì ra là cô bạn cùng lớp, bị phá giấc ngủ nướng mình quạu quọ hỏi:

   – Cái gì vậy bà?

Ỏng ẹo, cô bạn nói:

   – Dạy em bài toán nầy đi.

Nghĩ chắc là cũng nhanh thôi rồi sẽ ngủ tiếp nên mình cứ thế, xà lỏn, ở trần…lom khom đi qua bàn học và bắt đầu giảng, giải thích, viết lý luận chứng minh…

   – M hiểu không, làm được chưa?

Thái độ ỡm ờ, như không để ý đến câu hỏi, M nói:

   – Chưa, không hiểu…

Ráng dằn cục tức xuống và giờ thì đã tỉnh ngủ hẳn, mình ráng kiên nhẫn giảng dạy bài toán đó thêm hai ba lần nữa…

   – Giờ thì M hiểu chưa và làm được không?…

   – Chưa hiểu gì hết…!!

Quạu quá mình nói:

M sao mà…ngu quá…!!

M quất liền lại một câu:

   – M ngu hay là Dương ngu…

Và rồi M ngoe nguẩy đứng dậy ra về sau khi nhả thêm hai từ:

   – Thấy ghét…

M đi về rồi mà tiếng Dương ngu vẫn còn văng vẳng bên tai, chắc là mình ngu thật rồi. Năm đó mình, Kim Tuyến và Ngọc Hường cùng là học trò cưng của thầy Nén, hai lần thi, đệ nhất lục cá nguyệt và đệ nhị lục các nguyệt về môn Toán do thầy Nén ra đề mình đều làm được điểm 19 3/4, gần như tuyệt đối…

Thời gian trôi dần về cuối năm, Hường rục rịch chuyển trường về Sài Gòn học lớp Đệ Nhị, mình theo mẹ năn nỉ:

   – Mẹ ơi cho con đi Sài Gòn học nghe…!

Mẹ nói:

Con muốn đi lắm sao, nhà chỉ có mình mẹ thì biết xoay sở làm sao đây!

Nói xong câu nầy hình như là mẹ…đã khóc.

Lê Phước Dương (25/03/2016)

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương (1971)

Lê Phước Dương, Hoàng Thu Bình và Vương Ngọc Hường (bạn cùng lớp nhau năm 1971 Trung Học Hà Tiên). Hình: Lê Phước Dương

Tác giả bài viết, Lê Phước Dương, trái: thời đi học Trung Học Hà Tiên trong thập niên 70, phải: hiện nay . Hình : Lê Phước Dương

Vương Ngọc Hường, Nguyễn Kim Tuyến, bạn học cùng lớp với Lê Phước Dương trong những năm 1970.

Nhóm bạn chơi thân thời Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Hoàng Thị Minh Liên, Trần Văn Mãnh, Hà Quốc Hưng

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Thầy cô và các bạn thân mến, đây không phải là một bài mới do bạn Hà Quốc Hưng gởi đến, vì hiện nay Hưng đã rút lui về ẩn dật, rất ít liên lạc với chung quanh sau một biến cố lớn xảy ra với gia đình Hưng. Bài viết nầy do Hưng viết cách đây đã 3 năm, trên một trang face book của người bạn thân Lê Phước Dương…Mình đã đọc qua và thấy bài viết nói về những kỷ niệm xưa của thuở học trò còn ở Trường lớp Trung Học Hà Tiên, nên mạn phép cho vào đây để thầy cô và bạn bè cùng đọc…Thật cũng đúng như Hưng đã kể ra trong bài, có một thời ở Hà Tiên mình và nhóm bạn bè cũng rất thường ngồi uống cafe, nước đá bào,…ở gần bến xe đò chạy các tuyến đường Sài Gòn và các tỉnh thành khác về Hà Tiên,…Bến xe thời đó tọa lạc ngay cái sân trống trước khách sạn Đại Tân, kế sát bờ sông,…Thường khi xe về đổ bến bọn học trò Hà Tiên của nhóm mình thường nhìn ngắm, quan sát xem có một vài bóng hồng nào xuống xe hay không, rồi để vài ngày sau, theo dỏi và cố tình làm quen để giữ vai trò « hướng dẫn du lịch » cho các nàng đi thăm thắng cảnh Hà Tiên…Không biết ngày xưa làm như vậy để làm gì,…có ích lợi gì, chỉ biết có một lần, mình và bạn Trần Đại Thắng, La Tấn Lực…ba người bạn thường hay đón xe Sài Gòn về và làm quen với các nàng du khách mới đến Hà Tiên…Lần đó cả nhóm làm quen được với một nàng, Thắng chạy kiếm đâu được một cái máy chụp hình, thời đó chụp hình với phim trắng đen, khi chụp xong phải đem tới tiệm chụp hình cho rửa phim và phóng ra hình…Không biết là bạn Trần Đại Thắng có biết trước hay cố tình làm mà không nói ra cho cả bọn biết, mà cả nhóm hướng dẫn nàng du khách đó ra bãi biển Mũi Nai, cho nàng tạo dáng đủ cả ba mươi mấy kiểu để bọn mình chụp hình cho nàng,…sau khi chụp xong xuôi, một hai ngày sau nàng từ giả cả nhóm để trở về, bọn mình hứa hẹn là sẽ rửa hình và sẽ gởi cho sau…Khi nàng ấy đi rồi cả nhóm đem máy hình đến tiệm Phương Dung để nhờ rửa và phóng hình ra…Khi ông chủ tiệm tiếp lấy cái máy hình và mở ra để lấy phim thì điều bất ngờ đã xảy ra….trong máy không có cuồn phim nào cả…Thật là bất ngờ, không biết là bạn Trần Đại Thắng đã biết trước chưa chứ mình và bạn La Tấn Lực thì hoàn toàn không biết là máy chụp hình không có phim…, nói thật đó và chuyện nầy cũng có thật đó thầy cô và các bạn ạ…!! Không biết về máy móc và kỹ thuật chụp hình ngày xưa ra sao, nhưng khi chụp mình không có cách nào biết được là trong máy hiện có phim hay không có phim, chỉ có các con số hiện ra phía trên máy khi mỗi lần mình kéo chiếc cần nhỏ để lên phim trước khi chụp, lúc đó dù trong máy có phim hay không, con số vẫn chạy lên một nấc…Do sự kiện bất ngờ nầy, cả nhóm nín lặng luôn từ đó, không dám liên lạc với cô nàng du khách được chụp hình, chỉ tội cho cô là uốn éo đủ kiểu mà rốt cuộc không có tấm hình nào cả…Đó là một kỷ niệm của những ngày đón chờ du khách nữ đến thăm Hà Tiên, kiểu như trong câu chuyện do Hưng kể dưới đây…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện do Hưng viết dưới đây nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, Paris 07/03/2019)

Hà Tiên năm xưa và một góc đời riêng (Hà Hưng Quốc)

Cây cầu nổi thẳng băng nối liền hai bờ của con sông rộng nằm sát ngay cửa biển. Đầu bên kia là Tô Châu. Đầu bên này là chợ Hà Tiên. Không biết cầu có bao nhiêu nhịp cả thảy nhưng cho cảm giác là nó rất dài. Những nhịp cầu bằng sắt màu ô liu xếp xuôi, gá lên trên những chiếc ca nô phao bằng nhựa đen kết liền nhau nằm ngang phía dưới. Cầu nổi trên mặt nước, nhìn giống một con đường lộ hơn là một chiếc cầu. Những ngày giông gió, sóng dập vào cầu làm nước văng tung tóe, đi ngang sẽ tưởng chừng như là mình đang đóng phim hành động. Những đêm trời êm ả, bóng tối trải dài, lưa thưa ánh đèn vàng lấp loáng trên mặt sông, nước chảy ngang qua dội lên tiếng rì rào, thỉnh thoảng gió lùa dưới thân cầu, mất hút, và lùa trên mặt cầu, làm tóc dài của ai đó bay bay, một chút chồng chềnh dưới đôi chân, một chút bồng bềnh trong trí tưởng, tình ơi là tình, không thua bất cứ chiếc cầu lãng mạn nổi danh nào trên thế giới.

Cầu được lắp đặt vội vã trong thời chiến, cho mục đích ngắn hạn, nhưng rồi nó đã tiếp tục nằm đó suốt ba thập niên hơn và trở thành quen thuộc với mọi người ở đây, quen thuộc đến độ mọi người đã quên nó chỉ là một chiếc cầu tạm. Mãi cho đến sau này, khi đã có cây cầu khác, người ta mới dẹp bỏ nó. Bây giờ chẳng biết có bao nhiêu người còn nhớ cây cầu nổi năm xưa. Hay đã vội vã quên, như người ta đã vội vã quên một cơn mưa rào đến đi khoảnh khắc trong một ngày nào đó, dầu cho nắng mưa bất chợt của vùng duyên hải có gắn bó với họ suốt cả một đời. Đã bao nhiêu triệu lượt người từng qua lại ngang con cầu này, có ai biết không? Đã có bao nhiêu trai gái bên này và bên kia sông từng viết những trang tình sử cho riêng họ nhờ con cầu này đã kết nối bờ này với bờ kia, có ai biết không? Đã có bao nhiêu khách lữ hành từ phương xa đến đây và đặt chân trên con cầu này để được trải nghiệm cái cảm giác lênh đênh bềnh bồng, có ai biết không? Chỉ hỏi bâng quơ vậy thôi. Biết thì sao mà không biết thì sao?

Cây cầu năm xưa đã biến mất, vĩnh viễn biến mất. Có thể rất nhiều người đã không còn nhớ đến cây cầu nổi năm xưa. Có thể rất nhiều người không biết đến đã từng có cây cầu nổi năm xưa, nối liền bên này và bên kia bờ của con sông rộng, bên kia là núi Tô Châu, bên này là phố chợ, nhờ có con cầu này mà phố núi liền nhau. Không còn nhớ hay chưa từng biết cũng chẳng sao. Cuộc đời là như vậy. Nhưng riêng với những ai từng nhận ra cây cầu nổi Hà Tiên là một phần trong góc đời riêng của họ sẽ dễ dàng nhận ra rằng cây cầu có thể biến mất vĩnh viễn nhưng câu chuyện dài mà nó lưu lại không dễ lau chùi khỏi trí nhớ. Câu chuyện của cầu được viết mỗi ngày, chỉ bằng những bước chân đi ngang qua nó, chỉ bằng những hạt cát rơi lại trên mặt cầu, chỉ bằng sự im vắng hay cuồng nộ của sóng nước đang trôi bên dưới, chỉ bằng ngôn ngữ của sự sống đời thường tiếp diễn mỗi ngày, tất cả được viết lặng lẽ không màu mè son phấn, không viết trên giấy, chỉ viết trong tim của người đang níu giữ ký ức.

Bên này đầu cầu có một một xe bán nước đá nhận, nằm cạnh gốc và dưới tàng một cây dương khá to. Nơi hàng dương đó, nơi cái quán di động đó, tôi và một vài thằng bạn chung trường, hôm nay thì vài ba đứa này hôm sau thì vài ba đứa khác, đã ngồi uống những ly nước đá nhận xịt nước xí muội trong lúc đợi chờ những chuyến xe liên tỉnh đổ bến Hà Tiên, chẳng để đón ai cả, chỉ là để chờ xem trong số những người khách lạ có bóng hồng nào xuất hiện đủ để làm xôn xao trái tim của những thằng học trò của vùng biên địa nghèo nàn này không.

Dĩ nhiên là không phải ngày nào cũng có bóng hồng phương xa đến Hà Tiên. Sự thật là có khi cả mấy tháng cũng chẳng thấy một bóng hồng lạ nào xuất hiện. Chả có giai nhân phố lớn nào mà rảnh rang mò về cái nơi đìu hiu hút gió này để làm khỉ gì, trừ khi là có việc. Biết vậy nhưng bọn tôi, hay nói đúng hơn là chỉ có tôi, không thấy nhàm chán, vẫn kiên nhẫn ngồi nơi chiếc xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vào những ngày nghĩ học hoặc những lúc không có lớp, để chờ để đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên. Kiên nhẫn đến mức lì lợm. Nhưng không sao, nhờ chúng tôi mà ông chủ xe bán nước đá nhận xịt xí muội kiếm thêm được vài đồng bạc sống qua ngày. Cũng có cái tốt trong cái « vô tích sự ».

Riết rồi chúng tôi biết rõ từng chuyến xe đò cũng như ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội biết rõ từng đứa chúng tôi. Chúng tôi thì ghiền ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đậu bến Hà Tiên. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội thì ghiền chúng tôi, những thằng nhóc trung học, ghiền nghe những mẫu chuyện tầm phào của chúng tôi ném qua ném lại, ghiền tiếng nói rôm rả của chúng tôi giữa cái nóng oi oi dễ làm nặng mí mặt. Có những ngày chúng tôi đi ngang mà không ghé. Ông chủ xe bán nước đá nhận xịt nước xí muội vặn hỏi vì sao chúng tôi hôm nay không ghé. Chúng tôi nói « không tiền. » Ông chủ nói « chuyện nhỏ. » Thế là ông ngoắc chúng tôi vào làm cho mấy ly nước đá nhận xịt nước xí muội. « Bán chịu, khi nào có thì trả. » Đời sống của cái xứ Hà Tiên này là vậy. Nghèo tiền bạc nhưng giàu tình cảm và giàu gắn bó vu vơ. Cũng giàu luôn cả thời gian, nên mọi người dường như từ từ mà « bình tỉnh sống » (từ ngữ của một nữ tu ở Đà Lạt).

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Hoàng Trang

Hà Tiên của tôi rất đáng yêu. Đáng yêu vì phong cảnh thiên nhiên rất hữu tình trời ban cho xứ này, vì có những thằng bạn và những con bạn cùng lớn lên dưới một mái trường, vì có những kỷ niệm ngọt ngào và không mấy ngọt ngào của tuổi nụ, vì những di sản văn hóa rất đáng tự hào. Vì có cả những con ốc len buồn tẻ lặng lẽ trườn mình dưới những gốc cây dừa nước của rừng ngập mặn ven biển, những con còng gió xanh xanh đỏ đỏ thậm thò thậm thụt trước những cửa hang tròn tròn nho nhỏ trên cồn cát, những trụ đáy giữa sông lắc lư theo dòng cuốn mùa nước đổ, những tay lưới màu nâu tím nhuộm bằng vỏ cây sắn nằm trên giàn phơi dọc xóm cầu với bầy quạ đen thông minh và nhiều chuyện. Vì tất cả các thứ của Hà Tiên, ngay cả sự nghèo nàn và thua thiệt của người dân nơi đây. Có thể nói không một chút hoài nghi là tôi yêu quê tôi nhiều vô kể.

Nhưng đồng thời, thật tình mà nói, tôi cũng ngộp ngạt vô cùng với Hà Tiên của tôi. Thị xã chỉ nhỏ bằng cục cứt mũi. Đi loanh quanh chưa được bao nhiêu bước chân là đã về lối cũ. Mọi người đều biết nhau và mọi chuyện không thoát ra khỏi tầm mắt của bà con gần, của bà con xa và của bà con chẳng bà con. Mà tôi lại là con ngựa hoang thuộc giống mustang cần một thảo nguyên lộng gió thật rộng và thật dài, để có thể mặc tình mà sải thẳng cẳng, chẳng muốn ai quất roi trên lưng; cần một bầu trời thật cao, để cất tiếng hí vang rồi nhảy cỡn lên đá lung tung khi hứng chí, chẳng ai có thể bắt nạt; cần một nguồn sinh lực tinh khôi nuôi bằng tinh chất tự do, để mỗi ngày có thể chạy cùng với mặt trời từ Đông sang Tây, rủ theo một con cái nào đó muốn đồng hành, không cần ai cho phép. Những trói buộc và giới hạn sẽ làm tôi chết dần mòn trong nỗi buồn chán và mệt mỏi.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi chẳng cố gắng nỗ lực mài đủng quần trong lớp học cho ra trò. Tôi ưa trốn học lên đỉnh núi Lăng đứng ngồi trên đó hàng giờ nhìn cái bao la của vùng nước xanh phía dưới xa kia, nghe tiếng lá dừa xào xạc vói theo những luồng gió đi qua, hít thở hương thơm của núi rừng trộn lẫn với mùi ngai ngái của biển cả, cảm nhận giới hạn của không gian Hà Tiên được nới rộng, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thích đầm mình trong thế giới diễm ảo của thi ca, nơi đó cảm xúc và ngôn ngữ được tự do giao phối và thụ thai, mọi thứ đều trở thành vô hạn và không ai có thể kiểm soát hay ức chế, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang. Tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, cho tới mức những dây chắn trên sàn võ đài đứt bung ra và tên võ sĩ trịch thượng tôi mặt đầy máu đổ ập xuống bất tỉnh sau khi ăn no những quả đấm bao dung, để thấy mình vẫn còn là . . . ngựa hoang.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi thích rờ thử vào những thứ không được phép, ít ra là không được phép ở lứa tuổi học trò. Những thứ tôi đã rờ thử thì không ít. Có lần tôi đã lẻn vào một tiệm hút thuốc phiện. Núp trong buồng hút, tôi thả ánh mắt tò mò nhìn quanh, thấy mấy con thằn lằn nghiện khói bám trên cái vách tường nhợt nhạt màu vôi vàng cũ ố dường như không có sức để bò, nghe tiếng dọc tẩu phát ra âm thanh hụt hơi dường như tiếng khò khè của người sắp chết, ngửi mùi khen khét của á phiện trộn với mùi mồ hôi thấm trong quần áo da thịt lâu ngày không tắm tựa như mùi của thây ma, tất cả mọi thứ trong căn phòng dường như đều đang chết lâm sàng. Rồi ánh mắt tôi dừng lại trên khuôn mặt hốc hác lờ đờ của một người đàn ông ốm o đang phê bên bàn đèn. Ông ta đang ngao du trong thế giới phù dung với những bước đi nhẹ hẫng như làn khói. Tôi chăm chú quan sát ông ta với tất cả thích thú. Tôi đã ráng sức hình dung ra thế giới đó, một thế giới vô biên vô hạn vô hình của những cơn say ảo giác, chao lượn đến đáy sâu của sự từ bỏ tự chủ, ngã ngớn tới tận cùng của sự tự nguyện hủy diệt. Vài phút sau thì cái lờ đờ từ từ tan mất trên khuôn mặt. Tôi thấy ông ta ánh lên sự hồi sinh. Bổng dưng tôi thấy ông ta thật tội nghiệp và thấy mình thật may mắn. Cuối cùng tôi bị tóm cổ quăng ra ngoài cửa. « Đồ con nít ranh vào đây làm gì » người chủ tiệm hút lầm bầm. Ngớ ngẩn. Thì vào để cho biết chứ làm gì. Tuyệt thật, sau kinh nghiệm đó tôi có thể khẳng định rằng tuy tôi hoang như ngựa nhưng thế giới phù dung không phải là chỗ cho con ngựa hoang này. Tôi cần tự do vì tôi thèm khát được sống. Tự do không thể hiện hữu khi đã đánh mất tự chủ. Tôi thèm khát được sống chứ không phải thèm khát tự hủy diệt.

Chính vì nỗi buồn chán và mệt mỏi của trói buộc và giới hạn mà tôi cứ muốn chọc ghẹo phá phách ai đó, và trong tiến trình đã làm thương tổn người khác, và có khi « tự tôi làm khổ tôi đây » (Trịnh Công Sơn). Có một lần trong giờ thi môn luận văn, trong lúc mọi người đang cặm cụi lo « sáng tác » và không dám lãng phí thời gian, còn thầy giáo thì đang chăm chú đọc cái gì đó trên bàn của thầy, tôi đã nhích gần và lén vói tay nắm lấy bàn tay của một người bạn gái học chung lớp. Với một bàn tay đã bận nắm lấy tay em dĩ nhiên tôi không thể tập trung đầu óc để tiếp tục làm bài thi. Nhưng mặc kệ nó, có rớt thì rớt, ở lại lớp là cùng. Tôi nổi chứng ngựa hoang. Một bàn tay của em bị tôi nắm lấy, muốn rút ra nhưng không thể vì bị tay tôi nắm chặt, hay vì một lý do nào khác chỉ có trái tim em mới biết. Em nhìn tôi van này. Tôi nhìn em trêu chọc. Ánh mắt tôi ngầm nói « em có thể tiếp tục viết bài với bàn tay kia và hãy để yên tay này cho anh nắm. » Như hiểu ý, em lắc đầu. Tôi vẫn nhìn em, bây giờ là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt còn sót lại. Em đã không thể tiếp tục làm bài, làm sao có thể khi một hòn đá đã rớt xuống mặt hồ. Em dùng bàn tay còn lại chỉ một ngón tay về phía ông thầy như ngầm răn đe. Tôi lắc đầu ngầm nói « không sợ. » Vẫn tiếp tục lì lợm nắm lấy tay em. Em có thể lên tiếng phản đối, nhưng em đã không. Một khoảnh khắc dài trôi qua. Em để yên bàn tay em trong lòng bàn tay tôi, đã nới lõng. Em vẫn nhìn tôi. Không chắc là em đang nhìn tôi hay đang nhìn xuyên qua tôi. Nhìn, chỉ ngần ấy thôi. Có thể nói được gì hay làm được gì hơn khi mà hai đứa đang ngồi ngay trong phòng thi và ngay giữa giờ thi. Tôi vẫn nhìn em, vẫn là với thứ ánh mắt muốn biến em thành mật pha lẫn một chút bỡn cợt. Hai đứa vẫn nhìn nhau, không động đậy, cũng không chớp. Bất chợt nước trong đôi mắt em từ từ dâng lên tới khóe, đậu lại ngập ngừng, long lanh bên sau tròng kính cận, rồi chầm chậm lăn dài xuống má. Lúc này ánh mắt em dường như là trách móc, dường như là tủi thân, dường như là đồng lõa, dường như là muốn nói « anh đã đùa quá đáng, anh đang phá hỏng một hy vọng của em, và đang làm thương tổn trái tim em rồi đó có biết không. » Bất chợt tôi chới với ngã dài trong ánh mắt của em, ánh mắt đan xen nhiều gam màu cảm xúc tôi chưa từng trải nghiệm. Bất chợt tôi bị nhấn chìm thật sâu trong hai dòng lệ của em, dòng lệ chứa đựng nhiều ngôn ngữ lạ tôi chưa từng biết qua. Tôi vội vã rút bàn tay của mình ra khỏi bàn tay em, như sợ bàn tay kẻ cắp của mình vừa lỡ cầm nhầm trái tim của một thiên thần và thế là vĩnh viễn thiên thần sẽ không thể chấp cánh bay lên được nữa. Em im lặng để tôi vội vã buông tay em, như sợ rằng sự đồng lõa kéo dài giây phút kết nối của hai bàn tay sẽ làm cho giọt máu Chúa thánh linh trôi về lại hư không và em sẽ không còn là Maria tôn kính. Cả hai đều vội vã. Tôi vội vã buông. Em vội vã không níu giữ. Nếu như không vội vã, có thể cả hai sẽ đều bị thương tổn. Không, không phải là có thể mà là chắc chắn, chắc chắn là cả hai sẽ cùng bị thương tổn. Tôi là con ngựa hoang chứ có phải là con ngựa đá đâu mà không sợ bị thương tổn. Tôi là một con ngựa hoang có trái tim non chứ có phải là con ngựa đá vô tri đâu mà không có khả năng bị thương tổn. Tuy tôi thèm yêu và thèm được yêu bạt mạng, cho tới tận cùng của thách thức, nhưng không phải là như thế này, cũng không phải là với em. Tôi là một con ngựa hoang, thích tung vó trên thảo nguyên, muốn rủ một con cái nào đó đồng hành, chỉ cho một khoảnh khắc thôi, đâu muốn làm thương tổn ai đâu, nhất là đâu muốn làm thương tổn một nữ thánh như em. Để lại một tổn thương cả đời không thể phôi phai cho một nữ thánh là một trọng tội đáng bị đày vào hỏa ngục. Tôi chỉ là con ngựa hoang giữa chốn hồng trần chứ đâu phải là con ngựa thần kéo kiệu xe phun lữa của Krishna đâu mà không sợ hỏa ngục. Bất quá chỉ là một phút nổi chứng thôi mà. Tôi cúi gầm mặt né tránh ánh mắt em vẫn chằm chằm nhìn tôi, ướt lệ. Cổ họng tôi khô căng. Bổng dưng tôi thèm một điếu thuốc lá Basto xanh. Tôi thọt bàn tay vào túi quần, bàn tay vừa phạm tội, khó nhọc móc ra bao thuốc lá đã hơi nhầu, khó nhọc cầm nó trong tay, và khó nhọc lấy lại tự nhiên. Dĩ nhiên học trò không được hút thuốc. Cấm. Nhưng mà tôi đã. Tôi lỡ chạm vào nhiều cái cấm rồi. Thuốc lá chỉ là chuyện nhỏ. Cuối cùng tôi quyết định đứng lên len lén bước ra khỏi lớp, cảm giác mỗi bước chân nặng chình chịch vụn về. Bỏ ra ngoài chỉ để hút một điếu Basto xanh. Thiệt là để hút một điếu Basto xanh hay là để có đủ thời gian vạch miệng vết thương xem mình có ướt máu, vì một mũi tên không thấy trước? Tôi chẳng biết. Chỉ biết chắc một điều là con ngựa hoang ngay lúc này không còn là con ngựa hoang hợm hỉnh của vài phút trước.

Thật ra ngồi đợi những chuyến xe liên tỉnh về đổ bến Hà Tiên, với tôi, là để trốn cái cảm giác khó chịu của cuộc sống đang bị ninh chín bởi sự êm ả, từ từ, bình tỉnh sống của cái xứ Hà Tiên. Tôi ghét cái cảm giác cuộc sống của mình bị ninh chính từng ngày bởi sự êm ả nhàm chán tưởng chừng như bất tận. Nhìn những người khách lạ và không lạ xôn xao đến đi cho tôi cái cảm giác lâng lâng như nhận được một luồng oxy. Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác là mình được hồi sinh và Hà Tiên không phải là một vùng đất chết.

Hà Hưng Quốc (12/3/2016)

Chiếc cầu nổi nối liền chợ Hà Tiên và xóm Tô Châu trong những năm của thập niên 70. Hình: Trần Văn Dõng

Quang cảnh phía bờ sông bên chợ Hà Tiên, nơi có quán bán nước đá nhận xịt nước xí muội do tác giả tả trong bài và cũng là bãi đậu xe đò về Hà Tiên. Hình: Rich Krebs, 1966-1970.

Tác giả bài viết: Hà Hưng Quốc (Hà Quốc Hưng) trong những năm còn đi học trường Trung Học Hà Tiên, thập niên 60 – 70

 

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, từ ngàn năm xưa, định mệnh con người thường gắn liền với một dòng sông nào đó,…hay nói đúng hơn dòng sông thường là nhân chứng cho một cuộc tình, một cuộc chia xa…Trong lịch sử xa xưa, có chàng tráng sĩ Kinh Kha, vì muốn sang nước Tần trừ bạo chúa Tần Thủy Hoàng, mà đã sang sông Dịch Thủy…. Chuyến sang sông đã xong nhưng việc không thành, người sang sông cũng không còn trở lại, nhưng dòng sông Dịch còn đó và đã là đề tài cho biết bao thi nhân, văn sĩ ngàn sau cảm hứng đưa vào thơ văn…Ngày xưa có bài « Dịch Thủy Ca » (bài ca sông Dịch):

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.

Bản dịch:

Gió thổi sông Dịch lạnh lùng ghê,
Tráng sĩ một đi không trở về.

Đó là bài ca mà Kinh Kha hát bên dòng sông Dịch Thủy, lúc từ giả người bạn thân của mình là Cao Tiệm Ly, một danh sĩ chơi đàn rất hay. Tên tuổi của tráng sĩ Kinh Kha gắn liền với dòng dông Dịch. Đến thời hiện đại ngày nay, đất Hà Tiên của những ngày xa xưa ta cũng có nhiều cuộc tiển đưa bên dòng sông Giang Thành, tráng sĩ ở đây cũng chính là một chàng trai, người con của đất Hà, ra đi theo chí lớn làm trai tang bồng hồ thủy, nhưng không phải chia tay với một người bạn tri kỷ mà lại chia tay với một người con gái, người bạn tâm đầu ý hợp và cũng có thể là người yêu vì trong lúc chia tay hai người đã trao đổi lời hứa hẹn còn chờ đợi để gặp lại nhau…May mắn thay, người bạn trai của đất Hà chúng ta không « một đi không trở về » như tráng sĩ Kinh Kha, người cũng có lúc trở về quê hương Hà Tiên sau khi tàn một cuộc chinh chiến, nhưng còn người con gái ở lại đất Hà Tiên có còn đó không,…?? Chúng ta không biết được cái kết cuộc của câu chuyện, chỉ biết một điều rất thực tế và cũng rất đau buồn là người con gái Nguyễn Kim Tuyến đã không còn trên cỏi đời nầy vì Kim Tuyến đã mất tích trong một cuộc vượt biển năm 1978…Như vậy, chàng tráng sĩ Lê Phước Dương sang sông Giang Thành lên đường theo chí lớn lại vẫn còn đó và đã trở về đất mẹ Hà Tiên, còn người đã qua sông, vượt biển để đi tìm một cuộc sống mới lại không may mắn, đã đi mãi vào hư không…Mời thầy cô và các bạn đọc câu chuyện của chính nhân vật chánh kể lại, để cùng nhau tưởng nhớ vì cũng như bạn Lê Phước Duong, dòng sông Giang Thành Hà Tiên muôn đời vẫn là dòng sông của tuổi thơ của tất cả chúng ta…(TVM viết lời giới thiệu, Paris 03/03/2019)

Dòng sông Giang Thành của tuổi thơ (Lê Phước Dương)

Sông Giang Thành chảy ngang Hà Tiên không phải là dòng Dịch Thủy mà trai tráng Hà Tiên lại có người qua một lần thôi rồi đi mãi không về. Sông Giang Thành Hà Tiên ngắn mà rộng, nằm theo trục đông tây, phía đông nối liền với con kênh đào Vĩnh Tế đi Châu Đốc, có một nhánh kênh rẽ phải về đến Kiên Lương rồi bẻ ngang thẳng góc về Rạch Giá. Phía tây ra cửa biển đến Hòn Tre, đến Phú Quốc, quanh năm nước mặn nhờ đó mà nuôi được những người sống nghề đóng đáy, chài lưới, đặt lợp lờ…Hai bên bờ sông Giang Thành Hà Tiên có bến đò ngang đưa khách sang sông và hai ponton cầu bắc để chiếc phà đưa xe lớn 4 bánh chậm rải chạy qua sông.

Thuở nhỏ lúc mới 8, 9 tuổi, vào những buổi sáng tiếp mẹ dọn rau cải ra chợ bán xong xuôi, trong lúc gió nam ngoài thổi con nước chảy vào cửa sông, mình thường cầm 2 ống lon câu ghé vào chợ cá lượm một dúm tép làm mồi rồi lon ton chạy xuống cầu bắc ngồi quăng câu, chỉ vài tiếng đồng hồ thôi là có được một xâu cá, nào là cá óp, cá sóc, cá nâu, cá úc nghệ vàng lườm, cá úc giấy trắng nhách. xách xâu cá chạy về đưa cho mẹ thế là có được một bửa cơm đầy đủ cho 3 mẹ con.

Có lần vào buổi trưa nóng nực, đám nhóc gồm có: Hữu (Trần), Dũng (Tăng), Thắng, Sĩ, Thọ và mình (Phước Dương), và thêm vài nhóc nữa thành cả chục đứa trầm mình lặn hụp dưới sông nước trước khách sạn Lâm Văn Cao, bổng thấy những sản phẩm phế thải của con người từ nơi nhà vệ sinh công cộng gần đó theo cơn gió nam phía ngoài bập bềnh trôi vào….Đàn anh Hữu Trần cao hứng lên tiếng:

  • Ê! tụi mầy, mình chơi đánh tù tì bắt bồ vớt c… chọi nhau !!

Cả đám nhóc tì khoái trá hò reo đồng ý. Thế là ban đầu thì phe nầy vớt quăng vào phe kia, sau đó thì đụng ai nấy chọi, vui quá là vui, cười giởn la lối mà không thằng nào dám hả miệng trong khi đó thì đầu cổ vai ngực dính tùm lum vàng khè, mạnh ai nấy cứ lặn xuống mà rửa. Mình cũng quăng, vớt liên miên không biết có trúng ai không mà khi ngửi 2 bàn tay thì …Trời ơi!! hôi thúi quá…Trò chơi đó giờ thì các bạn đã quên chỉ còn mình và dòng sông là luôn còn nhớ…

Rồi, có lúc nghe tiếng còi tàu Hải Quân vang vọng lại từ cửa biển thì gần như hầu hết cư dân Hà Tiên kéo nhau ra đứng chật cả con đường cạnh bờ sông để nhìn con tàu uy nghi hùng dũng, lừng lững nhẹ nhàng cập vào cầu tàu và được những sợi dây thừng tổ bố cột chặc vào những cây dừa đứng cạnh bờ sông.

  • Hai khẩu hải pháo trước mũi tàu lớn quá…!!
  • Tàu nầy chắc dài cả trăm thước…

Tiếng bàn tán cải cọ om sòm, đám trẻ con thì luồn lách để được lại thật gần để được nhìn cho kỹ.

Thế rồi dòng sông Giang Thành Hà Tiên cứ lặng lờ hiền hòa ngày đêm hai cử lớn ròng…Người Hà Tiên cũng dần dần không còn mặn mà với con sông, với con đò ngang khi có chiếc cầu phao nổi nối liền đôi bờ bên nầy bên đó…

Rồi những chuyến tàu đò chở khách Hà Tiên – Rạch Giá: Tài Nguyên, Việt Hùng….ngày đến ngày đi…

Học trò Hà Tiên cũng lớn dần theo năm tháng, đã biết mơ mộng, biết làm thơ, biết thương yêu và biết viết thơ tỏ tình…Những khi có nỗi buồn riêng, chỉ còn đứng tựa vào thân cây dừa cô đơn nhìn dòng nước lớn ròng lững lờ trôi mà không còn nhảy ùm xuống sông hụp lặn như thuở nào…

  • Sông có biết buồn không?
  • Biết chứ! vì sông đã lặng lẽ chứng kiến nhiều cuộc chia ly…

Ngày hôm đó, vào khoảng tháng 9 năm 1972, buổi sáng mẹ đang ngồi bán rau cải ở chợ, mình đến gần bên mẹ:

  • Mẹ ơi! con đi…

Ngước nhìn lên, mẹ nói:

  • Ừ…

Nói xong tiếng ừ mẹ kéo góc khăn đội đầu xuống lau nước mắt.

  • Con nhớ siêng viết thư gởi về cho mẹ..
  • Dạ !!

Nói dạ xong mình rảo bước đi nhanh vì không dám nhìn mẹ khóc. Khi đi đến gần cầu nổi để qua sông bắt chợt mình nhìn thấy Tuyến – cô bạn học tâm đầu ý hợp, đã cùng miệt mài thâu đêm ôn luyện bài thi nơi nhà Tuyến, cả hai cùng đậu tú tài 1 kỳ thi năm đó – đang đứng lẻ loi nơi gốc cây dương cạnh bờ sông.

  • Dương đi với ai?
  • Một mình.
  • Có ai tiển đưa không?
  • Chỉ có Tuyến thôi chứ có ai đâu.
  • Dương có nói điều gì không?
  • Tuyến có chờ đợi…em có chờ đợi ngày anh trở lại không?
  • Em chờ…có dòng sông nầy làm chứng, em sẽ chờ và đợi anh, anh có hứa với em điều gì không?
  • Anh hứa, anh hứa với em là sẽ trở về, ngày nào dòng sông nầy còn là anh còn …yêu em.

Tay trong tay từ lúc nào, tay em mềm, lạnh và hơi run, cặp mắt đẹp của em nhòa lệ sau đôi kính cận.

  • Thôi em về đi, anh đi…!

Hai bàn tay lơi dần rồi rời nhau. Tuyến xoay người bước đi, bóng em nhỏ nhoi cam chịu dần khuất trong đám đông người đi chợ sớm.

Mình cũng đang khóc đây! Hai thứ nước mắt hòa lẫn nhau, nước mắt nào cho mẹ, nước mắt nào cho em…???

16/03/2016  Lê Phước Dương

(nhớ lại dòng sông trong ký ức và một chút về Nguyễn Kim Tuyến thân yêu…)

LePhuocDuongTác giả Lê Phước Dương lúc còn học Trung Học Hà Tiên trong những năm 1960-1970

Cầu bắc và chiếc phà  chở xe hơi qua sông Giang Thành Hà Tiên, nơi tác giả Lê Phước Dương thường câu cá trong những năm còn nhỏ. Hình sưu tầm xưa do Nguyễn Bích Thủy phục hồi lại

Khúc sông Giang Thành Hà Tiên trước khách sạn Lâm Văn Cao, nơi ngày xưa tác giả Lê Phước Dương cùng các bạn chơi tắm sông. Photo: 1966, Dave Kathy Crawford  (tàu Point Garnet)

Quang cảnh Đài Kỷ Niệm Hà Tiên vào năm 1966, nơi có bờ sông và người dân Hà Tiên thường đứng xem tàu Hải Quân cập bến. Hình do một người lính Mỹ tên Dave Crawford phục vụ trên chiếc tàu Point Garnet chụp.

Chiếc cầu phao nổi bắt năm 1970 để người Hà Tiên qua sông Giang Thành không dùng đò ngang nữa. Nơi đầu cầu cũng là nơi tác giả Lê Phước Dương chia tay người yêu Nguyễn Kim Tuyến để lên đường. Hình: Trần Văn Dõng

Nguyễn Kim Tuyến, Vương Ngọc Hường, Hoàng Thu Bình và Lê Phước Dương, hình chụp trước cột cờ trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, người bấm máy chụp là thầy Nguyễn Văn Nén. Hình: Lê Phước Dương

Bạn học cùng một lớp Trung Học Hà Tiên, năm 1972 cùng thi tú tài 1.Từ trái sang phải hàng đứng: Nghị Mỹ Dung, Tô Mỵ Nương, Lâm Mỹ Nhung, Trầm Ngọc Bích, Nguyễn Kim Tuyến. ngồi: Phan Cẩm Vân. Hình: Lê Phước Dương

Nguyễn Kim Tuyến, nhân vật nữ bạn của tác giả trong câu chuyện, (Nguyễn Kim Tuyến đã mất tích trong chuyến vượt biển năm 1978)

Hai người bạn ngày xưa lúc nhỏ cùng tắm sông chung, ngày nay vẫn còn có dịp gặp lại mặc dù mỗi người ở một nơi cách xa nhau.: Trần Văn Hữu và Lê Phước Dương. Hình: Trần Văn Hữu 2014

Hình ảnh: Hoàng Thị Minh Liên, Lê Phước Dương, Trần Văn Dõng, Nguyễn Bích Thủy, Dave Crawfor, Trần Văn Hữu

 

Cầu Cơ (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, cái lớp Đệ Tứ Quốc Tế nầy quả thật có rất nhiều câu chuyện để kể ra cho chúng ta nghe….Nào là chuyện phá thầy, phá lớp rồi đến chuyện con trai thì lên núi lén uống rượu, hái trộm dừa, con gái thì kể chuyện thư tình do con trai viết tỏ tình đưa thư…., mà cũng nhờ cái lớp quá đặc biệt nầy mà ngày nay chúng ta mới có một nghìn lẻ một câu chuyện được các bạn lần lượt kể ra cho bạn đọc « Trung Học Hà Tiên Xưa » nghe…Hôm nay, sau khi đã kể các câu chuyện rất lãng mạn và đẹp như thơ của ngày xưa (« Thư tình », « Em yêu Thầy »,…v…v…), cây bút quen thuộc Hồ Thị Kim Hoàn sẽ cho chúng ta biết một phương pháp lạ để khai thác tâm hồn, nhất là để tìm hiểu ai yêu ai, ai không thương ai…..!! Trong giới học trò ngày xưa của chúng ta, chúng ta đã thử qua hết mọi trò chơi, không từ một trò chơi nào cả, trong  các hoạt động đó, có một thú chơi có cái tên rất « tâm linh » là môn « Cầu Cơ » !!! Nói thật với thầy cô và các bạn, cái gì mà có ma, có hồn trong đó thì không có mình vô rồi đấy, vì ngày xưa bản chất của mình là rất sợ ma…(đến ngày nay đã quá lục tuần rồi mà vẫn còn sợ « con ma »…kể cả ma có móng tay dài và nhéo rất đau…!!).  Hồi xưa mình cũng có nghe nói là muốn Cầu Cơ thì phải kiếm cho được một miếng ván hòm, mà phải là loại hòm đã dùng rồi để chôn người chết, nếu vậy thì chỉ có đào mả người ta mới có thứ ván hòm nầy thôi…Lại nhắc lại hồi xưa, đã có hàng trăm lần bọn học trò mình lên núi Lăng chơi, lúc thì hái trộm trái « Sơn Trà » của Ông Từ Ngươn, lúc thì đào khoai mì để nướng ăn (cũng của Ông Từ Ngươn)…, trong những lúc lên núi chơi nầy mình cũng còn nhớ mơ hồ là có bạn nào đó có chỉ một cái mả nào đó bị sụp đất và để lòi cái hòm ra ngoài, ai muốn lấy ván để làm Cầu Cơ thì tới đó khẻ một miếng…Lúc đó quả thật là mình không dám bén mảng đến đó…

Nếu nói đến chuyện Cầu Cơ một cách nghiêm túc thì mình có đọc sách về lịch sử Đạo Cao Đài, thì có đọc đến đoạn ngày xưa có ông Ngô Văn Chiêu, khi ông còn làm việc ở Hà Tiên, ông thường lên Thạch Động cầu cơ với các ông Cao Văn Sự, Nguyễn Thành Diêu, có khi cầu cơ tại nhà ông Lâm Tấn Đức ( hiệu Hữu Lân, là bác ruột của thi sĩ Đông Hồ)…thường là có Tiên về cho cơ các bài thơ về Đạo Pháp…(1920-1926)…

Thôi trở lại trò Cầu Cơ của nhóm học trò, học trò thì chỉ tò mò muốn biết người học trò con gái mà mình đang chú ý có thương yêu mình không, nên bày ra chuyện Cầu Cơ để cho rỏ…đó là nội dung của câu chuyện do Kim Hoàn kể ra dưới đây, bảo đảm là tất cả những chuyện được kể trong Blog THHTX nầy đềy là sự thật nên câu chuyện Cầu Cơ của Kim Hoàn nầy sẽ rất lý thú, mời thầy cô và các bạn đọc qua nhé,..(TVM viết lời giới thiệu, 02/2019)

Cầu cơ (Hồ Thị Kim Hoàn)

Khoảng năm tôi học đệ ngũ, đệ tứ, trò chơi “cầu cơ” rất thịnh hành trong giới học trò chúng tôi. Chẳng biết làm thế nào mà bạn tôi kiếm được 1 mảnh ván hòm thứ thiệt, cắt thành hình trái tim nhỏ xíu, vừa đủ đặt lên 2 ngón tay. Rồi cùng nhau khấn vái:

Cơ huyền diệu lạy trời xoay thấu
Kiếp phù sinh kết cấu loài người
Còn đâu tiếng hát câu cười
Còn đâu mà niệm cuộc đời tối tăm
Đêm giá lạnh đìu hiu gió bấc
Chốn nào đây phảng phất mùi hương
Hồn ai lai vảng bên đường
Cho ta hỏi chút chuyện lòng người ơi!
Hồn ở bờ sông bờ suối
Hay hồn ở ngọn núi cành đa…

Tôi chưa hề tin dị đoan, nhưng tôi tò mò muốn biết mấy bạn của tôi có tự tay đẩy tấm ván hòm theo ý của mình không, nên nhiều lần tôi đã xung phong “cầm cơ”. Quả thật kỳ lạ, có 1 sức đẩy vô hình khiến tay tôi nhanh chóng xoay vòng theo từng mẫu tự, để mọi người cùng đọc được những gì mà thánh thần hay ma quỷ trả lời. Đa số những câu trả lời đều đúng chính xác, khiến lũ học trò mê mẩn với trò chơi này, mặc dầu biết có nhiều người đã bị “ma nhập” tới nỗi ngẩn ngơ như kẻ hồn phi phách tán.

Có một lần cùng bạn bè tụ họp vui chơi xong, khi ra về thấy trời còn sớm nên chúng tôi kéo nhau tới nhà Ngọc Lê để cầu cơ. Hôm ấy tôi không “cầm cơ”, tôi ngồi nghe các bạn hỏi “thần cơ” đủ thứ chuyện. Một anh bạn chợt hỏi:

          – Hồn có biết Phong nó đang yêu ai không?

          – Biết!

Tôi muốn đứng tim, vì chuyện này tôi biết rõ hơn ai hết. Lạy trời cho Thánh thần đừng có khai ra.

          – Phong yêu ai?

          – Yêu Hoàn.

Tên bạn không chịu ngưng, hắn hỏi thêm:

          – Vậy Hoàn có yêu Phong không?

          – Không!

          – Vậy chứ Hoàn yêu ai?

          – Chưa yêu ai hết!

Ui chu choa! Tôi vừa thấy… nhẹ nhõm, vừa len lén đưa mắt nhìn Phong. Anh cũng đang nhìn tôi, ánh mắt tình tha thiết. Ánh mắt yêu thương đó đã dành cho tôi hơn năm nay, cùng với nhiều lá thư tình ướt át, đắm say của tuổi học trò. Đêm ấy, tôi đọc được trong ánh mắt Phong nỗi xót xa, buồn bã! Tôi cúi mặt như kẻ phạm tội, mặc dầu tôi chẳng có lỗi chi.

Trời đã khuya, bọn chúng tôi chia tay. Trên đường về nhà, vẫn là mấy người bạn trai thân thiết đưa tôi về. Hình như có Phong, Thanh Hào, Phước An, Vĩnh Tuấn. Thấy không khí ngột ngạt vì bộ mặt như đưa đám của Phong, nên An cố đùa vui:

          – Bữa nay đi chơi về khuya quá, Lại đi với một đám con trai, coi chừng về nhà em bị đòn đó nhe.

Thấy im lặng quá, An đùa thêm:

          – Chừng nào có bị đòn, để tui chịu đòn thế cho nhé.

Không ai cười hết!
Mấy anh bạn biết điều, cố ý đi nhanh chân, để cho Phong đi sau với tôi. Tôi muốn an ủi Phong, và tôi đã nói một câu… vô duyên:

          – Ai biểu cầu cơ làm chi!

Phong im lặng. Chúng tôi đã từng nói với nhau những gì muốn nói. Tôi 14 tuổi, tôi chưa biết yêu, tôi thích học, tôi mê sách vở, nên tôi đã không đáp lại tình yêu của Phong.

Lúc ấy tôi nghĩ thế, nhưng sau này tôi mới hiểu tình yêu không thể muốn hay không muốn, mà tình yêu hiện diện ngoài sự tham dự của lý trí.

Chúng tôi đi dọc theo đường Bến Trần Hầu. Tiếng sóng biển êm êm rì rào. Làn gió nhẹ mơn man lùa vào mái tóc. Tôi cảm nhận được hồn tôi xao xuyến lâng lâng. Được yêu! Đó là một món quà của Thượng Đế. Mãi mãi là một nỗi hạnh phúc vô biên!

Hồ thị Kim Hoàn (02/2019)

Nữ sinh Trung Học Hà Tiên xưa: Hồ Thị Kim Hoàn trong những năm cuối thập niên 60. Hậu cảnh là Đá Dựng Hà Tiên, hình HTKH

Một bảng cầu cơ hiện đại và quả tim bằng cây của người Tây Phương dùng trong việc Cầu Cơ

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày xưa khi còn đi học ở các lớp của bậc Trung Học (Hà Tiên), mình thường thích những giờ văn với những lời giảng bài rất lôi cuốn của quý thầy cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Trương Minh Hiển,…Thời đó môn văn được xếp thành hai loại: Kim văn và Cổ văn. Kim văn là văn xuôi còn Cổ văn là văn có vần điệu, là thơ…Trong các bài học về văn xuôi và các tác giả, thường có nhắc đến các tác giả tiên phong trong phong trào văn hiện thực như nhà văn Ngô Tất Tố với tác phẩm « Tất Đèn », trong đó nhân vật chính là Chị Dậu và cái câu văn điển hình mô tả chị Dậu: « Chị Dậu là người đàn bà có cái nhan sắc của người đàn ông không đẹp trai… », câu văn mà thời đó trong giới học sinh mình ai cũng thích và thường đem ra dùng để nhắc đến hay để trêu ghẹo ai đó…!! Khi nhận được bài mới của tác giả Quang Nguyên, một cậy bút rất quen thuộc và rất được yêu chuộng trong giới đọc giả của « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », đọc bài xong mình không thể không nhớ đến thể loại văn xuôi tiền chiến hiện thực như kiểu Ngô Tất Tố kể trên,….Thật vậy, bạn Quang Nguyên đã mô tả một người anh, người bạn học cùng trường, người « đồng nghiệp » trong phong trào kéo nước ở Hà Tiên sau những năm cuối thập niên 70, bạn đã mô tả anh Hồ Hải (Lê Phước Hải) một cách rất hiện thực, rất chân chính,…Chỉ cần đọc bài văn dưới đây của Quang Nguyên, ta cũng đủ thấy và nhớ lại cái khung cảnh tuy không kém phần « bi đát » nhưng cũng đượm đầy tình bằng hữu và tính quan niệm sống rất triết lý của thời đó…Dù trong một hoàn cảnh thiếu thốn và khó khăn, nhưng các bạn vẫn lạc quan, chấp nhận sự phấn đấu hằng ngày và không nản chí hay buông thả…Văn viết của Quang Nguyên chuyên chở một tính chất của loại văn « hiện thực xưa » tuy tác giả lại là một anh chàng còn rất trẻ và rất yêu đời…Có đọc qua những đoạn mô tả cảnh sống và liên hệ bằng hữu hằng ngày  đi kéo nước ở Ao Sen Hà Tiên, ta mới thấy tính chất hiện thực của văn Quang Nguyên, và không thể không nhớ đến loại văn xuôi thời tiền chiến mà chúng ta có dịp học qua thời Trung Học,…Bài văn mô tả một con người yêu tự do, sống phóng khoáng và tinh thần hiện thực của Hồ Hải qua cây bút của Quang Nguyên cho ta thấy rỏ cái triết lý sống của Hồ Hải, sống cho từng giây từng phút trong cuộc đời, sống cho chung quanh và sống cho chính mình…Hồ Hải đã tận hưởng được cái tự do của khoảnh khắc đáng giá trong cuộc sống, giống như câu thơ của chính Hồ Hải nói về mình trong bài thơ « Mãi mãi như nhiên »:

Ta lữ khách đã ngàn năm sinh tử
Chợt lặng người. Tỉnh giấc vổ tay cười.
Kiếp làm chồng thế gian sao vất vả.
Hạnh phúc nào hơn, trốn vợ rong chơi.

Con người vốn đã có chất lãng tử, nghệ sĩ và yêu giang hồ như bạn Hồ Hải rồi thì dù cho có quyết định dừng chân, gởi tâm cho cỏi Phật Đường thì cũng không làm sao chống chỏi được cái « ta »…, cái « tâm » vốn nhạy bén và dể xúc động trước nét đẹp của một người con gái tín nữ nào đó một hôm đến viếng chùa,…Cho nên Hồ Hải đã phải trở lại với cuộc sống, trở lại với cái thế gian dù khắc nghiệt, khó khăn đối với anh, nhưng đó mới chính là môi trường và không gian của anh,.., của Hồ Hải…

Bản thân mình ngày xưa qua phong trào chơi nhạc với các bạn thời Trung Học, mình có quá nhiều kỷ niệm với Hồ Hải, dù cho học khác lớp nhưng đã có quá nhiều liên hệ và đối tác với Hồ Hải,…Mình vẫn thường nhớ Hồ Hải thường nói một câu nầy trong những giờ dợt nhạc tại nhà bạn Lý Mạnh Thường hay những lần đến Chi Thông Tin quận Hà Tiên để hát trực tiếp và phát thanh ra khắp chợ Hà Tiên qua những cái loa kiểu xưa treo đầy các cột đèn đường… »Cho mình hát một bài trước đi để còn về kịp bắt heo nữa…!! » . Có một lần sau khi mình đã định cư ở Pháp, lần đầu tiên trở về Việt Nam thăm gia đình tại Hà Tiên (1994), xe vừa mới đến nhà tại đường Bạch Đằng Hà Tiên thì Hồ Hải đã nghe tin và đã đến nhà mình chờ đón, và Hồ Hải đã rủ ngay đứa con trai mới 13, 14 tuổi của mình (tên là Trần Nguyễn Tường Linh…) lên ngay chiếc xe Honda dame của Hải và anh ta chở Tường Linh chạy tuốt ra chơi phía Thạch Động, biên giới….Có nhiều lúc nghĩ lại cũng phải hú hồn vì không biết đi chơi xa như vậy có an lành không nữa…

Có một điều mình vẫn còn tiếc nuối và cũng hơi buồn là lần cuối về Hà Tiên (06/2012), mình không kịp gặp lại Hồ Hải, vì có một hôm Hồ Hải và Nguyễn Đình Nguyên chờ mình suốt buổi chiều tại quán cà phê trước Chợ Ẩm Thực Hà Tiên (nhà lồng chợ Hà Tiên ngày xưa) trong khi đó thì mình và bà xả thì lại ngồi ở quán cà phê nỗi Thủy Tiên trên bờ sông Giang Thành trước trụ sở xã Mỹ Đức ngày xưa…Vấn đề là vì không nói rỏ điểm hẹn ….Từ đó đến nay không còn dịp gặp lại Hồ Hải nữa…!!  (Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…)

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với người vợ quá cố…

Lê Phước Hải tự Hồ Hải (Quang Nguyên)

(Để tưởng nhớ đến anh – một người đặc biệt)

Tôi quen anh cũng đã lâu lắm, dễ cũng đã có hơn bốn mươi năm trước, ở cái thời mà xã hội chúng ta có những vấn đề vô cùng lạ kỳ và đối nghịch nhau một cách vô lý trong đời sống diễn ra hàng ngày chung quanh… Còn nhớ dạo ấy Hà Tiên có một “đạo quân” mà độ “đậm đặc” của chất xám, của trí tuệ, của tri thức, của kiến thức, của chuyên môn v..v… co cụm trong một tập thể vài ba mươi người mà trong đó có các kỹ sư, vài ông giáo sư đáng kính, chuyên viên kỹ thuật, và các sĩ quan chuyên nghiệp … Họ đang hành nghề … kéo nước mướn, và Hồ Hải (anh tên thật là Lê Phước Hải, anh của bạn Lê Phước Dương, nhà ở khúc trên đường Lam Sơn quẹo phải)  là một người trong số đó.

Hà Tiên chúng ta có cái nghề xe nước này kể ra cũng là một điều đặc biệt, tôi không biết rằng nghề này đã có bao lâu? Có lẽ cũng đã lâu lắm vì các ao nước ngọt đã có từ xưa và phải có người và phương tiện mang đến từng hộ cho cư dân Hà Tiên chứ? Mà kể cũng lạ, từ lúc xã hội loài người có phương thức trao đổi hàng hoá bằng hiện vật hay hiện kim thì người ta mặc định đó là hành động mua và bán, kẻ mua cái mình cần và người bán cho họ cái họ cần. Việc đem nước cho các hộ cần và nhận tiền thù lao cho công việc ấy  từ bao đời của ngươi Hà Tiên được mặc định bằng hai từ “đổi nước”, họ đổi nước để lấy tiền và đổi tiền lấy nước chứ không có chuyện “bán nước” và “mua nước”! Đó chẳng phải là một thái độ rất nhân văn, một tình yêu tổ quốc chân thành, một sự cẩn trọng về ngôn từ… xuất phát từ tim óc của các bậc tiền nhân nghèo khổ vốn luôn trao đổi lao lực để mưu sinh của người Hà Tiên chúng ta đó sao?

Ắt hẳn những người xe nước ấy đã rất yêu nước, kể cả những người trong “đội quân” đổi nước mà tôi đang nói nơi đây.

Đành rằng nghề nào cũng quý, nhưng ngày đó thật sự là một sự lãng phí trí tuệ thật là to lớn, đó không là sự lựa chọn nghề nghiệp của những con người đã kinh qua trường lớp khoa bảng, mà là vì sự áp đặt ý chí của thời cuộc…  Tuy nhiên đó là câu chuyện lịch sử và hãy để lịch sử phán xét, dù vậy cũng phải nhắc đến đây đôi chút để chúng ta không quên quá khứ, bởi “nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng … đại bác”!

… Dạo ấy chúng tôi còn rất nhỏ, nhưng được cái thân thể to lớn mà tạo hóa đã vụng về: gắn đầu óc trẻ thơ chung với bộ cơ lực sĩ (!), chính vì vậy chúng tôi có thể kham đươc những công việc nặng nhọc thay thế cha tôi hành nghề xe nước vì ông mau xuống sức bởi thời gian ông đi “học tập”. Hàng ngày đạo quân ấy hay tụ tập tại quán cà phê bác Sáu Lượm ở đầu ao sen bìa dưới. Chúng tôi, kể cả các chú các anh trí tuệ sáng ngời nhưng sinh lầm thế kỷ , họ tụ tập nhau lại điểm hẹn này không nhằm mục đích gì cả, chỉ là hỏi thăm nhau sáng giờ được mấy xe, nhà nào mà mình xách nước vào cực nhọc vì phải lên lầu, hay lối đi nhỏ hẹp, hoặc có khi là sang mối cho nhau hay giúp nhau vài xe nước hôm nay…  Cũng có khi  đơn giản chỉ là thưởng thức ly « xây chừng » nóng của bác Sáu Lượm với cái hương vị cục đường thật ngọt vì lao động mệt nhọc, hay chỉ là nói những câu chuyện không đâu kiểu “đầu Ngô mình Sở” (!).

Cũng như mọi người, Hồ Hải cũng ghé đây hàng ngày vì nhà anh ấy gần đó, anh ngồi vào ghế, bỏ một bên dép và rút một chân lên chiếc ghế đẩu đã không còn mặt bằng bởi cái mông mỏng lét của anh đã chiếm hết, nhưng chỉ cần một động tác thì xuất hiện một chỗ hỗng giữa hai đùi, dù chỉ đủ để lọt một cái bánh cam là anh ấy đã nhét được gót chân mình vào, xong cái tư thế ấy là anh bắt đầu “mở máy”, phải nói anh rất thích nói, và có sức cuốn hút bởi anh có thể huyên thuyên nhiều đề tài… Thoạt đầu chúng tôi gọi anh Hải bằng “chú” nhưng anh bảo rằng “tụi mày đừng làm tao già!”, và anh ấy nhất mực buộc chúng tôi gọi bằng anh. Ừ thì anh, nhưng bên tai tôi nghe cụ Galileo nói nhỏ mà rõ mồn một rằng:  “dù sao thì trái đất vẫn quay!”.

Ở đâu có Hồ Hải là ở đó có tiếng cười, anh thường xuất hiện sau khi tiếng cười ha hả và giọng nói oang oang đã đến tai ta hàng giờ! Nụ cười của anh làm rung bần bật bộ râu kiểu ông Nguyễn Cao Kỳ, và hai hàm răng to khỏe ám nâu khói thuốc lộ ra để hạn chế tối đa cái mức độ hấp dẫn, nhưng cho dù vậy thì kiểu gì nụ cười ấy cũng tỏa đầy nắng bởi nó rạng rỡ trên cả gương mặt với mắt mũi miệng đều kéo hết cỡ V-line!

Có một buổi trưa tôi vào quán bác Sáu kêu một ly tài chừng, quán trưa vắng khách, thấy anh Hồ Hải ngồi một mình mắt nhìn xa xăm tư lự, không giống kiểu của anh hàng ngày, tôi hỏi:

              – Có gì mà buồn vậy anh Hải?

              – Tao nhớ Sài Gòn!

              – Giờ đi khó khăn lắm, phải có giấy đi đường, có người không được ra khỏi Hà Tiên vì bị quản chế, xe cộ thì không có mà phải đi xe chuyền rất nhiều chuyến nữa đó.

              – Ừ!..hmm

Rồi như bừng tỉnh, đôt nhiên mắt anh ánh lên và tỉnh táo sảng khoái không như trước đó vài giây.

              – Nè Bé, có bao giờ mày thử chơi “ken” chưa?

              – Là cái gì?

              – Hmm..! Vậy là mày không biết gì rồi, là một loại ma túy đó Bé.

              – Hơ! Em còn nhỏ lắm mà, dính thứ đó ba em “giết” chết!

Rồi mắt anh lại nhìn xa mơ màng…

–              Tao nhớ cái cảm giác đó… Sài Gòn, vũ trường, thuốc, mấy em gái nhảy… Hồi đó tao buồn chuyện riêng, mấy thằng bạn rủ chơi, anh cũng thử. Mà hay thiệt nhe Bé, anh hết cảm giác buồn, thấy mọi cái phiền phức chung quanh như vô nghĩa, kể cả cái chết cũng vậy luôn, tao đã lên đến tầng thượng thứ mười mấy, định bay xuống phứt cho rồi, cảm giác bay nó cứ thôi thúc anh…

              – Ừ, hồi đó anh mà nhảy xuống có khi giờ đỡ cực! – Tôi nói ghẹo Hồ Hải.

              – Ừ, tao kịp nghĩ tới gia đình, tới má anh! – Nói chuyện, anh hay xưng anh và tao lộn xộn.

Kể cũng lạ, bỗng dưng anh lại tâm sự chuyện ‘người lớn” cho thằng con nít mười ba mười bốn tuổi như tôi, trưa ngày ấy chắc anh có nhiều tâm sự lắm…

Anh là một người lạc quan trong mọi hoàn cảnh, Hồ Hải thường tự hào với chiếc xe cây tự chế của mình, có thể nói chiếc xe của anh “quái” nhất trong “binh đoàn xe nước” vì sự khác biệt của nó. Thông thường chiếc thùng phuy chứa nước được đặt nằm dọc gọn gàng trong thùng chiếc xe cây, để chống lại việc cái phuy bị xoay người ta đóng một cái đế cho nó, và cái đế được thiết kế vừa vặn với sàn xe, hai bên thùng xe còn khoảng hở mỗi bên khoảng năm centi-mét để cột dây cố định, có nghĩa thùng xe phải vừa đủ to để đế và phuy nằm gọn, khi có nước đầy thì chính vị trí có khối lượng của nó làm cân bằng xe, chống được việc lắc theo phương ngang và như vậy nước sẽ không bị sóng sánh thoát đi… Chiếc xe của Hồ Hải thì khác, anh ấy giảm thiểu tối đa số cây gỗ có trên chiếc xe của mình khiến nó trần trụi như bộ xương hóa thạch trong bảo tàng, anh cho rằng xe càng nhẹ thì tổng trọng lượng mà anh phải kéo nó sẽ nhẹ hơn các xe khác vì thế xe anh không cần bộ khung chân đế cho phuy nước, thay vào đó anh biến cả chiếc xe là một bộ khung luôn, có nghĩa xe anh là xe nước “chuyên nghiệp” không làm việc gì khác ngoài việc xe nước, bỏ cái phuy ra là không có thùng xe và sàn xe để chở thứ khác, và hơn thế nữa xe của Hồ Hải nhỏ xíu, “trục láp” thì ngắn và cái thùng phuy nằm khơi khơi chơi vơi trên cao, được mỗi điều là xe rất nhẹ…

              – Ê Bé! Anh có thể kéo một tay nè, đã chưa?

              – Hahaha… đường ổ gà thì anh biết!

Quang cảnh « binh đoàn xe nước » với các chiếc xe cây và thùng phuy đặc trưng của Hà Tiên

Và quả thật, mùa cao điểm đường sá chung quanh các ao trở nên hư hỏng trầm trọng vì đội quân xe nước, để cho nhanh kịp cho mối nước đang hối… Phuy nước có 210 lít, nên về mặt lý thuyết thì năm đôi rưỡi thùng loại 20 lít là đầy, mà chưa bao giờ được thế, muốn đầy phuy phải sáu đôi hoặc sáu đôi rưỡi, các anh em cứ một thùng đổ vào xe thì hết một phần thùng ra ngoài làm cho đường sá chung quanh càng lầy lội, hậu quả là xe càng lắc lư và đường càng hư thêm… Những lúc đó trông Hồ Hải rất tội nghiệp, vì tấm thân “cò ma” của anh ấy cứ phải vặn mình kênh chịu hơn hai trăm kilô-gam đang đong đưa giục giặc theo phương ngang trên chiếc xe đang đi tới, khiến mấy cây ba sườn bén như những cây dao găm gắn vội vàng trên cái “bo đì” mỏng dính lộ ra mồn một trong chiếc áo ướt đẫm dính sát vào người, hai con chuột nhắt bé xíu trên hai tay cứ nhảy lên nhảy xuống vì anh cố kìm chiếc xe đang dao động như quả lắc đồng hồ, còn khi ấy chiếc thùng phuy thì do chơi vơi nên chao đảo văng nước tóe tung ướt cả người anh ấy… Mọi người ghẹo rằng:

              – Hồ Hải! Ra tới chợ xe ông còn nửa phuy!

              – Ha..ha..ha… Vậy càng tốt, nhẹ cho tui mà thu tiền thì cũng như mấy ông!

Lạc quan đến thế là cùng.

… Rồi thời gian sau không thấy anh ấy kéo xe nước nữa, chắc tại cái tính bỡn cợt và “nửa phuy tính tiền một phuy” nên anh ấy mất hết mối chăng? Tôi không biết! Cho đến sau năm 1982 khi tôi không còn đi xe nước nữa vì đi học xa nhà, những kỳ nghỉ hè về Hà Tiên thì thấy Hồ Hải đứng trên sân khấu ca nhạc của địa phương, vẫn là Hồ Hải với bộ râu đặc trưng nhưng thay vì cái áo đẫm mồ hôi và nước cùng chiếc quần cộc, đôi chân mang dép lê đầy bùn đất mà là sừng sững trên ấy là một Hồ Hải trong bộ vó rất “bảnh” mang giầy Tây, áo sơ mi tinh tươm… Thay Hồ Hải rổn rảng cười nói là một Hồ Hải có chất giọng « dramatic baritone » nam trung, là giọng nam khỏe khoắn đầy đặn, đầy uy lực và có khả năng “vượt quãng tám”, anh hát rất to và đặc biệt thích những bài hát có âm vực cao để anh có thể phô bày chất giọng của mình…

Tôi đã không có dịp gặp anh từ sau dạo xe nước, nhưng tôi vẫn quan tâm đến anh vì sự đặc biệt của anh, đó là một người luôn lạc quan và không có gì làm cho anh ấy mất vui, ngay cả ánh đèn sáng bưng của sân khấu cũng không thể dập tắt được nụ cười tràn ánh sáng với các cơ mặt bung ra khiến mắt mũi miệng đều bị kéo hết cỡ của Hồ Hải, có điều đứng xa sân khấu quá tôi không thấy được hàm răng to khỏe của anh có còn ám nâu khói thuốc?

Rồi một ngày khác khi tôi đã không còn ở Hà Tiên mà lưu lạc mưu sinh xứ khác, tôi nghe người ta đồn rằng anh …xuống tóc quy y! Trời ạ. Hồ Hải mà đi tu là điều tôi không thể tin được vì anh ấy rất ư là người!  Anh ấy là dạng người luôn sống hết mình trong từng ngày mình có…

Rồi lại không lâu sau đó tôi nghe rằng anh bị thầy quở mà trả về đời, mô Phật! Đó mới thật là Hồ Hải mà tôi đã từng biết! Lý do cũng rất là ‘Hồ Hải’ – tâm dao động khi nhìn thấy các thiện nữ đến chùa! Bởi cuộc đời anh bị “ám” từ cái tên mà tự anh đã chọn cho riêng mình, mà khi nghe đến ta đã thấy một khát vọng tự do, một cuộc đời không dễ gì ràng buộc – Hồ Hải.

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nét nhìn  vào một không gian trống vắng, vô tận,….

Hồ Hải (Lê Phước Hải) với nụ cười vô tư giữa dòng đời cuộc sống hằng ngày

Người ta thường viết về một người bởi người đó tài năng, người đó nổi tiếng, hay người có nhiều cống hiến, hoặc vĩ nhân… Nhưng tôi viết dành cho Hồ Hải vì anh là một người rất bình thường, bình thường hơn những người bình thường khác, có thể anh đã có một cuộc sống quá đổi tự do để làm phiền muộn bao người thân thuộc, nhưng trên hết anh đáng yêu, anh đáng được nhắc nhớ vì anh khác biệt, một sự đặc biệt của riêng mình, anh sống trong lòng những người đã biết và nhớ về anh – Hồ Hải.

Và tôi luôn nhớ anh với giọng hát to cao vang vọng cả Bình San dạo ấy: “Khi người yêu tôi …tắm, tôi xe nước thấy mồ!”.

Cũng phải thôi, vì khi đến nhà cô nào ấy, xe anh chắc chỉ còn một vài đôi nước trong phuy, còn anh thì đã tắm hết phần nước của cô ấy suốt dọc đường!

Xin phép anh để tôi được viết về Hồ Hải ở đây, cầu mong hương hồn anh thanh thản vì anh đã sống để mọi người đã không quên anh, trong đó có tôi – thằng nhóc ngày xưa hay ngồi giải lao nghe anh bàn chuyện phiếm giữa những trưa nắng trong quán cà phê bác Sáu Lượm một thời…

12/2018

Tác giả Quang Nguyên.

Hình ảnh: Lê Phước Dương, Trương Minh Quang Nguyên, sưu tầm.

Chú thích: Bạn Lê Phước Hải là anh của Lê Phước Dương, Hải học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Thanh Hùng, Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…v..v…(vào lớp đệ thất niên khóa 1965-1966). Khi bạn Hải tham gia chơi văn nghệ với ban nhạc « Tiếng Hát Quê Hương », bạn Lê Phước Hải lấy hiệu là Hồ Hải, một phần để nhớ đến người đàn anh ngày xưa từng học ở Trung Học Hà Tiên và chơi đàn guitare rất hay đó là anh Nguyễn Hồ Hải, anh lấy hiệu là Hồ Hải, thời anh Nguyễn Hồ Hải chơi nhạc là những năm 1961 – 1694…

Chuyện té xe Honda tại Thạch Động, Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, mình còn nhớ một câu chuyện thời học sinh ở Hà Tiên nữa, xin kể ra đây cho thầy cô và các bạn nghe qua…

Lúc đó vào khoảng thời gian mình học lớp đệ ngũ, niên khóa 1966-1967, mình thường đi chơi thân với các bạn Nguyễn Văn Tài (Tài người không cao lắm, nhà ở ngay góc đường Cầu Câu – Lam Sơn, nhà Tài đối diện với bên hông chùa Ông Bổn, phía có Trường Hoa Liên, ba má của Tài người ta thường gọi là Ông Tư bà Tư, ba Tài bán kẹo kéo chung quanh các trường học ở Hà Tiên. Một bạn thân nữa trong thời kỳ nầy là Lương Cường, con của ông bà có tiệm bán thuốc Bắc ngay trước mặt bắc của ngôi chợ Hà Tiên xưa, đó là tiệm Sanh Hoạt, tiệm Sanh Hoạt nầy ngày xưa mình rất thường lui tới nào là để mua bóng đèn nhỏ để chơi pin đèn, nào là mua « xí muội » hoặc « trái táo » khô về để ngậm trong những ngày bị bệnh…Cả hai gia đình của bạn Nguyễn Văn Tài và Lương Cường đều biết mình và ba má của hai bạn cũng rất tử tế đối với mình.

Buổi chiều đó như mọi hôm, mình thả bộ trên con đường Lam Sơn để đến nhà Tài chơi, sau khi gặp nhau thì có bạn Lương Cường chạy xe Honda ghé đến (kiểu xe Honda đàn ông đời 1967). Vào thời gian nầy ở Hà Tiên cũng đã bắt đầu có nhiều xe Honda kiểu đàn ông, đàn bà (Honda Dame) xuất hiện, các nhà buôn khá giả chung quanh chợ đều có trang bị xe Honda cho con cái trong nhà để chiều chiều chạy xe dạo chơi trên các đường phố Hà Tiên. Bạn Lương Cường vừa ghé nhà Nguyễn Văn Tài với chiếc xe Honda 67 màu đen, có hai loại xe Honda đàn ông thời nầy, trước nhất là loại xe Honda 67 với tay cầm thẳng ngang và rất ngắn, sau đó có loại với tay cầm hình theo kiểu chữ V rộng ra, đó chính là kiểu xe của bạn Lương Cường thời đó. Cường rủ mình và Tài lên xe làm vài vòng buổi chiều hóng gió mát. Thế là cả ba thượng lên chiếc Honda 67 của Cường, Cường cầm tay lái ngồi phía trước, Tài nhỏ người ngồi giữa và mình ngồi phía sau cùng. Thầy cô và các bạn cũng biết là ngày xưa luật giao thông cũng hơi lỏng lẻo, chỉ một chiếc xe Honda mà người ta muốn chở trên đó mấy người cũng được, miển là các hành khách ngồi được vững vàng và ngay ngắn là tài xế chạy được, có người chở vợ phía sau và ba bốn đứa con ngồi đủ cả che kín chiếc bình xăng phía trước cũng lái xe chạy bình thường…

Ở Hà Tiên thời kỳ nầy có một vòng các đường phố mà chiều nào các anh em học sinh Hà Tiên đều « lượn » xe Honda không sót một khúc nào, nhiều khi còn phải làm lại hàng ba, bốn lần cái « circuit » nầy, giống như chạy theo kiểu thi đua theo môn thể thao « Công thức 1 » (forrmule 1) của quốc tế vậy…Chẳng những chạy xe Honda vòng vòng theo các con đường nầy mà còn tự động tập trung các xe Honda của các bạn khác, nam nữ đều có đủ, hợp lại cùng chạy chung một hướng rất là ngoạn mục…Đó là con đường bắt đầu từ đường « Bến Trần Hầu », chạy vòng qua đường Phương Thành, chạy thẳng ra phía Ấp Chiến Lược ngày xưa, quẹo qua phía núi Đề Liêm, chạy thẳng ra đường đi Thạch Động và …quẹo về…Đặc biệt là ngay khúc có Ấp Chiến Lược ngày xưa, có một khúc quanh rất đẹp mắt, đường kính khúc quanh vừa rộng rải để cho người lái xe cặp khúc quanh nầy, không bị quẹo gắt lắm…Ngày xưa có hai bạn Phan Thanh Tùng và Phan Thanh Liêm (Tùng và Liêm là hai anh em, con của bác Ba Phan Văn Thân có tiệm bán sản phẩm kỷ niệm đồi mồi ở ngay góc đường Lam Sơn-Tuần Phủ Đạt), bạn Tùng học chung lớp với các bạn Trương Thanh Hào, Trương Minh Huệ,..v..v..Còn bạn Liêm thì học chung lớp với mình. Tới đây xin mở ngoặc nói về Tùng và Liêm: có một lúc mình cũng đi chơi thân với bạn Phan Thanh Tùng, đó là lần Tùng rủ mình cùng đi qua Sa Đéc để thăm anh của Tùng, lúc đó anh ấy đang đóng quân ở Sa Đéc và ở trong một căn nhà nhỏ với người vợ, mình và Tùng đến nhà anh thăm cả hai người, hai đứa ở lại vài ngày rồi mới kéo nhau qua Cần Thơ, mình còn nhớ hình như lúc đi bộ từ phà bắc lên đường xe, mình có gặp thầy Nguyễn Hồng Ẩn tại đây, lâu quá không biết có nhớ chính xác không…Còn nói về Phan Thanh Liêm, Liêm thì ít nói, rất hiền, nhưng Liêm có tài chạy xe Honda lạng lách rất hay, nhiều lần Liêm chở mình trên chiếc xe Honda 67 có tay cầm hình chữ V (đúng là mode tay cầm xe Honda thời đó…), chạy nhanh ra phía Ấp Chiến Lược đường Phương Thành, ra phía Thạch Động, Liêm nghiêng mình lạng chiếc xe Honda rất lành nghề và chiếc xe và mặt đường làm thành hình chữ V rất đẹp, tuy nhiên mỗi lần Liêm chở mình ngồi phía sau và lạng qua cua như vậy, mình rất sợ, hót bụng và nhắm mắt cho qua giai đoạn đó…

Trở lại câu chuyện bạn Lương Cường chở mình và Nguyễn Văn Tài chạy ra phía Thạch Động chơi. Khi chạy gần tới Thạch Động thì cũng xin nhắc lại là trong thời xưa Hà Tiên tuy không có chiến tranh trực tiếp ngay ở thành thị nhưng những nơi chiến lược như Thạch Động, Đá Dựng, đồi Ngũ Hổ đều có quân đội Nghĩa Quân và Địa Phương Quân đóng ở đó và dân chúng không được tới lui viếng cảnh như vào thời bình. Vì thế, ngay ở dưới chân núi Thạch Động lúc đó, có một cái cổng chắn ngang và có một người lính trẻ đang đứng gát ở đó, khi nào có xe cộ thường là xe đạp và xe gắn máy muốn chạy ngang qua thì người lính mở cổng lên cho xe chạy qua (cổng chắn ngang là một thanh cây nằm ngang, một đầu có treo một đối trọng nặng để cây được nâng lên dể dàng và đầu kia thì móc vào một cái móc để giữ cho thanh cây nằm ngang khi ở vị trí chắn ngang. Trước khi xe của bọn mình chạy tới cổng chắn ngang thì có một chiếc xe chạy phía trước và đã được người lính gát cổng mở cổng lên cho xe đó chạy qua, bạn Lương Cường thấy vậy nên nghĩ là anh ta cũng giữ cổng mở lên cao cho mình qua luôn nên cũng tiếp tục chạy qua không dừng lại, tuy nhiên anh lính gát cổng nầy có lẻ hơi « không mấy thích » mấy anh chàng học sinh chạy xe Honda đi chơi như bọn mình nên thình lình anh cho cổng quay xuống để chận đường lại, khổ thay lúc đó đã quá trể xe của Cường vừa lao tới, lại bị cây chắn ngang cản ngang mình, nên cả ba đều bị té xuống ngay liền, còn chiếc xe Honda thì vì quán tính nên tiếp tục chạy về phía trước không có người trên đó và bị mất thăng bằng xe ngả luôn xuống đường, hình như cái đèn vàng « signal » phía trước tay lái cũng bị bể văng tung ra…

Lúc đó ngay cả anh chàng lính gát cũng nhận thấy tình hình hơi nghiêm trọng vì đã làm cho bọn mình bị té xe, nên anh ta làm ra mặt nghiêm muốn bắt lỗi bọn mình tại sao không dừng xe lại ngay trạm gát mà chạy luôn như vậy, bọn mình thì cả ba đang lò mò đứng dậy, nhìn chung quanh mình xem có bị thương tích gì không và cũng muốn « cự » lại anh ta tại sao anh lại hạ cổng chận ngang xe như vậy,…Rốt cuộc anh lính gát phải gọi điện lên phía trên Thạch Động chỗ đóng quân để báo cáo tình hình và xin cấp trên xuống can thiệp xem sao. Bọn mình cả ba phải dựng xe đứng lại và phải chờ giải quyết…Tới đây xin phép được nói thêm về tình hình đóng quân ở Thạch Động thời đó. Vào thời đó, trên Thạch Động có một đơn vị Địa Phương Quân đóng ngay trong Thạch Động, đơn vị nầy do một trung úy (sau nầy ông thăng lên Đại úy) tên là Hoàng chỉ huy. Trung úy Hoàng vào thời đó rất là nỗi tiếng vì ông rất đẹp trai và rất phóng khoáng với tư cách rất trẻ trung. Thường xuyên trung úy Hoàng thường dùng xe nhà binh Dog 4×4 chở rất nhiều quân lính bộ hạ đi vài vòng từ Thạch Động qua Mũi Nai để dạo chơi. Thời đó có một anh là em trai của trung úy Hoàng tuy không phải là binh lính nhưng cũng theo ông ở ngay trong Thạch Động, anh chàng nầy cũng thường đi xe dạo chơi như thế. Nếu mình nhớ không lầm thì trong một chuyến đi chơi bằng xe Dog 4×4 từ Thạch Động chạy đường Bà Lý qua Mũi Nai như vậy có người bạn gốc Hà Tiên, lúc đó mang cấp trung sĩ tên là Đường Hùng Việt (con của bác Hai Lù Đường Văn Từ chạy xe Lam nhà ở đường Lam Sơn), anh Việt đã bị phục kích và đã hy sinh trong một chuyến đi như thế, vì ngày xưa các con đường ra Múi Nai khu Bà Lý, hay khu Núi Đèn rất nguy hiểm không có an ninh như bây giờ…

Trở lại câu chuyện bọn mình bị té xe Honda ở ngay dưới chân núi Thạch Động và đang chờ cấp trên xuống giải quyết. Chờ một lúc có một người lính đi bộ từ trên núi Thạch Động xuống ngay chỗ có cổng gát để hỏi chuyện, mình cũng đang lo sợ vì không biết có bị bắt bớ gì không trong vụ nầy…đến khi thấy người lính xuống để giải quyết công việc thì mình cũng bớt lo vì người lính nầy chính là anh hạ sĩ (hay trung sĩ mình không nhớ rỏ) tên là Tòng. Nói về hạ sĩ Tòng, ở Hà Tiên thời đó chắc ai cũng biết hạ sĩ Tòng nầy, vì anh bị thương trong một vụ đụng độ và bị một viên đạn trúng ngay trên đầu, làm bể một phần xương sọ, tuy nhiên anh cũng thoát nạn sau khi được chữa trị, chỉ có điều là trên tráng của anh có một chổ bên phải bị móp vô và chỉ có da bọc bên ngoài lại, anh vẫn sinh hoạt hằng ngày như thường lệ miển là đừng đụng vô chổ tráng bị móp vô thôi. Sở dĩ mình biết hạ sĩ Tòng hay còn hơn nữa là quen với anh nữa là vì lúc đó hạ sĩ Tòng có mướn một khu đất nhỏ phía bên phải nhà của má Hai của mình (nhà của chị Huỳnh Thị Kim, Huỳnh Ngọc Sơn, bà con anh chị em bạn dì với mình), nhà ở đường Tô Châu, ngay trước mặt nhà thầy Hứa Văn Vàng. hạ sĩ Tòng cất một căn nhà lá nhỏ ở đó để sinh sống với vợ con. Thường ngày khi mình đến nhà chị Kim (nhà Má Hai) để chơi thì gặp anh Tòng rất thường và trở thành quen biết, anh Tòng xem mình như mấy em trong nhà. Do đó rất là may mắn, khi hạ sĩ Tòng xuống đến chỗ có cổng gát và sau khi anh chàng lính gát cổng chào hạ sĩ Tòng rất nghiêm trang kiểu nhà binh, thì anh ta báo cáo lại tình hình té xe như vậy, hạ sĩ Tòng nhìn thấy có mình trong nhóm chạy xe Honda nên anh cũng rất tử tế bỏ qua câu chuyện nầy và cho phép bọn mình lên xe chạy về nhà…Cả bọn cám ơn anh hạ sĩ Tòng và sau đó cũng mất hết hứng thú nên không tiếp tục đi chơi nữa mà trở lại về chợ Hà Tiên và đi uống cafe để nói chuyện chơi cho vui…Đó là một kỷ niệm cũng vui vui, rốt cuộc thì cũng thoát nạn, nghĩ lại bây giờ thời thanh bình ai muốn đi thăm viếng thắng cảnh nào cũng được và đi chơi tới những chỗ mà ngày xưa hoàn toàn là dành cho nhà binh dân thường không được bén mảng tới. Đến đây là hết chuyện kể xin hẹn với thầy cô và các bạn một dịp khác nhé, cũng xin nhắc lại là sau khi học xong trường trung học Hà Tiên, bạn bè mỗi người đi một ngả, sau 1975 bạn Lương Cường cùng gia đình đi định cư ở nước ngoài, bạn Nguyễn Văn Tài từ trước năm 1975 đã nhập ngủ theo ngành chuyên viên kỷ thuật không quân, đóng tại Cần Thơ, trong những năm mình học Đại Học Sư Phạm ở Cần Thơ rất thường xuyên gặp lại Tài. Sau 1975 nghe nói Tài vẫn còn ở tại Cần Thơ, mình không có dịp gặp lại nữa.

Paris ngày 12/11/2018 Trần Văn Mãnh

Từ trái sang phải: Lương Cường, Nguyễn Văn Tài, Trần Văn Mãnh (hình: Trần Văn Mãnh năm 1966)

Anh Đường Hùng Việt, chân dung lúc còn học sinh trường Trung Học Hà Tiên, sau nầy anh vào quân đội với cấp bậc Trung Sĩ và hy sinh ngay tại quê nhà Hà Tiên. Hình Nguyệt Đường

Bên trái: Phan Thanh Tùng, bên phải: Phan Thanh Liêm. Hình: Hoàng Thị Minh Liên, năm 2014

Một trong những kiểu xe Honda 67 với tay cầm ngang và ngắn. Hình: tuannguyen959

Trên đường đi ngang Thạch Động, phía dưới chân Thạch Động ngay lề đường ngày xưa có một cổng gát chắn ngang đường. Hình: Herman Hermanson 2006