Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, cây bút của phong trào « hiện thực » của nền văn học hiện đại Hà Tiên một lần nữa đã trở lại với chúng ta qua một câu chuyện vừa hấp dẫn vừa mang đầy tính chất « khoa học thường thức »…Thật vậy, mọi đọc giả khi đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, sẽ học hỏi được một vài kiến thức rất thực tiễn trong đời sống… Câu chuyện cũng cho ta thấy sức mạnh của khoa học nhất là nền khoa học Y Khoa, người ta có đủ khả năng tìm ra mọi nguyên nhân của mọi chứng bệnh dù cho bệnh trạng có cực kỳ phức tạp như trong trường hợp được mô tả ở đây…Thời xưa không cần phải lặn lội ngoài đồng ruộng với tình trạng đất đai nhiểm đầy các ấu trùng giun lãi để phải bị bệnh « có sán lãi » trong ruột…, Mình còn nhớ thời con nít, trẻ nít nào có có ít nhiều thời kỳ có sán lãi,…lâu lâu cha mẹ ở nhà cho uống thuốc để « trục xuất » các vị « cư trú không có giấy tờ hợp lệ » nầy ra khỏi cơ thể…Mình còn nhớ rỏ như vậy,…mà cái mùi thuốc xổ lãi đó nó rất khó chịu, có dạng chất lỏng hơi kẹo màu trắng đục…Đâu có ai ngờ một thiếu niên có sán lãi mà tình hình lại đưa đến một kết luận khi thì là đau tim, khi lại có thể bị bệnh về máu…Câu chuyện thật là ly kỳ để đi đến một kết luận rất là lý thú và rất tốt đẹp, bệnh đã được chẩn đoán đúng ngay nguyên nhân và việc chữa trị lại rất đơn giản..Không phải tác giả là người duy nhất có cái may mắn là vừa được trị khỏi bệnh lại có cơ duyên gặp người bạn đời của mình trong lúc nằm nhà thương…Hồi mấy năm về trước mình có đứa con trai đầu lòng, vì đam mê văn hóa nước Nhật nên cũng muốn đi phiêu lưu mạo hiểm qua xứ lạ đế học hỏi và phát triển chí tang bồng, ở nhà thì cha mẹ thường hay lo lắng cho con đi xa…Cuối cùng cũng có câu chuyện đứa con mình đang chạy xe đạp xuống dốc pho pho, vì muốn tránh không cán phải một con mèo đang ngồi giữa đường mà thắng gấp và bị té phóng nhào ra phía trước đúng theo quy luật quán tính của vật lý về chuyển động, kết quả là bị bể càm phải vô nhà thương xứ người để làm radio và may vá lại vết thương…Vì được săn sóc tốt quá nên cuối cùng chàng ta cảm nhận được cái tình cảm của cô cán sự làm việc trong nhà thương để rồi đi đến sự kết hợp ngàn đời, vết thương ở càm lành lặn và lúc vào nhà thương thì có một thân một mình mà lúc ra khỏi nhà thương thì lại có cặp có đôi…

Tác gải bài viết nhắc đến người bác sĩ nhân hậu và rất tốt bụng là bác sĩ Phạm Như Bách, ở Hà Tiên chúng ta không ai vào thời đó mà không biết bác sĩ Bách, ông là người hiền hậu, vui vẻ và rất có lương tâm nghề nghiệp…Mình cũng có nhiều dịp tiếp xúc với bác sĩ Bách tuy là lúc mình còn thời học sinh nhưng cũng đã cảm nhận được cái thanh tao, cao cả thoát ra từ con người của ông. Mong rằng có những dịp được nhắc nhở về ông qua các bài viết ở đây để người Hà Tiên chúng ta còn có dịp tưởng nhớ lại ông, để đáp lại phần nào sự phục vụ tận tụy của ông đã cống hiến cho dân Hà Tiên thời xưa..Bây giờ mời thầy cô và các bạn trở lại câu chuyện của cây bút tả chân rất linh hoạt Quang Nguyên qua bài viết « Món nợ ân tình » sau đây. (viết lời giới thiệu TVM, Paris 15/05/2020)

Món nợ ân tình (Quang Nguyên)

Tháng mười âm lịch của năm 1983, khi lúa đã chín vàng các thẻo ruộng, anh em nhà tôi tạm gác chuyện “đất nước” (xe đất và đổi nước) để lo chuyện đồng áng, làm nông cũng rất cần sức mạnh của cơ bắp và cả sự dẻo dai, mà cái này thì tôi có thừa, thuở ấy sức của tôi mạnh lắm có thể vác bao lúa hai giạ rưỡi chạy băng băng hàng mấy trăm mét nhưng không thấy mệt, lên bờ xuống ruộng lội bùn ì oạp vẫn không ăn thua…Vậy mà dạo này tôi hay thấy mệt, cứ tưởng rằng sau một năm rời xa trường cũ bạn quê đi học ở Sài Gòn hoa lệ đã làm “biến chất” tôi rồi cũng nên? Cho đến một hôm trên đường làm ruộng về, sau khi dầm mưa lội bộ bốn cây số, về đến bến phà Hà Tiên chờ đò qua sông thì anh Khanh (gia đình bác Sáu “cò” Lương) nói với tôi rằng:

– Ê  Bé! Mày có muốn người ta tới coi mày không?       

– Chi vây? Bộ em có cái gì ngộ hả? – Tôi hỏi.

– Có gì đâu? Mày mà nằm xuống đây, tao lấy tấm chiếu đắp lại, thò hai cái chưn mày ra bảo đảm người ta bu lại coi. Ha ha ha…

– …???

– …Cái xác chết! – Anh ấy buông thêm mấy lời chòng ghẹo và cười ha hả…

Nhìn xuống đôi chân đất của mình, quả thật chân tôi chuyển màu trắng xanh đến bạch tạng, các đầu ngón thì móp méo, không một tí sắc hồng nào dù chỉ một đốm nhỏ xuyên qua những cái móng chân từ nhỏ đến to rồi từ to đến nhỏ của mình, chân tôi giờ y như chân người chết, tôi tự lý giải rằng “chắc tại mình ngâm nước suốt ngày”.  Dạo này sao da tôi trắng hỗn, không phải “bì bạch” mà vượt qua hẵn cái nền da trắng của cha mẹ đã cho từ trong ADN? Tôi lại quay về ý nghĩ rằng do lâu ngày đi học ở thành phố không được hưởng cái nắng ngọt gió mặn của Hà Tiên quê mình nên mình bớt đen chăng? Tôi cũng thấy có những sự thay đổi lạ trong người ví dụ như hay giật mình nửa đêm, làm việc mau mệt, hay vã mồ hôi bất thường, ăn không tiêu và hay choáng váng, bị chuột rút (vọp bẻ) thường xuyên… những triệu chứng này thường không làm cho tôi lo lắng vì nó chỉ thoáng qua, và thỉnh thoảng thôi.

Một hôm, khi đang vác bao lúa vừa leo lên bờ ruộng, tự dưng tôi nghe thấy tiếng u u ong ong trong tai, cảnh vật “nhảy lâm thôn” uốn éo, những nàng mây trắng bềnh bồng thi thoảng điệu đàng chầm chậm, dìu dịu nhè nhẹ vuốt từ từ cái bóng của mình, làm cho mình tan biến vô hình trước ông mặt trời già cỗi có gương mặt cau có bốc hỏa với tóc râu dựng đứng, sao hôm nay các nàng bỗng dưng giận dỗi đổi màu nửa trắng nửa đen, nhạt nhòa ảnh sắc…? Không biết các đám mây Tầng tích hay trôi bềnh bồng khiến cái thằng tôi hay mơ mộng đôi khi ngưng việc để ngước tìm, trưa nay đã có hay không vì quả thật tôi không thể nhìn xa được nữa, ánh sáng ban ngày bị tách quang phổ xanh đỏ tím vàng trộn lẫn ma quái, âm thanh bùm bụp của tiếng đập lúa, tiếng nói cười rổn rảng của bà con nông dân đang làm “dần công” với ba tôi chợt xa xa văng vẳng như vọng về từ cõi ta bà nào đó, hình ảnh nhạt nhòa của họ như bị kéo dài ra rồi lùn lại cứ giãn nở rất bất thường theo động tác cắt lúa của họ…. Rồi tất cả tối sầm lại rất nhanh cũng như khi ảo giác đến… (làm “dần công” là ngày này người ta làm phụ cho mình, ngày khác mình sẽ đi làm phụ trả lại với người ta).

Mở mắt, tôi thấy mình nằm vắt trên bờ ruộng, bao lúa văng xuống ruộng đầy nước còn đằng xa mọi người vẫn đang cắt lúa, gom lúa, và đập lúa…  Họ đang làm công việc của mình, không ai thấy tôi té xỉu, còn bản thân tôi cũng không biết mình vừa bị chuyện gì, lật đật ngồi dậy tôi thấy lạnh cả hai bên mang tai, tay chân thì bủn rủn, đầu óc rỗng tuếch, nhẹ tênh, không suy nghĩ gì được cả… Một lát sau tôi mới khoẻ lại và tiếp tục công việc, ngày ấy tôi nghĩ rằng chắc mình bị say nắng.

Hôm sau nữa khi đang cắt lúa cùng ba, vô tình tôi để lưỡi hái (liềm) cắt ngọt vào lóng tay của ngón út, tai nạn kiểu này là bình thường của những người gặt lúa bằng lưỡi hái, bất bình thường ở chỗ là máu chảy ra có màu đỏ hồng tươi (chứ không đỏ đậm), nhưng sao hắn chảy hoài không đông? Ba tôi phải rất vất vả dùng thuốc rê và nhai mấy cây cỏ gì đó, xé một miếng vải đâu đó để buộc chặt vết thương cầm máu lại cho tôi.

Đêm hôm đó ba nói chuyện cùng má sự việc này và rồi sau đó mọi người trong nhà lúc này mới nhìn kỹ lại cái cục ốm nhách cao nhồng là thằng tôi, rồi cùng nhận thấy có một sự thay đổi rõ ràng về mặt thể chất của tôi, cả nhà lập tức họp “chi bộ”, nhanh chóng ra nghị quyết là : “nó có bệnh”!

Ba bèn đưa tôi lên bệnh viện Hà Tiên khám, bác sĩ ghi nhận cái sự xanh xao vàng vọt, “lấy lời khai”, kẹp ống nghe vào tai, vị bác sĩ nghe ngóng gì đó ông ta nói “… nghe tiếng thổi tâm thu…” rồi phán rằng tôi … đau tim (?). Không thể! Vì tôi đang có trái tim khoẻ hơn tim bò mộng.

Em gái tôi quả quyết rằng tôi bị “bồ đá” nên lên cơn đau tim!

Về cái chuyện “bồ đá” thì em tôi có lý lẽ của nó.  Số là khi còn học tại trường Trung Học Hà Tiên của chúng ta, tôi có một cô bạn, mà việc “có bồ” trong trường trung học đâu dễ dấu được đám bạn bè ma quỷ?  Vả lại, chuyện có gì phải dấu cơ chứ bởi chúng tôi đều là học trò đang học chung một trường mà? Ngày ấy trái tim khỏe mạnh của tôi chợt một hôm loạn nhịp mỗi khi bắt gặp cặp mắt liếc bén ngót khi di chuyển bên phải tôi, rồi cũng cặp mắt ấy liệng theo hướng ngược lại khi đi ngang bên trái tôi, có hôm tôi nhận thấy chỉ có một con mắt len lén nhìn tôi qua khe cửa của phòng Ký Túc Xá nữ trên thềm cao khi tôi vào học buộc phải băng chéo lối vào dưới thấp, đôi mắt ấy khi đong đưa lúc “đứng hình” kiểu đó khiến tim tôi cứ lộn xộn dao động không biên độ như đồ thị động đất, tâm thần cứ bấn loạn nên nhanh chóng tôi “đổ sụp”, rồi không biết tự khi nào bạn bè và cả “đương sự” đều mặc nhiên công nhận như “chuyện đã rồi”… Tuy không khác những cặp đôi khác của học trò – hai đứa tôi cũng có bạn bè đưa đẩy bằng “lời ong tiếng ve” hoặc “tiếng mặn tiếng ngọt” hay “tiếng bấc tiếng chì” (học trò mà?) nhưng tình cảm nhẹ nhàng, mỏng manh ở lứa tuổi học trò mới lớn khiến tôi chưa bao giờ nói “I love you” (đương nhiên là bằng tiếng Việt!) với bạn ấy.  Dù vậy hai đứa tôi cũng như mấy « cặp » học trò khác, cũng có những cái trò thư đi tin lại với những câu chuyện thường ngày, những mâu thuẫn trong quan hệ bạn bè tự mình vẽ ra rồi thêm mắm dặm muối để không còn nhạt nhẽo như “mùi vị” ban đầu, lồng vào trong đó là các phương cách giải quyết rất ư là học trò, rất trẻ con nhưng hoàn toàn không kém phần thú vị, đó phải chăng là một “sắc thái” cơ bản thành hình, có thể nếu không có những biến cố trên ‘’con đường tình học trò’’ đó thì chúng sẽ nhiều dần tiến lên đến “50 sắc thái”? (tên của một bộ phim 2015).

Cứ thế mà trôi qua hết cả năm học lớp 11, rồi lớp 12 tôi đi học ở Sài Gòn, trước khi đi hai đứa tôi (cũng như tất cả các trường hợp đồng cảnh khác) cũng để lại bao lời hứa hẹn, đồng thời tôi bao bọc cẩn thận và mang theo hình ảnh đôi mắt bén ngót ấy vào hành trang… Cho đến một hôm tôi nhận được hung tin, rằng đôi mắt bén ngót đó đã được một chàng trai khác mà tôi rất quen biết tặng cho cục đá mài (!) Có thể nói anh ấy hơn tôi đủ điều kể cả chuyện biết cách “mài dao”.  Nghĩ đến bao nhiêu đó thôi thì máu tôi đã dồn lên tới đầu, và trong một não trạng bốc hỏa, tâm trạng đóng băng, tôi đã quyết định nhanh chóng, lạnh lùng tự tuyên bố “đơn phương cắt đứt quan hệ ngoại giao”.  Rồi để vùi chôn chuyện tình học trò chẳng có gì đáng để buồn đó, tôi còn làm một chuyện điên khùng – không thể điên khùng hơn: vẽ “đôi mắt” ấy xuống dưới lòng bàn chân, để mỗi bước chân của tôi là một lần chôn vùi “niềm đau con nít”… (xin lỗi các bạn, đó là hành động sến súa, sai quấy và bộc phát của một thằng nhóc 17,5 tuổi!)

Tôi đã học cái kiểu “thắng lợi tinh thần” từ AQ của Lỗ Tấn.

Và em tôi cho rằng tim tôi “thổn thức tâm thu” vì câu chuyện đó, nhưng tôi biết rõ mình như thế nào, tôi đã cho chuyện của mình đi theo bụi của những con đường mà tôi đã đi qua, tinh thần của tôi rất tốt, và quả tim đó đã không đau theo cả hai nghĩa đen và bóng.

Vậy thì tại sao bác sĩ phán tôi “đau tim”?

Phải có lý do gì đó, ba tôi hồ nghi và tôi cũng không tin chuyện này, chỉ vài hôm sau ba đưa tôi qua Rạch Giá, thời ấy khi có bệnh mình sẽ không được quyền chọn bệnh viện, vì tất cả phải theo luồng tuyến, dĩ nhiên là bệnh viện Phó Cơ Điều – Rạch Giá không nhận tôi vì không có thuyên chuyển của bệnh viện Hà Tiên, ba phải dẫn ông “bác sĩ chiến khu” mà ba nhanh chóng làm quen ra trước rạp hát Châu Văn ngồi nhậu lai rai với ổng (mặc dù ba không hề biết nhậu), để được gửi gắm thằng tôi.

Ba thành công, cuối cùng tôi được nhận vào bênh viện, tôi nằm đây gần ba tuần lễ để họ tìm bệnh, thật sự họ tìm hoài, lấy máu hoài và nghe tim phổi hoài mà không có một kết quả gì rõ ràng, cuối cùng họ phán rằng tôi bị “suy đa tạng” (!) cái tên bệnh nghe thật lạ. Rằng tôi bị thiếu máu không rõ nguyên nhân, rằng suy tim, suy thận, đau bao tử, chức năng ruột suy giảm ..v.v. Ba càng lo lắng và càng rối thêm… Đêm hôm đó hai cha con đi bộ trên đường Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá) nói chuyện với nhau rất nhiều, ông thật sự lo lắng và trông ba rất tội, hai cha con đứng tâm sự trên cầu đúc Nguyễn Trung Trực hồi lâu đột nhiên ông hỏi thằng con trai mười tám tuổi của ông rằng nó có bị… bất lực?

Trời đất! Tôi phì cười. Thật sự ba có lý do của ba, vì tất tần tật cái gì trong người thằng lớn cũng suy, thì nghĩ làm sao mà thằng nhỏ còn đứng vững?

Rồi cũng đêm đó ba quyết định đưa tôi đi Sài Gòn tìm bệnh sau khi ba viết thư nhờ ai đó mang về Hà tiên để báo cáo tình hình với má, rồi ba mượn tiền của những người quen ở bên này để đưa tôi đi luôn…Chuyến đi này mọi vấn đề còn nằm phía trước, ba cũng không biết sẽ làm sao vào được các bệnh viện ở Sài Gòn, chỉ biết rằng cứ đi rồi tính vì tôi càng ngày càng xanh rớt, sụt cân dữ lắm rồi, lưng quần tôi phải dùng dây nylon mà buộc chứ hồi đó nghèo đến độ không có tiền mua dây nịt, nói ra thì không ai tin chứ ngày ấy quả thực tình trạng gia đình tôi là như vậy.

Phải nói rằng ba tôi có nhiều bạn quý, ba sực nhớ đến một ông bạn là một bác sĩ của VNCH thời chiến tranh, đó là bác sĩ Phạm Như Bách.  Ông này chuyên khoa mắt, được học hành bên Đức, bên Mỹ chi đó rồi theo về Hà Tiên làm giám đốc bệnh viện Nguyễn Thần Hiến trước năm 1975, rồi sau đó ông chuyển đi, ba đã bặt tin nhiều năm nay, chỉ biết rằng ông có phòng mạch riêng ở khu vực chợ Tân Định, và ba đã đi hỏi thăm… Những người Sài Gòn hào sảng, vui vẻ, tử tế đã dẫn ba tới phòng mạch tại gia của ông ở đường Trần Khánh Dư. (Mr. Trần Văn Mãnh đã nhiều lần nhắc đến bác sĩ Phạm Như Bách trong các bài viết trong Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » này).

Người Hà Tiên xưa ai lại không biết bác sĩ Phạm Như Bách? Ba nói ông là một bác sĩ giỏi, tận tâm và đáng kính… Tôi còn thấy ông đẹp trai, phong độ và nho nhã…Ba dẫn tôi tới, ba nói chuyện với ông rất lâu vì đã lâu hai người không gặp, đương nhiên chuyện của tôi vẫn là chính. Hôm sau ba dẫn tôi đến bệnh viện Trưng Vương nơi ông đang công tác (một số ít người tài giỏi của VNCH như ông may mắn được chế độ mới sử dụng), tại đây ông giới thiệu với một bác sĩ khác người miền Bắc tôi còn nhớ tên là bác sĩ Luyến, bà Luyến đưa tôi vào nhập viện ngay mà không có “on-đơ” chi cả, đủ thấy bác sĩ Bách uy tín thế nào.

Một tuần lễ trôi qua các bác sĩ chưa tìm được bệnh cho tôi, cũng phải thông cảm, đó là vào năm 1983 đất nước đang rất khó khăn, đói nghèo và lạc hậu… Các phòng xét nghiệm không hiện đại như bây giờ. Sau vài ngày lấy máu xét tới nghiệm lui, họ thấy hồng cầu suy giảm đáng kể, phần còn lại to nhỏ không đều và dị dạng, nhược sắc tới bốn cộng  (++++), và dĩ nhiên các xét nghiệm khác nữa cho thấy tôi đang sở hữu một cơ thể rã rời và yếu đuối… Một hôm, tôi thấy bác sĩ Bách nói chuyện với ba hơi lâu, trông ba rõ ràng biến sắc và khuôn mặt căng thẳng lo âu, tôi hỏi ba chuyện gì thì ba không nói.  Thoáng nhìn thấy tờ giấy chỉ định phân tích máu ba đang cầm, tôi thấy có ba chữ “nghi K máu”!  Lúc ấy, tôi nào đã hiểu “K” là gì cho đến khi tôi hết bệnh, khi ấy ba mới nói cho tôi biết là người ta nghi tôi bị ung thư máu. Ba kể rằng cầm tờ giấy trong tay mà ba đi hết muốn nổi!  Ba không tin tôi bị K máu, chỉ vì ba không muốn tin, không một người cha nào muốn tin điều đó xảy ra với con mình. Nếu thật sự tôi mà bị K máu thì chỉ có Trời cứu chứ người thì bất khả!

Tuy nhiên sau đó thật may mắn cho tôi – vô cùng may mắn cho tôi, cái số của tôi không vắn đến vậy, người ta không tìm thấy tế bào ung thư máu mà thay vào đó người ta tìm thấy một dạng “vật lạ” rất nhiều trong bệnh phẩm thải ra là… trứng giun móc. À! Thì ra tôi bị nôm na là sán lãi, thật đáng xấu hổ cho đấng nam nhi đại trượng phu này.

Do tôi đi làm ruộng bằng chân đất trong những vùng đất ẩm và nhiều phân người thải ra, vì ruộng của gia đình nằm trong khu dân cư sơ tán, người ta phóng uế bừa bãi ngoài đó, cha con, anh em tôi thì vô tư cày cấy trên đất, ấu trùng con giun móc này chui vào da ở lòng bàn chân, bàn tay, qua máu qua phổi, lên họng rồi xuống ruột… Eo ôi! Có một dạo tôi “ngậm lãi phun người” mà tôi không hề biết? Kinh thật! Bọn chúng tồn tại bằng cách bám chặt vào thành ruột của vật chủ bằng cái mỏ có mấy cái răng hình móc và cái miệng như ống giác để hút máu.  Bằng kiến thức y khoa của mình, bác sĩ bảo rằng rất nhiều đến độ không biết bao nhiêu trăm (hay ngàn?) con trong chục mét ruột rà (non già) của tôi đang chứa đầy … giun móc!

Con này có tên khoa học là Ancylostoma…gì gì đó, cái tên bằng tiếng Latin dài hơn từ Biên Hòa đi Bình Chánh! Mặc dù thân hình nó chỉ dài độ 1,5 cm (con cái) và khoảng chừng 1,2 cm (con đực) mà thôi. Mỗi ngày một con hút chừng 0,1 – 0,3 ml máu nhưng hàng trăm con như vậy thì thử hỏi tôi đâu còn máu trong người? Mà cái bọn này độc địa và lười biếng, chúng không bò đi đâu mà cứ “tứ khoái” một chỗ, muốn được vậy chúng phải tiết ra chất độc làm máu không đông, để chúng cứ ngậm và máu của vật chủ cứ tự động tuôn vào họng chúng.

Để chống lại cái đám ăn cắp hồng cầu trong cơ thể nhưng chưa bị bắt này, cơ thể ngày đêm liên tục sản xuất thêm hồng cầu nhằm bù đắp vào số lượng bị hao hụt do mất trộm, lượng hồng cầu mới xuất xưởng vội vàng có chất lượng không cao, giống như một nhà máy sản xuất cứ mãi mê theo đuổi sản lượng mà không quan tâm đến chất lượng, hay vì nhu cầu quá lớn nên yếu tố chất lượng bị bỏ qua, hàng hoá sản xuất ra chỉ toàn là loại hàng thứ phẩm. Hồng cầu không khoẻ, to nhỏ không đều, thiếu sắc tố… nên việc vận chuyển ôxy về não không đủ làm tôi hay bị mệt và ngất, ô xy và dưỡng chất không đến được các cơ bắp đầy đủ nên tôi hay bị chuột rút và mệt mỏi, hơn nữa để tăng cường lượng ôxy cho quá trình làm việc liên tục của tôi – trong tình trạng thiếu máu – buộc tim (là cái bơm, bơm máu) phải làm việc nhiều hơn trong thời gian dài nên tim của tôi mau chóng có vấn đề suy yếu.  Cùng lúc, gan thận phải gồng mình giải độc tố mà mấy thằng “giặc móc” tiết vào trong máu nên gan thận của tôi cũng suy giảm chức năng, tôi trở nên xanh chành và vàng khè ai nhìn cũng thấy ớn. Ruột không còn đủ diện tích mặt bằng để hấp thu thức ăn vì bị bọn này chiếm đóng, mà thức ăn không được hấp thu cơ thể sẽ thiếu chất trầm trọng, hơn nữa sẽ bị lên men vi sinh khiến tôi hay bị tiêu chảy và sình bụng liên tục, bao tử thì đau và thỉnh thoảng quặn thắt từng cơn…

Đột nhiên mọi bệnh lý từ nội tạng của tôi được lý giải rõ ràng như tìm được nghiệm của một hệ phương trình nhiều ẩn số…

Hai tuần ở bệnh viện Trưng Vương các bác sĩ đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh cho tôi, sau khi tìm ra được trứng giun móc tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, ba tươi vui hớn hở đi cắt tóc cạo râu (bằng lưỡi lam chứ không như bây giờ – nhổ bằng răng!), buổi sáng ba vào bệnh viện với nét rạng rỡ phong độ, diện cái áo sơ mi tay ngắn bằng vải Pho màu kem, quần tây vải Canada màu rêu, chiếc kính mát vuông màu trà với gọng đồi mồi thương hiệu của xứ Hà Tiên yêu dấu của ba, trên tay ba là một cà mèn to là phở và đầy thịt bò tái, đó là bữa ăn ân huệ cuối cùng mà ba dành cho lũ yêu quái, thì cũng ngay trong ngày hôm nay thôi người ta sẽ cho chúng một liều thuốc độc (yên tâm! Vì có thuốc sẵn, chứ không phải chờ đợi mỏi mòn như tử tù trong hành lang chờ!).  Sáng hôm đó tôi nhận thuốc Vinacor với liều nhiều lần hơn bình thường cho một người, phải uống liên tục trong một tuần như vậy, đủ thấy tôi nhiễm giun móc nhiều như thế nào. Và sau hôm đó ba nói với tôi rằng tôi ở bệnh viện vài hôm, ba sẽ đi chơi Phan Thiết thăm bà con, ba giờ được thoải mái trong suy nghĩ, không lo âu nữa, không sợ hãi nữa, ba đã cứu thằng con trai của ba, đó là thành công ngoài mong đợi, ba “tự thưởng” cho mình.

… Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi chở ba tôi đến thăm bác sĩ Bách tại phòng mạch tư gia của ông, hay khi gia đình con cháu có ai bệnh mắt tôi đều đưa đến ông, ông có “độc chiêu” là tiêm vào mắt cho những trường hợp bệnh mắt nặng và hiệu quả điều trị tốt vô cùng… Mỗi khi ba tôi ghé là ông thường nói chuyện với ba rất lâu sau khi hẹn lại các bệnh nhân khác, và sau này khi mỗi khi tôi đến ông vì khám bệnh hay vì gì thì ông mừng lắm, ông hỏi han nhiều về những người quen biết của ông năm xưa tại Hà Tiên, hẵn là xứ sở này đã “đóng dấu” vào cuộc đời của ông những kỷ niệm đẹp.

Vào một ngày tháng 3/2018, nhờ facebook của cô Dương Hồng Châu, tôi biết được ông đã giã từ chúng ta ở cõi tạm này, tôi kịp đến thay mặt ba tôi để thắp cho ông nén hương cảm ơn ông đã giúp ba cứu thằng con trai của ba, tôi cũng đồng thời “ăn ké” lời tri ân dài dòng hơn đôi chút để nói lên cảm xúc của mình trước vị ân nhân của cuộc đời riêng của tôi, bởi ngày ấy nếu không có ông có lẽ bọn ăn cắp trong cơ thể tôi đã biến tôi thành “Mummy” (xác ướp Ai Cập) mất rồi.

Quan trọng hơn hết là chỉ vài tuần ở bệnh viện Trưng Vương mà ông đã dắt tôi vào, tôi đã kịp thời nhanh chóng “lụm” tại đây cho riêng tôi nửa mảnh đời còn lại, tôi đã kịp mang về cho cha mẹ tôi một nàng dâu thảo, cho xứ sở Hà Tiên một cô giáo Trung Học mà mấy mươi năm sau học trò xưa còn nhắc nhớ… (Sẽ là câu chuyện mà tôi có dịp sẽ kể sau này).

Và cũng phải nhắc thêm nơi đây, có một lần tôi dẫn mẹ của các con tôi tới chữa mắt ở phòng mạch của bác sĩ Bách, lần đó tôi có nói cho ông biết chuyện của chúng tôi đã gặp nhau như thế nào trong bệnh viện « của ông », ông chăm chú lắng nghe và đặt vài câu bông đùa… Đó cũng là dịp duy nhất giúp tôi được nói ra những lời tri ân với vị ân nhân của mình. « Em còn nhớ ánh mắt ngạc nhiên và thích thú của ông bác sĩ già, chắc lúc đó ông nghĩ : « ai nói là trên đời không có cái gọi là ‘số phần’? » – Vợ tôi đã nói với tôi như vậy.

Đúng! Sự xuất hiện của ông trong cõi tạm này là một phần số rất ý nghĩa của tôi, phần số đó đã và đang theo cuộc đời tôi gần bốn mươi năm qua…

Tạ ơn ông, bác sĩ Phạm Như Bách – một vị bác sĩ tài ba, đức độ, nghĩa tình của xứ sở Hà Tiên chúng ta nói chung, của đại gia đình cha mẹ tôi và của riêng gia đình tôi. Ngoài ơn nghĩa sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ, tôi đã nợ ông, món nợ ân tình cả cuộc đời này.

Tháng năm/2020, Quang Nguyên.

Bao thư của chính bác sĩ Phạm Như Bách gởi cho người quen năm 2007

Mẫu giấy cho toa thuốc của bác sĩ Phạm Như Bách dùng làm giấy viết thư cho gởi cho người quen.

Chú thích: Thành thật cám ơn bác sĩ Nguyễn Như Sơn đã chia sẻ cho mình một vài tài liệu cá nhân về bác sĩ Phạm Như Bách.

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Thầy cô và các bạn thân mến, trong những năm giữa thập niên 70, trường Trung Học Hà Tiên có đón tiếp nhiều thầy cô đến nhậm nhiệm sở, trong số quý thầy cô, có Thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa, Sinh Vật và cô Ngô Thị Tuyết Dung dạy môn Văn. Trong thời gian giảng dạy, lúc những năm đầu sau khi tình hình đổi mới, quý thầy cô thường có công tác phụ trách nạn xóa dốt ở những thôn ấp xa xôi…Trong những chuyến công tác như vậy, thường là quý thầy cô cùng với các em học sinh đi đến tận thôn ấp, thời gian chừng vài tuần lễ, để đem anh sáng của giáo dục đến với người dân vốn thật thà, chất phác và thường còn lâm vào cảnh mù chữ…Đó là một nhiệm vụ thật cao quý, thầy cô cùng các em học sinh đã đảm trách rất thành công dù cho phải có mặt trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn về mọi phương diện vật chất lẫn tinh thần…Ở ấp Trần Thệ, một ấp thuộc xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, một địa phương tuy là láng giềng của Hà Tiên chúng ta, nhưng từ xưa đến nay, người Hà Tiên ít khi lui tới vì tình hình còn khó khăn, câu chuyện những ngày xóa dốt được cô Ngô Thị Tuyết Dung kể lại đây cho chúng ta hình dung được những ngày khó khăn đi công tác giáo dục như thế,..Cô Tuyết Dung cũng qua bài viết nầy, muốn trang trải với chúng ta, những con người của quê nhà Hà Tiên, một tình cảm quyến luyến, thương nhớ về mảnh đất mà cô thầy ngày xưa từng sinh sống và thực hành chức năng nhà giáo,…Có thể nói như cô đã tâm sự qua bài viết, cô trả xong món nợ với dân tình Hà Tiên, nhưng theo thiển ý mình thì Hà Tiên thân thương vẫn còn mãi trong tâm khảm của thầy cô, mỗi người trong chúng ta cứ giữ mãi trong lòng mình một chút tình cảm ngày xưa, một mảnh nhỏ ký ức về trường lớp Hà Tiên, một món nợ tinh thần về những kỷ niệm vui có buồn có, sung sướng trong tinh thần, khổ cực qua thân xác, nhưng tất cả sẽ sống mãi trong chúng ta, dù người còn ở lại Hà Tiên, người đã đi xa bên kia bờ Đại Dương, hay ngay cả với những người đã ra đi vì đã xong kiếp người,…Cũng như cô đã nói, bây giờ cô có thể « vổ tay reo » vì đã trang trải được tình cảm, ký ức với học trò ngày xưa…(Paris, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu 08/05/2020)

Những ngày xóa dốt ở ấp Trần Thệ (Cô Ngô Thị Tuyết Dung)

Hà Tiên ..Những ngày tháng ấy, tưởng rằng đã quên, nay sao bỗng nhớ …rời rạc một mảnh vụn ký ức một thời… 

Gần cuối năm đó, cô trò lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi xóa dốt ở ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành. Nơi đây là vùng kinh tế mới, đồng không mông quạnh, còn sót lại vài hố bom – vết tích chiến tranh – chứa nước phèn. Cư dân ít ỏi, ở lác đác trong những mái tranh đơn sơ. Trẻ con, người lớn đen đủi  ốm o, đứng ngồi tối ngày trước sân, lơ thơ mấy khóm rau, cuống hành!
Mấy ngày đầu đối với cô trò lớp 8A là cả một sự đối phó và thích nghi hãi hùng! Một cô giáo trẻ và 6 học sinh, 2 nam 4 nữ ở dồn trong một túp lều tranh cửa nẻo chông chênh, nền đất trống trải! Ngăn trước đủ kê một nan giường tre với một tấm bảng trên phên vách. Ngăn sau nhỏ, nền thấp hơn, trống hoác với vài ba cục gạch vương vãi tro tàn, làm nơi nổi lửa nấu nướng qua ngày (nhà này là nơi tạm trú của thầy giáo địa phương đặc trách xoá dốt cho cư dân vùng kinh tế mới, nay tạm bàn giao cho cô trò lớp 8A trong khoảng một tháng (?)). Đêm đầu tiên cô trò không sao ngủ được! Không điện, không nước, không một chút an toàn nào trong mầu tối đen với những bước chân, tiếng động rình rập quanh nhà! Đêm sau: cô giáo nằm tót trong cùng, kế đến là mấy cô bé nhút nhát: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên, Nghĩa. Ngoài là  cậu nhỏ Hà Dũng, Mình Nhựt to con giọng ồn ào can đảm nằm ngoài cùng, nối kết với một hệ thống chuông báo động tinh vi tự chế bao gồm dây nhợ và ống lon phục kích ngay cửa ra vào! May sao, đêm đó không nghe động tịnh gì! Chắc kẻ gian thấy mấy cô trò tội nghiệp quá nên tha cho làm phước!

Thế là quen dần, hết cả sợ. Mấy cô trò bắt đầu lên lịch công tác xoá dốt. Đầu tiên là chiêu mộ người học. Sau đó phân công nhiệm vụ: Huệ Anh, Phương Chiêu, Vĩnh Tiên lên lớp ngay tại lều ở của mấy cô trò. Hà Dũng, Minh Nhựt hăng hái qua vùng phụ cận đảm nhiệm xoá dốt cho bà con Khmer. Riêng cô bé hạt tiêu Nghĩa dùng tài tháo vát đảm đang của mình phụ giúp cô giáo làm hậu cần! Mỗi ngày em xung phong đi kiếm nhặt củi khô vùng cỏ cháy đem về cho cô nấu cơm. Những buổi nổi lửa cay mắt phùng hơi mà gió thổi bạt tứ bề không sao chụm nổi ngọn lửa chín cơm! Nước không có, cô trò phải đi xách từng lon nước phèn ngoài mấy hố bom. Thức ăn toàn lương thực khô đem theo từ Hà tiên, thảng hoặc mấy cậu học trò hí hửng  đem về ít cá lóc con con rồi ra công làm cá thiệt là điệu nghệ. Bữa no bữa đói, ngày vui ngày lo ..Dân tình ban đầu có phần tò mò đến học cho biết cái chữ cái nghĩa, nhưng thưa thớt dần bởi cuộc sống khó khăn vùng kinh tế mới. Còn giữ lại là tình làng nghĩa xóm trước lạ sau quen, nhất là đồng bào thiểu số người Khmer, họ chân chất thật thà lưu chân người đi xoá dốt bằng các món đặc sản, đường thốt nốt, đệm giỏ đan lát rất tiện dụng!

Thời gian qua … rồi cũng đến ngày hành quân trở về đơn vị xuất phát. Từ giã bà con ấp Trần Thệ … Trở về lại trường lớp HÀ TIÊN, tiếp tục hoàn tất năm học… với giáo án, phấn trắng, bảng đen và những buổi học xen kẽ phần đọc phân vai tiếp cận tác phẩm, hoặc hoạt cảnh sinh động cuối tiết nếu dư giờ… Năm chủ nhiệm lớp 8A là mảnh tranh ký ức đậm màu nhất trong đời cô giáo, một thời tác nghiệp ở miền đất hoa gấm Hà tiên!

Tác giả, cô Ngô Thị Tuyết Dung, cô giáo dạy môn Văn, trong khoảng thời gian những năm 70 trường Trung Học Hà Tiên.

Vị trí Ấp Trần Thệ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, nơi cô Ngô Thị Tuyết Dung và lớp 8A trường Trung Học Hà Tiên đi công tác xóa dốt.

Hà Quốc Hưng và câu chuyện bùa tình yêu (Lê Phước Dương)

Thầy cô và các bạn thân mến, thời học sinh, không gì đẹp bằng tình yêu học trò, không gì nên thơ hơn và cũng không có tình cảm nào mà khó quên hơn tình yêu học trò…Chàng học sinh mới lớn, vừa chớm tuổi trăng tròn, con tim rất dễ rung đọng, nhất là mỗi ngày được kề cận cùng lớp cùng trường với người đẹp mà mình đang mơ ước? Thế rồi chàng ta có thể làm bất cứ điều gì để chinh phục được con tim người đẹp…Nếu trong thế giới hiện thực ta chưa có được một phép mầu nào để khiến người đẹp đáp lại tình yêu thì phải nhờ đến một phép lạ nào đó trong thế giới huyền bí phù phép …Lại còn phải đi tìm một ông thầy có đủ quyền lực và bùa phép để thực hiện được ý nguyện đó. Chàng trai học sinh trường Trung Học Hà Tiên không cần phải bỏ ngày tháng để đi tìm bùa ngải tận núi Tà Lơn, hay phải dùng thuyền vượt năm châu bốn biển đi tìm bầu thuốc nhiệm mầu…may mắn thay cho chàng ta là có người quen ở gần nhà, chỉ cần ra chút tiền túi vốn cũng không có bao nhiêu của đời học sinh để mua một con gà, bình rượu, hoa quả cúng ra mắt ông thầy để được học chút quyền lực áp dụng vào hoàn cảnh của mình…Với một cây bút quen thuộc là bạn Lê Phước Dương (hiệu Lê Dương), chúng ta sẽ được nghe kể lại một câu chuyện vui thời học sinh, vui có mà buồn cũng có, vì trong đời học sinh có mấy ai đạt được diễm phúc là có được một tình yêu trọn vẹn đầu tiên mà không phải ngày đêm lo âu, tìm đủ cách để có được tình yêu đó,…Rốt cuộc ta phải hiểu và nghiệm ra cái triết lý đơn giản của cuộc sống dù là đời sống còn rất nên thơ của thời học sinh: « Tình yêu sẽ đến khi có cơ duyên, ta không cần phải đốt đuốc đi tìm, dù đau khổ tuyệt vọng đến mấy, nếu không có cơ duyên thì có đợi đến ngàn ngày sau cũng vẫn chỉ mình với ta… ». Tuy nhiên dẩu cho tình yêu của thời học sinh thường đem đến cho chúng ta đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, ta vẫn thấy cái hạnh phúc ở trong cái đau khổ đó vì ta đã biết yêu dù cho tình yêu đó là vụng dại của thời con nít… Chắc thầy cô và các bạn cũng đồng ý như vậy…(Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu…Paris, 04/05/2020)

Hà Quốc Hưng.
Chàng lãng tử đào hoa số hưởng.
………..
« Anh vẫn biết, anh vẫn biết yêu em là tuyệt vọng.
Mà vì sao, mà vì sao anh vẫn cứ yêu em. »
…………
Mình chơi với Hưng từ năm 1970, học lớp đệ tứ. Con nhà nghèo, anh em đông, Hưng thứ 2, Hằng em gái thứ 3, Long thứ 4, thứ 5…, thứ 6…Ba của Hưng mình gọi bằng chú Năm (nghe mẹ nói là có bà con), làm ở kho thuốc bệnh viện Hà Tiên, khó tính và nghiêm khắc, mình không dám nói chuyện, chỉ tìm Hưng rồi hai thằng vọt lẹ…

Mẹ Hưng có một gánh tầm bì se, nước cốt dừa và nồi bánh canh, bán ở đầu đường Cầu Câu-Trần Hầu. Có đôi lần sáng sớm đạp xe đến nhà Hưng rủ đi học, leo lên căn gác gỗ nắm chân gọi lớn:

– Hưng ơi! …đi học.

Lúc đó chàng ta mới thức dậy, xuống thang, rửa mặt, thay quần áo, rồi chở nhau ra chổ Mẹ của Hưng bán, xin tiền đi học.

Bà rất thương Hưng, không khi nào nghe rầy la hay nhắc nhở chuyên gì …, và rồi thì có lúc bà dọn cho hai tô bánh canh hoặc hai dĩa tầm bì…

– Ăn đi hai đứa con rồi đi hoc.

Có khi đi học về, Hưng về nhà mình, ăn cơm và ngủ lại luôn.

Hai thằng cùng chơi thân với Thánh và Kiệt, dắt dìu nhau lớn dần theo ngày tháng, học hành chỉ làng nhàng, chơi nhiều hơn là học.

Sau sự kiện:

Anh bước vào đời thơ ngây.
Dại dột yêu em nên chết cả đời.
Vết thương lần đầu anh mang khó vá
Dẩu nhớ dẩu thương dầu giận dầu hờn.

Vướng một cú yêu đầu đời đau điếng, chàng thiếu gia Trang Việt Thánh ra tiệm cạo đầu trọc lóc, không cùng đi lang thang vô định hàng đêm nữa mà chú tâm dùi mài kinh sử làm một sự kiện: «Cá chép vượt vũ môn» ngoạn mục, với sự học vượt trội như pháo thăng thiên đó, bạn bè cùng lớp ai cũng ngạc nhiên và thán phục.

Phải chăng là nhờ sự khước từ tình cảm của nàng! Chiêm nghiệm lại, được đau khổ trong tình yêu cũng…họa phúc khôn lường.

Gần nửa năm đệ tứ, dù chưa học giỏi nhưng nơi Hưng đã phát tiết tài năng văn chương thiên bẩm, thích làm thơ, lý luận bình phẩm thi văn, chọn cho mình một cái tên hiệu:

– Tô Hà Lam Uyên.
Thói quen đã chọn :
– Hơi thở là khói thuốc.
– Mạch máu là cafe đen.

Và rồi chàng ta đã biết yêu từ lúc nào đó!

Mà phải chi yêu ở chổ hoa cúc hay hoa mai…thường thường bậc trung cũng đở khổ, đằng này lại đi yêu một đóa hoa hồng rực rở duy nhất của lớp mới lận đận đời trai mới lớn.

Sau nhiều lần bằng mọi cách mà không được nàng đáp lại chút tình còm…Hưng tuyệt vọng và đã biết thế nào là vị đắng, ăn uống thất thường, học hành lơ láo, vô lớp thì xác ngồi cho có còn hồn thì thả theo những cánh hoa dầu bay bay theo gió bên ngoài cửa sổ.

Rồi không biết tình cờ do đâu mà Hưng tin tưởng vào Thần Quyền.

Ở xóm gần nhà Hưng, có anh tên Tiến, học theo phái võ Thần Quyền…không cần miệt mài học thế võ này nọ, xuống tấn, mã bộ, ngũ trảo…Chỉ cần cúng lễ vật nhập môn gồm con gà luộc, ngũ quả, nhang đèn, trà rượu…Khi đươc chấp nhận là đệ tử rồi thì chỉ cần đọc chú ba lần tức khắc thần có võ nhập vô người, lúc đó mặc tình đấm đá đối phương.

Một hôm gặp Hưng, anh Tiến bảo:

– Mầy cắt đúng đủ mười móng tay, mười móng chân, mua một chai dầu thơm nhỏ, có nút bấc trên đầu, để đủ móng đã cắt vô hết chai dầu thơm rồi đưa cho tao, tao sẽ làm bùa đúng 30 ngày rồi đưa lại cho mày và chỉ cách dùng luôn.

Mừng quá, Hưng làm đủ và đúng những gì anh Tiến dặn dò…

…30 ngày sau…

Buổi sáng 2 giờ môn Toán êm ả trôi qua, khi ra chơi Hưng nói với mình:

– Dung đi uống nước rồi, mầy lấy dùm cuốn tập của nàng dùm tao!

– Để làm gì?

– Không được nói, hết linh.

Mình vói lấy cuốn tập của Dung rồi về chỗ đưa cho Hưng.

Hưng đưa cuốn tập vào học bàn, lật tới tờ đôi trang giữa, tay hơi run…dở nắp chai dầu thơm trút hết móng tay móng chân vào cuốn tập, xếp lại đưa cho mình rồi nói:

– Mầy trả về chỗ cũ dùm tao.

Mặt Hưng xanh, thở gấp.

Lúc sau, tới giờ học, mọi người vào ngồi lại chỗ cũ của mình.

Giờ Sử Địa, thầy Chiếu bước vào lớp:

– Chào các em, các em ngồi xuống. A! hôm nay có em nào làm bể chai dầu thơm vậy?
Lúc này ai cũng cảm nhận đươc mùi dầu thơm dù có ngồi ở cuối lớp.

Hưng cố giữ bộ mặt tỉnh queo, lơ đãng nhìn ra cửa sổ, mình nhìn qua Dung xem động tỉnh thế nào.

Dung nhìn cuốn tập của mình, lật từ tờ tới trang giữa, nhìn một thoáng hơi giật mình rồi giật phắt hai tờ giữa, vo tròn lại bỏ vào học bàn, rồi trở về tư thế bình thường, như không có gì xảy ra.

Giờ ra chơi, Dung cầm cục giấy vo tròn đứng ở cửa, mình đi ra, Dung chặn lại đưa cho cục giấy và nói:

– Cho Dương cục bùa yêu nè!

Mình cầm cục giấy đi ra đứng ở hành lang đầu trường, Hưng đi theo hỏi:

– Dung nói gì với mày!

– Cho tao cục bùa yêu.

Vừa nói mình vừa nhét lại vào tay Hưng.

Hưng bậm môi quăng cục giấy ra xa rồi cay đắng nói :

– Ông Tiến này xạo, linh con mẹ họ, làm quê với cả đám trong lớp.

Dù thời gian có trôi qua nhưng vết thương trong lòng Hưng vẫn còn mở miệng.

Chỉ còn chừng một tháng nữa thôi là tới hè rồi. Một hôm thầy Nén nói chuyện và kêu gọi lớp tổ chức văn nghệ bán vé lấy tiền ủng hộ đồng bào Việt kiều Kampuchia hồi hương.

Thế là Hưng được cả lớp tính nhiệm và giao cho trọng trách này.

Phải nói là Hưng có tài tổ chức và thuyết phục, làm bầu sô, đạo diễn, soạn giả viết kịch bản « Thương hận » và mời Dung vào vai nữ chính, còn bản thân Hưng thì vai nam chính…Ba thằng bạn thân giao cho ba vai du đảng …vài tiết mục đơn ca nam, đơn ca nữ, nhờ anh Mạnh Thường giúp cho một tiết mục múa…Cuối cùng chương trình văn nghệ cũng ổn với thời lượng 1g30 phút.

Thầy Nén giới thiệu chương trình.

Anh Mãnh guitar.

Thầy Trí đánh trống…
……..
Rồi cũng tới ngày trình diễn, Hưng lo lắng, ốm o thấy rõ.

Đúng 8g sáng ngày chủ nhật, tháng 4 năm 1970.

Chương trình văn nghệ bán vé giúp đồng bào hồi hương do tổng đạo diễn Hà Quốc Hưng…..bắt đầu.

Mục hát Quốc ca mở màn: Này công dân ơi!……..

Các tiết mục đơn ca, song ca, múa….được diễn ra trơn tru, không hay không dở. Tới được phân nửa chương trình, Hưng đến cạnh thầy Nén nói:

– Hết tiết mục này thầy giới thiệu kịch dài « Thương hận » nghe Thầy.

Thoáng ngạc nhiên vì lúc đầu chương trình đã sắp xếp màn kịch diễn vào lúc cuối mà…

Nhưng là Thầy, nên cũng đoán ra được ý đồ của thằng đạo diễn học trò mình… khi vừa dứt tiết mục đơn ca Thầy liền giới thiệu:

Tiếp theo đây là vở Kịch « Thương hận » do chính trò Hà Quốc Hưng sáng tác và đạo diễn…với sự góp mặt của:

– Vai nữ chính: Tiền Ngọc Dung.
– Vai nam chính: Hà Quốc Hưng.

Cùng các vai phụ do các em sau đây đóng :

– Trang việt Thánh.
– Trần Tuấn Kiệt.
– Lê Phước Dương.
………..
Vở kich bắt đầu bằng một tiếng hát nhân vật chánh từ trong hậu trường: « Có ai biết được có mình tôi….buồn…. »…..

Hà tiên 04/05/2020
Viết lại để nhớ về những người bạn rất thân một thời.
Lê Dương.

Bốn người bạn cùng lớp cùng trường….thời Trung Học Hà Tiên nhũng năm 70. Từ trái qua: Hà Quốc Hùng, Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt

Người đẹp Trung Học Hà Tiên vẫn giữ diện mạo xinh đẹp như thời còn đi học ngày xưa….

 

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, ngày 20/11 mỗi năm, giới nhà giáo và học sinh chúng ta lại có dịp tưởng nhớ, suy nghĩ về thầy cô và trường lớp, điều nầy không có nghĩa là mọi ngày bình thường khác chúng ta không nhớ đến thầy cô…Thật vậy nhân dịp ngày đặc biệt nầy, chúng ta thường có dịp viết về thầy cô, về trường lớp, có bạn lại qua mạng fb, gởi đến quý thầy cô ở phương xa một cánh thiệp chúc sức khỏe có hình trình bày rất đẹp, hoặc một bó hoa đầy màu sắc rực rở gởi đến cô giáo kính yêu ngày xưa,…mặc dù đó chỉ là một cánh thiệp hay một bó hoa « ảo »…Thời đại mới, thôi thì hãy sống theo phong cách hợp thời hơn, quan trọng là tấm lòng kính yêu thầy cô trong sâu kín của trái tim chúng ta vẫn còn mãi không thay đổi theo thời gian và phong cách mới…

Bạn Giá Khê (Trương Thanh Hùng) cũng không qua thông lệ đó, mặc dù ngày Nhà Giáo đã trôi qua, nhưng dư âm ngày lễ vẫn còn trong lòng bạn và bạn đã dành thời giờ tưởng nhớ và ghi lại trên giấy trắng mực đen, những suy nghĩ và hổi ức về ngày xưa, ngay từ thuở chập chửng vào nhà trường cho đến những ngày bồi hồi sắp sửa rời trường bước vào trường đời đầy thử thách…Có ai có đủ khả năng trí nhớ để nhớ và kể lại từng tên họ thầy cô đã giảng dạy mình qua từng thời gian, có ai có đủ khả năng trí nhớ để viết lại vài mẫu kỷ niệm vui buồn thời đi học,…Có lẽ chỉ có những tâm hồn mang nặng cưu mang về hồi ức thời tuổi trẻ còn trên ghế nhà trường mới có thể viết đầy đủ chi tiết như bạn Giá Khê, mặc dù trong chúng ta, ai cũng có một thời sống một dĩ vãng trường lớp rất phong phú,…Hãy đọc bài viết của bạn Giá Khê, để khơi lại trong mỗi chúng ta một ngôi trường, một lớp học thân yêu ngày xưa và nhất là cũng để trong trái tim sâu kín của chúng ta, nổi bật ra niềm kính yêu, tưởng nhớ những vị thầy cô, đã từng giảng dạy chúng ta ngay từ khi mới bước chân vào một lớp học vốn mang rất nhiều tên gọi theo từng thời kỳ; lớp Chót, lớp Năm, lớp Vỡ Lòng,….cho đến những vị thầy cô đã mang đến cho chúng ta những kiến thức cao hơn, cần thiết cho sự rèn luyện con người và khả năng làm việc ngoài đời sống, những kiến thức toán học, khoa học, sinh ngữ..v..v….(TVM Paris 21/11/2019)

Những người Thầy Cô của tôi ở Hà Tiên (Giá Khê Trương Thanh Hùng)

Hôm nay đã qua “Ngày nhà giáo Việt Nam” (Trước đây là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”), nhưng vẫn viết một số hồi ức về những người Thầy, Cô, những người đã trao truyền cho tôi kiến thức, hướng dẫn tôi về đạo đức, lối sống và nhân cách làm người.

Khi còn nhỏ, gia đình tôi ở Tân Bằng thuộc huyện Thới Bình khu vực U Minh Hạ. Năm đó, tôi mới 5 tuổi được cha mẹ cho vào học lớp “Năm B”, thời đó lớp Năm còn được chia thành Năm B và Năm A, lớp Năm B như là lớp vỡ lòng. Người thầy đầu tiên mà tôi được học là Thầy Luyến, nhưng vì còn nhỏ quá nên tôi không nhớ nhiều kỷ niệm về Thầy, chỉ còn nhớ là Thầy có vóc người thanh mảnh, dáng thư sinh. Năm đó, tôi có một lần trốn học nhưng không bị Thầy phạt hay méc lại với ba má tôi.

Năm 1960, gia đình tôi chuyển về sinh sống ở Tri Tôn, nay là thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất. Tôi vào học lớp Năm A với Cô Hoa, tôi cũng không còn nhớ kỷ niệm nào về Cô, chỉ nhớ năm ấy cô đã khá lớn tuổi có mấy người con trạc tuổi tôi và lớn hơn.

Sau đó tôi học lớp Tư với Cô Thủy. Cô khá đẹp người, hiền lành và mới kết hôn với Thầy Hải. Tôi rất quí Cô Thủy nên học hành rất ngoan ngoãn, khi Cô gõi lên trả bài tôi đều thuộc, nhưng tôi lại rất sợ Thầy Hải vì thấy Thầy quá nghiêm khắc. Những khi Cô Thủy bệnh, Thầy Hải dạy thế là tôi rất sợ, khi Thầy gọi lên trả bài là tôi quên hết bài vỡ dù mình đã thuộc rất kỹ. Qua năm sau, Thầy Hải dạy tôi lớp Ba, có lẽ vì sợ Thầy mà tôi học hành rất đàng hoàng. Trong kỳ thi lớp Ba lên lớp Nhì tôi đậu hạng nhất (cùng với bạn Sử). Năm lớp Nhì tôi học với Thầy Lê Kim Ích, Thầy rất dễ mến, tôi rất quý.

Giữa năm học 1963-1964 gia đình tôi chuyển về Hà Tiên, tôi học lớp Nhì ở trường Tiểu Học Hà Tiên với Thầy Minh, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì Thầy Minh phải đi lính, lớp tôi phải chia ra để học với 2 lớp khác, tôi được học lớp Nhì A với Thầy Hứa Văn Vàng. Thầy Vàng đã lớn tuổi và rất nghiêm khắc. Tôi có khuyết điểm là viết chữ xấu lại có tính cẩu thả, lười biếng. Trong những giờ viết chính tả, Thầy hay ngồi bên cạnh tôi, khi tôi viết chữ không ngay ngắn, không đúng theo khuôn mẫu là Thầy dùng một cây bê bằng các tông vố ngay cho tôi một phát; khi học không thuộc bài thì chủ nhật Thầy bắt về nhà Thầy học chừng nào thuộc mới cho về. Có lẽ nhờ Thầy Vàng mà tôi viết chữ đàng hoàng hơn. Sau này, khi tôi về làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên, Thầy đã kêu lại dặn rằng: “Đừng học theo tánh gà què ăn quẩn cối xay” bởi trường tôi lúc đó có vài cô giáo trẻ.

Năm học 1964-1965, tôi học lớp Nhất với Thầy Phan Tấn Hoàng, Thầy Hoàng rất vui tánh, nhưng cũng khá “dữ đòn”, em nào không thuộc bài là bị Thầy thưởng ngay vài roi vô mông, nhờ vậy, học trò lớp Nhất A của Thầy Hoàng được đánh giá khá cao, năm đó thi Đệ Thất, lớp tôi có nhiều người thi đậu hơn các lớp khác. Sau này, quan hệ thân thiết với nhau, Thầy Hoàng có nói với tôi đại ý “Khi làm một việc gì, mình phải sẵn sàng đón nhận kết quả tệ nhất, để khi có kết quả tốt hơn, dù không được như ý thì mình cũng thấy vui”, tôi cho đó là một câu nói chí lý.

Vào lớp Đệ Thất năm 1965 và sau đó là học tiếp các lớp Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ (Đệ Tứ Quốc tế), tôi được học với Cô Hà Thị Hồng Loan, Vương Thị Lành, Thầy Phan Văn Xuân, Thầy Trương Minh Hiển là người Hà Tiên và các thầy cô ở nơi khác về dạy gồm Thầy Bùi Văn Cầm, Thầy Nguyễn Phúc Hậu, Thầy Đức Sinh,Thầy Phan Văn Chiếu, Thầy Nguyễn Văn Út, Thầy Nguyễn Văn Nén, Thầy Nguyễn Văn Thành, Thầy Nguyễn Hồng Ẩn. Sang đệ nhị cấp, lớp Đệ Tam, Đệ Nhị có thêm Cô Nguyễn Thị Rớt, Thầy Trần Văn Thuận. Còn nhiều Thầy Cô khác thì hình như không có dạy tôi (như Cô Dương Thị Minh Hoa, Cô Nguyễn Ngọc Oanh, cô Võ Kim Loan, Thầy Huỳnh Văn Xền, Thầy Nguyễn Thanh Liêm. . .). Tất cả các Thầy Cô ở trường Trung học Hà Tiên xưa từ năm 1965 đến 1971 đều để trong lòng tôi sự kính trọng và yêu mến, nhưng có những Thầy Cô làm cho tôi có nhiều ấn tượng, đó là:

Cô Hà Thị Hồng Loan hiền lành dễ mến, Cô Vương Thị Lành dạy Quốc Văn làm cho tôi nhớ mãi những bài thơ cả cổ văn và kim văn như các bài thơ của Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan, các bài « Khói Trắng » của nhà thơ Kiên Giang, bài « Xóm chợ chiều đông » của Bàng Bá Lân, « Chợ Tết » của Đoàn Văn Cừ. . .

Thầy Nguyễn Phúc Hậu dạy tôi thổi sáo nên đến sau này tôi thổi sáo cũng không tệ lắm.

Thầy Đức Sinh dạy Anh Văn năm Đệ Thất (học ở phòng thí nghiệm), trong giờ học mà Thầy lại dạy các bài hát của đạo Thiên chúa như bài “Đêm Đông” (Không phải bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương), bài hang Bethléem mà đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ.

Thầy Bùi Văn Cầm dạy Vạn vật, Thầy có vẻ hiền lành, vui vẻ, đến năm 1987 tôi ra Qui Nhơn thăm và được Thầy cô đón tiếp rất chu đáo.

Thầy Nguyễn Hồng Ẩn dạy môn Lý Hóa để lại trong tôi tình cảm khá đặc biệt. Tôi vốn là một học sinh kém (kém đều các môn), nhưng không hiểu sao năm học Đệ Tam, trong kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt tôi được điểm cao nhất nên bạn bè bớt chê tôi. Đến khi tôi đi học Sư phạm ở Vĩnh Long, Thầy (lúc đó là hiệu trưởng trường trung học Bình Minh) vào nội trú tìm tôi bảo tôi dạy kèm toán, lý hóa cho 2 đứa em vợ của Thầy, giúp tôi bớt khó khăn trong những ngày học xa nhà.

Thầy Trương Minh Hiển dạy Quốc văn năm Đệ Tứ. Tôi yêu văn chương bắt đầu từ Thầy Hiển. Nhớ có một buổi học, Thầy đọc bài thơ “Thăm động Hương Tích” của Chu Mạnh Trinh, đọc suốt bài thơ với giọng hào sảng và gần như không lấy hơi làm cho tôi và các bạn say mê. Năm đó, không hiểu tôi phạm lỗi gì mà

Thầy bắt tôi vào văn phòng để cho tôi mấy roi mây, tôi nghĩ là mình bị đòn oan, nhưng tôi rất nể trọng Thầy Hiển nên không dám có ý kiến gì. Sau này, tôi và Thầy Hiển rất quí nhau, có khá nhiều ấn tượng (như trong bài viết trước đây về Thầy Hiển).

Thầy Trần Văn Thuận dạy quốc văn năm Đệ Tam (lớp 10) cũng là người truyền thêm cho tôi tình yêu văn chương. Thầy Thuận bị tai nạn gì đó mà một bên mặt (bên phải) bị thẹo, nên khi giảng bài, Thầy thường bước tới rồi bước lui không quay lại để học trò không nhìn thấy thẹo mặt của Thầy. Thầy dạy tác phẩm « Chinh phụ ngâm » rất hay làm cho tôi say mê. Năm đó, Thầy bảo lớp chúng tôi viết thơ hoặc văn để in, Thầy gợi ý nên đặt tên cho tập thơ văn đó là “Lửa Lựu”, lấy hai từ trong câu thơ “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”, nhưng sau đó chúng tôi đặt tên cho tập văn thơ này là “Suối mơ”, tập tác phẩm này in khá đẹp, tiếc rằng hiện nay tôi không còn, không biết bạn bè có ai còn giữ không?.

Còn những Thầy Cô khác, tôi đã có viết và được anh Mãnh đưa lên trang “Trung Học Hà Tiên Xưa” của chúng ta rồi nên không nhắc lại. các bạn nếu thích đọc xin vui lòng tìm lại trên các trang của Blog nhé,…

Lan man nhớ về Trung học Hà Tiên xưa, nhớ Thầy Cô, nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, xin ghi lại ít dòng chia sẻ với Thầy Cô và các bạn đồng học trong những ngày cuối năm.

  21/11/2019 Giá Khê Trương Thanh Hùng

Hai bạn và cũng là anh em, học trò xưa Trương Thanh Hào (trái) và Trương Thanh Hùng (phải) về thăm trường xưa (nay là  trường Trung Học Cơ Sở Đông Hồ 2, điểm số 3 Mạc Tử Hoàng, Hà Tiên). Hình: Trương Thanh Hùng, năm 2017

Tác giả Giá Khê Trương Thanh Hùng (bên phải) đến thăm thầy Phan Văn Xuân (bên trái) nhân ngày Nhà Giáo năm nay 20/11/2019 tại tư gia thầy ở Hà Tiên. Hình: Trương Thanh Hùng.

Anh Hào, anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Thầy cô và các bạn thân mến, có một thời xa xưa ở nơi Hà Tiên nhỏ bé của chúng ta, ai ai cũng biết nhau, nhất là đối với những bạn bè và người quen biết trong khu phố chợ Hà Tiên. Mình muốn nhắc đến những cặp anh em sinh đôi mà ít nhiều có « tiếng tăm » ở Hà Tiên… Thứ nhất là cặp sinh đôi mà chính mình là một trong hai: Trần Văn Dõng và Trần Văn Mãnh, rồi cặp Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt (gia đình có tiệm thuốc tây Thanh Bình ở phía dưới chợ cá cũ), cặp Phật Tử ở chùa Tam Bảo ngày xưa Khưu Thiên Phước, Khưu Thiên Lộc,…v…v….., và còn nhiều nữa mà mình không nhớ ra tên. Ngoài ra ở Hà Tiên còn có những cặp sanh đôi nữ nữa…Bây giờ nói trở lại cặp anh em sanh đôi Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt: đó là hai người bạn thân của anh em mình ngay từ thời còn học trường Tiểu Học. Hào, Kiệt, Dõng, Mãnh đều học chung một lớp ở bậc Tiểu Học. Mình còn nhớ nhiều kỷ niệm với Hào Kiệt lúc còn ở Tiểu Học, nhất là lúc học lớp Nhứt với thầy Nguyễn Văn Pho. Nhớ có năm học lớp Nhứt đó, thầy Pho cho làm thủ công, mỗi học trò trong lớp phải làm một cái nhà nhỏ bằng giấy carton. Mình và Lâm Tấn Hào đem vào lớp mỗi đứa một cái nhà bằng giấy rất đẹp, có bạn làm một căn nhà tuy rất đẹp nhưng rất giống loại nhà người ta đốt khi cúng cho người chết, thầy Pho nhìn cười và nói sao giống « nhà táng » quá…!! Ngoài sinh hoạt ở lớp học ra, mỗi buổi chiều hai anh em mình thường đến nhà hai bạn Hào, Kiệt ở đường Mạc Công Du để rủ đi chơi. Lần nào cũng vậy, hai bạn Hào và Kiệt nói chờ tắm xong sẽ đi, vì là con nhà giàu nên chiều nào cũng tắm rửa sạch sẽ trước khi đi chơi…Lúc đi chơi thì cả nhóm kéo tới các băng đá ở Đài Kỷ Niệm Hà Tiên, ngồi nhìn ra mé sông, và nói đủ thứ chuyện, dĩ nhiên là không thiếu chuyện con gái…Lúc đó còn có bạn Khoa (mình quên họ rồi, hình như là Châu Văn Khoa) con của chủ tiệm cơm Xuân Thạnh cũng đi chơi chung, và có một người bạn mang kiếng cận con của chú phát thơ làm ở Bưu Điện thời đó, cũng có hai anh em bạn Túc con của nhà Mã Chính Yên ở phía Đông Hồ trước bến tàu đi Rạch Giá….Cuối năm học lớp Nhứt, phải chuẩn bị thì vào lớp Đệ Thất, năm đó đề ra về môn toán rất khó, còn đề môn Văn thì phải bình luận câu « Dùng hàng nội hóa là yêu nước »…Mình cũng làm xong bài về hai môn nầy nhưng kết quả ra là minh, Hào và Kiệt đều rớt hết, cả ba đều ở lại lớp Nhứt, chỉ có anh Trần Văn Dõng thi đậu lên lớp Đệ Thất , thế là sau cả quá trình học ở bậc Tiều Học, hai anh em đều học chung lớp nhưng khi lên bậc Trung học thì người học năm trước, người học năm sau..Năm đó mình ở lại và vào lớp Tiếp Liên của thầy Hà Phương Linh dạy, ngày xưa thầy Linh dạy rất nổi tiếng về lớp Tiếp Liên, tức là lớp chuyển tiếp từ bậc Tiểu Học lên bậc Trung Học, năm đó được thầy Linh luyện cho mình tất cả các loại toán về động tử (hai người khởi hành trước sau vài giờ, chạy cùng chiều hay ngược chiều rồi hỏi vào lúc nào hai người gặp nhau…), vòi nước chảy (có hai vòi nước chảy cùng lúc hay trước sau, lưu lượng chảy khác nhau, hỏi khi nào thì vòi nào chảy đầy bồn nước,..). Những loại toán nầy rất khó đối với các học sinh còn non mới lên lớp Nhứt nên rất khó làm được môn toán khi thi vào Đệ Thất…Còn hai anh em Hào và Kiệt thì gia đình cho lên Sài Gòn học trường Pháp La San Taberd, rồi sau đó nghe nói Hào và Kiệt có học thêm môn võ thuật Thái Cực Đạo và đạt được đến huyền đai….Từ đó thì bạn bè rất ít khi gặp nhau vì cả năm đều xa nhau theo niên khóa học, chỉ có dịp mỗi cuối năm thì những học sinh lên Sài Gòn học đều kéo trở về nhà Hà Tiên để ăn Tết cùng với gia đình, đó là lúc rất vui cho tất cả bạn bè quen biết, vì lúc gần Tết, mỗi người đều trông tin là bạn nầy đã về, bạn kia đã về nên bạn bè họp mặt lại rất vui. Mặc dù xa nhau khá lâu cả năm nhưng tình cảm bạn bè cũng còn duy trì tuy đã kém phần ngây thơ mặn nồng như lúc tuổi thơ, trong đời sống mỗi người đã có hướng đi riêng của mình…Cho đến một ngày nào đó mình lại hay tin Kiệt đã đi được đến bến bờ bình an còn bạn Hào thì không may mắn đã lìa xa vĩnh viển chúng ta…Rất thương nhớ bạn Lâm Tấn Hào, đó là một người bạn rất trầm và rất tốt trong tình giao lưu bạn bè…

Ngở rằng thời cuộc đã chia cắt tình bạn của những năm xưa thời Tiều Học, thế rồi sau một quyết định làm một chuyến đi Californie để họp mặt lại với bạn bè ngày xưa của Hà Tiên, mình đã được gặp lại bạn Lâm Tấn Kiệt, Kiệt cũng không thay đổi nhiều so với ngày xưa, nếu có thay đổi nhưng cũng không đủ để cho mình không nhận ra Kiệt, vì Kiệt vẫn còn giữ nét mặt thon gầy giống như kiểu gương mặt của mình,…Ngày nay Kiệt đã vui với cuộc sống hiện tại, quên đi những mất mát nhọc nhằn của thời khó khăn, bên cạnh Kiệt đã có một người vợ hiền Minh Nguyệt cùng chia sẻ vui buồn và những buổi văn nghệ hát hò, những chuyến đi du hành trên nhiều miền của đất nước Hoa Kỳ, mong rằng cái gia đình nhỏ bé đầy ấm cúng của Kiệt và bà xã sẽ luôn có đầy hạnh phút, đầy niềm vui trong văn nghệ ca hát và rong chơi…

Mình cũng nói thêm là Lâm Ánh Nguyệt, người em gái của hai bạn Hào và Kiệt cũng chính là bạn gái học chung lớp với mình ngay từ lớp Đệ Thất…Nguyệt rất hiền, ít nói và cũng rất chăm chỉ trong công việc học hành…Lâm Ánh Nguyệt cũng đã rời xa chúng ta về cỏi vĩnh hằng từ rất lâu rồi. Bây giờ xin giới thiệu với thầy cô và các bạn bài viết của cây bút Hồ Thị Kim Hoàn, một cây bút quen thuộc trên Blog « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta, Kim Hoàn sẽ tiếp tục kể cho chúng ta nghe giai đoạn sinh hoạt với các bạn Hào, Kiệt trong thời gian đi học ở Sài Gòn những năm 70…    Paris, 28/10/2019, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu.

Anh Hào, Anh Kiệt (Hồ Thị Kim Hoàn)

Đó là hai anh sinh đôi Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt mà tôi luôn xem như là anh trai của mình.

Ba tôi và bác Hai Bình (ba của hai anh) là bạn thân. Từ khi lên Trung Học tôi đã thích tung bay ra phương trời rộng, nên viện cớ muốn lên Sài Gòn học hè, sẵn có nhà bác Hai ở Sài Gòn, có các cô, chú đang trọ học, nên “đơn xin” của tôi dễ dàng được chấp thuận từ mọi phía.

Mùa hè luôn tuyệt vời đối với tôi, vì tôi được xa nhà, học thì ít mà chơi thì nhiều. Nơi căn nhà đó, các cô chú cũng đang là học sinh, sinh viên. Anh Hào, anh Kiệt lớn hơn tôi 4 tuổi, coi như anh. Thường thì năm nào cũng có tôi và Tô Vĩnh Tuấn là nhỏ nhất, nên rất được nuông chìu.

Tôi đã có biết bao kỷ niệm êm đềm, nhưng tôi chỉ xin nhắc tới anh Hào, anh Kiệt trong bài viết này.

Thuở nhỏ, niềm mơ ước của tôi là có anh trai. Tôi thấy bạn bè có anh thật sướng, được anh chỉ dẫn bài vở, được anh bảo bọc chở che, và anh đem bạn trai về nhà…   

Bên mấy anh hoài, ít được rong chơi nên cũng hơi chán. Thỉnh thoảng có chị Lâm Ánh Nguyệt là em gái của hai anh lên chơi khiến tôi vui hơn, có thêm tiết mục ăn hàng rong, đi bát phố… 

Một buổi tối tôi rủ chị Nguyệt vô quán cà phê ca nhạc. Mọi người trong quán nhìn hai đứa bé “vị thành niên”, khoảng 13, 14 tuổi, với ánh mắt ngạc nhiên. Tôi cũng kêu cà phê uống và thả hồn theo những bài hát trữ tình đến nỗi quên thời gian.

Đường phố đã vắng tanh, bấy giờ hai chị em mới biết lo sợ. Quả như chị Nguyệt nói, anh Kiệt đã chờ sẵn trước cửa nhà, anh đi qua đi lại, vẻ nôn nóng lắm. Thế mà thấy mặt hai đứa em, anh chẳng mừng, còn la cho một trận:

– Có biết giờ này mấy giờ không? Con gái gì mới bây lớn vô quán nhạc uống cà phê là sao? Lần này thôi nhe, không có lần sau nghe hông!

Chị Nguyệt kéo tôi đi nhanh:

– Vô nhà mau em, ở đây ảnh đánh bây giờ!

Ảnh có đai đen Thái Cực Đạo, ảnh mà đánh, chắc… chết không kịp ngáp!

Úi chao, tôi nào biết có anh trai… dễ sợ như vậy chứ!

Khi tôi giã từ trường “Trung học Hà Tiên” để lên Sài Gòn học lớp 11 thì ba tôi đã mua một căn nhà nhỏ, tôi ở đó với hai anh, lúc ấy anh đã đi làm. Trong hai năm học liên tiếp, tôi muốn đi bộ đến trường nhưng anh không cho. Anh Hào đưa tôi đi học và anh Kiệt đón tôi tan trường về. Các bạn tôi thường trầm trồ:

– Mi sướng quá, anh tao đời nào chịu đưa rước tao.

Lúc đó tôi đã lớn, nên khi có dịp tiệc tùng nhà bạn, anh thường dắt tôi theo và giới thiệu tôi là em gái. Bạn bè cứ tưởng chúng tôi là anh em ruột.

Tôi nhớ có lần anh Hào đưa tôi ra bến xe “xa cảng miền tây” để về Hà Tiên nghỉ hè sau kỳ thi. Anh lo cho tôi lên ngồi trên xe đò xong, tưởng anh đã về, nhưng tôi chợt nghe giọng anh nói với người ngồi ngoài sau tôi:

– Nhờ anh dùm ngó chừng em gái tôi nhé, nó đi xe hay bị ói, có gì xin anh giúp đỡ dùm.

Tôi thấy xúc động ngập tràn! Ôi, anh của tôi lo cho em gái thế này! Tôi trấn an anh:

– Em đi được mà, anh đừng lo. 

Anh quay bước, ánh mắt nhìn tôi vừa lo âu, vừa thương mến. Nói thế nhưng chuyến đi nào mà tôi không bị ói! Anh quân nhân ngồi sau cứ chồm lên thăm hỏi :

– Cô thế nào rồi? Có sao không? Tại anh cô kêu tôi… dòm ngó cô đó mà.

Trên xe, tôi thấy đa số là ông già bà cả, phụ nữ, con nít… mà anh lại chọn ông thanh niên… hùng mạnh này để gởi gắm em gái, anh hay thiệt!

Nhớ ngày sinh nhật thứ 16 của tôi, anh Hào đã đem về cho tôi một bức tượng thiếu nữ, đúc bằng thạch cao trắng:

– Anh thấy tượng này giống Hoàn quá!

Tôi ngơ ngẩn hỏi anh:

– Em đẹp được như vầy hay sao?

Chao ơi, chắc niềm thương mến trong lòng anh đã làm anh… hoa cả mắt! 

Cuộc họp nào cũng tới lúc phải chia tay. Rồi chúng tôi có gia đình riêng. Rồi tôi đến Mỹ năm 1978. Khoảng thời gian đó, anh Hào cũng vượt biển, nhưng anh không bao giờ đến bến bờ tự do. Tôi buồn lắm, tôi thương nhớ anh và những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

Giờ còn lại anh Kiệt. Có thời gian anh bệnh nặng, cô đơn, buồn bã. Anh hay gọi tôi và kể tôi nghe đủ chuyện, có khi tôi giật mình hỏi anh:

– Chuyện bí mật này có ai biết không?

– Không.

– Vậy sao anh nói với em?

– Vì em là người trong gia đình mà.

– Anh không sợ em nói cho người khác biết sao?

Anh cười vang:

– Bộ anh không hiểu tính của em hay sao chứ!

Được anh tin tưởng như vậy, tôi quả thật vui sướng!

Anh ở cách tôi một tiếng lái xe, khi có dịp là chúng tôi hẹn gặp nhau. Tôi cảm động vì anh chưa từng từ chối mỗi khi tôi ngỏ ý muốn gặp anh.

Càng ngày tôi càng thấy anh yêu đời, phong độ hơn, bởi anh đã có một người vợ tuyệt vời đi bên cạnh. Tôi mừng cho anh tôi và thầm cảm ơn chị Minh Nguyệt đã mang đến cho anh niềm tin yêu và hạnh phúc trong cuộc đời!

Californie, tháng 10, 2019 Hồ thị Kim Hoàn

Trái qua phải: Lâm Tấn Hào, Hồ Thị Kim Hoàn, Lâm Ánh Nguyệt và Lâm Tấn Kiệt . (Hình xưa: Hồ Thị Kim Hoàn)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Lớp Nhứt trường Tiểu Học Hà Tiên, niên khóa 1962-1963, thầy giáo Nguyễn Văn Pho.    a = Lâm Tấn Hào, d = Lâm Tấn Kiệt, b = Trần Văn Dõng, c = Trần Văn Mãnh. (hình: TVM)

Hồ Thị Kim Hoàn và Lâm Tấn Kiệt (hình hiện tại, Hồ Thị Kim Hoàn)

Lâm Tấn Kiệt và phu nhân Minh Nguyệt trong cuộc sống hiện tại ở nước Mỹ. (Hình: Hồ Thị Kim Hoàn)

Hội ngộ sau hơn 50 năm:Trần Văn Mãnh và Lâm Tấn Kiệt (Kiệt là bạn học và thân trong suốt thời Tiểu Học Hà Tiên), (06/2019, California)

*

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một thời gian bận rộn với công việc làm, cây bút quen thuộc Quang Nguyên đã trở lại với Blog chúng ta vẫn với một phong cách tả chân, hiện thực và vui nhộn…Dù cho đề tài viết về sự mất mát một người bạn, một người anh thân thuộc, nhưng tác giả vẫn giữ một phong cách tích cực để nói về sự mất mát đó,…Có lẽ đó là một cách tốt đẹp nhất để vinh danh và tưởng nhớ về anh bạn đã ra đi…Đầu bài viết tác giả có nói là « mắc nợ » mình về lời hứa sẽ viết một bài về anh Nguyễn Đình Nguyên (nhân về sự chia tay vĩnh viển gần đây của anh Nguyên đối với chúng ta), nếu ai cũng « sốt sắng » « trả nợ » theo kiểu như Quang Nguyên thì Blog của chúng ta rất phong phú bài vở,…Nói cho vui chứ mình đâu dám kèo nài thầy cô và các bạn để có bài vở đóng góp, chỉ khuyến khích và mong mỏi rằng do niềm hứng khởi và nỗi lòng nhớ trường lớp, bạn bè thầy cô mà ngày chúng ta sẽ có nhiều thêm những bài viết nói về đề tài đó…

Ngày xưa ở Hà Tiên thầy cô và các bạn đều biết là mình và Nguyễn Đình Nguyên tuy không học chung một lớp nhưng hai người là bạn rất thân, mỗi chiều hai đứa đều tản bộ đi vòng vòng Hà Tiên và cuối cùng là dừng chân bên các băng đá Đài Kỷ Niệm để hóng gió…Vì thế khi chưa rời ghế nhà trường Hà Tiên, mình đã biết Đình Nguyên dưới hai khả năng có thể nói là « rất cao cấp », đó là tài ca hát và tài hội họa của anh. Ai cũng biết là bạn Đình Nguyên có một giọng ca rất hay, trầm ấm ngân nga, nhất là các bài hát « ruột » của anh: Giọt mưa thu, Ngủ đi em, …Còn về tài vẽ hình thì như mình đã viết trong nhiều bài về bạn Nguyễn Đình Nguyên, bạn có tài vẽ chân dung rất hay, thường dùng khói đèn để chấm phá các nét đậm, lợt…vì thế có một thời Đình Nguyên đã là nơi đặt hàng của biết bao cô gái đi buôn bán ở Hà Tiên, muốn có một tấm hình chân dung bằng hình vẽ…

Về ngành chụp ảnh, mình cũng đã có từng thấy Đình Nguyên hoạt động rồi, đó là vào thời kỳ những năm đầu của thập niên 90, khi mình có dịp lần đầu tiên trở về thăm quê nhà Hà Tiên sau 8 năm rời VN. Lúc đó mình gặp Đình Nguyên tại bãi biển Mũi Nai, vai đeo máy ảnh như tác giả Quang Nguyên đã viết trong bài…Đình Nguyên cũng có chụp cho nhóm mình nhiều bức ảnh tại biển Mũi Nai…Tuy nhiên quả thật mình không hề biết các hoạt động về việc giao hình cho khách…Mình cũng không tưởng tượng ra là muốn giao hình đến nơi cho khách lại phải bôn ba đi xe đò đến tận nơi những chỗ ở của từng người khách để giao hình và nhận tiền thù lao…Hôm nay đọc bài bạn Quang Nguyên viết mình mới thấy cái khó nhọc và kiên nhẫn, hay ho của đôi tay nghề « Đình Nguyên và Quang Nguyên »…Thật vậy, phải có một lòng kiên nhẫn, sự tính toán đầy tính chất « kế toán thương mại » và sự quyết tâm vượt khó khăn để « xoay trở » trong những lúc khó khăn về kinh tế như vậy, hai bạn Đình Nguyên và Quang Nguyên mới có đủ sức mạnh và ý chí để hoạt động trong ngành chụp và giao ảnh…Về cách thức bám theo khách, chìu khách và cố vấn cho khách để chụp được nhiều ảnh cho khách thì mình cũng đã hiểu phần nào, nhưng các hoạt động về sự giao hình cho khách thì mình quả thật mới biết qua bài viết mô tả chi tiết của Quang Nguyên…Mình cũng không thể tưởng tượng là phải lên đường, đi từng tỉnh từng quận để tìm ra nhà các khách đã từng có chụp hình với nhiếp ảnh gia Đình Nguyên, để rồi lại phải thuyết phục là hình rất đẹp, nhân vật trong ảnh rất có duyên, người quá « ăn ảnh »… »nếu cô, chị, anh bạn không lấy các tấm hình nầy thì rất uổng công đến Hà Tiên »,….v…v….Càng lại không thể tưởng tượng được hơn khi mà ta muốn giao ảnh mà lại không có địa chỉ của khách để đi giao !!??  Người giao ảnh Quang Nguyên lại phải trổ tài trinh thám tư để tìm ra cho được từng chi tiết nhỏ có liên quan đến địa chỉ của khách như đã viết trong bài…Đọc xong bài viết của tác giả Quang Nguyên, mình quả thật rất phục và nể tác giả, đúng như vậy khi ta muốn thành công và đạt được mục đích, không phải cái kết quả tốt đẹp nó tự động đến với mình mà mình phải ra tay thực hiện, phải đối đầu với mọi khó khăn, không nản chí thì mới đạt được mục đích…Có lẽ tất cả những đức tính hay đó Quang Nguyên đã tự trau dồi, tự trang bị cho mình ngay từ khi có những bước khó khăn đầu đời, ngay cả khi còn ở ghế nhà trường, nên sau đó ngay lúc mà giai đoạn « giao hình » trong đời sống đã qua đi, tác giả Quang Nguyên vẫn còn hưởng được những ảnh hưởng tốt đẹp, có lợi của những đức tính nói trên…Đó là điều mà mình thán phục nhất về Quang Nguyên, và có lẽ cũng nên lấy đó học hỏi cho bản thân mình, nếu từ rày về sau, trong cuộc đời có gặp nhiều khó khăn đến đâu, hãy cố gắng khắc phục và đối đầu với những khó khăn đó hơn là chùng bước hay than phiền…Bây giờ nghĩ lại mình mới hiểu là tại sao trong giờ phút hiện tại nầy, cương vị của tác giả Quang Nguyên được tốt đẹp như hôm nay……Xin kết thúc phần viết lời giới thiệu bài viết của tác giả Quang Nguyên về người anh, người bạn quá cố Nguyễn Đình Nguyên bằng một vài nét tích cực như vậy…(TVM, viết xong ngày 04/10/2019)

Người thợ chụp hình (Quang Nguyên)

Tôi đã “mắc nợ” Mr. Mãnh về một bài viết về một người quen thuộc của Hà Tiên chúng ta vừa mới rời xa cuộc đời… Thời gian gần đây “quỹ thời gian” của tôi bị thâm thụt trầm trọng nên không có “số dư” để “trả” cho Mr. Mãnh, dù tôi cũng thích viết lách kiểu “văn nghệ” để tự thư giãn, tự cân bằng tâm thần cho cuộc sống bon chen mà mình lỡ xuất hiện trên cuộc đời này để rồi tự dính dáng vào như mắc phải cái bẫy keo dính chuột!
Thỉnh thoảng chúng ta nghe tin một người quen biết cũ mất đi, dù chỉ sơ giao nhưng lại mang đến cho chúng ta những cảm giác lạ kỳ rất thật, giật mình bàng hoàng hay một cảm giác hoang mang mơ hồ khiến chúng ta phải nghĩ “thật hay không?”, rồi cố nhớ rằng lần gần nhất mình gặp họ khi nào, để làm gì khi ấy, và mình đã trao đổi những gì trong cái quá khứ đôi khi là rất xa ấy…?
Hôm nọ tôi nghe tin anh Đình Nguyên mất, thật sự cũng như bao nhiêu lần mình nghe một ai đó mình có quen biết mà mất đi thì cảm giác tiếc thương luôn ập đến… Đó cũng là chuyện bình thường mà? Cái không bình thường khiến ai cũng nao lòng là anh ấy đã rời xa chúng ta thật lặng lẽ, thật riêng tư, thật kỳ lạ và “bình yên” như khi anh ấy sống, anh đã chọn cho mình một cách dấn thân vào cuộc đời rất “cá nhân”, một cách đối diện bình thản có chút rụt rè và tồn tại độc lập trong vạn sự quay cuồng trộn lẫn lộn xộn của thời cuộc…
Tôi rất nhỏ so với tuổi tác của anh Đình Nguyên, ngày còn nhỏ tôi vẫn thường gọi “chú Nguyên!” dù anh ấy là bạn của chị tôi, tôi vẫn nhớ mái tóc chải chuốt thẳng nếp, cái dáng đi nhẹ nhàng đôi khi anh nhìn xuống chân mình như để xem đủ chỉnh chu chưa? Và anh hay đi bộ, bước đi khoan thai của loài mèo mà như anh Phước Dương đã kể rằng đó là những con “thú cưng” mà anh rất thích. Thỉnh thoảng đang bước trên đường anh tự “điểm xuyết” thêm cho cái riêng – đã rất riêng – ấy của anh bằng việc nắm hờ bàn tay đưa lên miệng che nhẹ nhàng tiếng “tằng hắng” thoát ra dù không đủ lớn để phiền mọi người. Gặp người quen đi qua đối diện sẽ có một nụ cười xả giao vừa đủ nở trên gương mặt đăm chiêu của anh và rồi nó vội vụt tắt như cái kiểu mà nó xuất hiện, để rồi tiếp tục đăm chiêu mà anh bước tiếp, trông anh lúc nào cũng đang suy tư về một việc gì đó …
Người Hà Tiên gọi anh là “Nguyên họa sĩ” dù không có mấy người tên Nguyên trong xứ sở này? Nhưng tên gọi đó cũng là cách mà cộng đồng công nhận một khả năng hay tài năng của anh, tôi không hiểu biết về hội họa nhưng tôi đã từng hàng giờ ngồi xem tại nhà anh, anh vẽ truyền thần một bức ảnh chụp để thờ tự mà ai đó đã đặt anh vẽ, bức vẽ rất sống động, rất trung thực dù chỉ bằng bột than bút chì, muội đèn với kỹ thuật đậm – nhạt – bóng – sáng… Tên “Nguyên họa sĩ” theo tôi hợp với anh nhất và có lẽ nó thể hiện được tố chất của anh, bởi cái chất “nghệ sĩ” của anh lộ ra từ cách ăn mặc, đầu tóc, dáng đi và vẻ ưu tư mà ta luôn bắt gặp trên gương mặt anh.
Thế nhưng, tôi còn biết một Đình Nguyên khác mà mọi người đã ít nhắc đến – Đình Nguyên – phó nhòm!
Chắc mọi người không quên vào những năm 90 của thế kỷ trước, Hà Tiên chúng ta có một đội ngũ đông đúc hành nghề chụp ảnh dạo, đội quân ấy với áo gilet ký giả nhiều túi, nón vải rộng vành, tay xách nách mang túi đựng máy chụp hình… Họ tụ tập hai đầu cầu nổi, sau đó phóng Honda vù vù ra những tụ điểm du lịch tự nhiên mà tạo hóa ban cho người dân xứ sở này, đó là khi họ đã “bắt” được những chiếc xe đò chở khách thập phương vừa bò chậm chạp qua chiếc cầu phao nổi tiếng của Hà Tiên chúng ta.
Nghề nghiệp này cũng tự phát, mạnh ai nấy làm, không có nghiệp đoàn chi cả mà chỉ dựa vào tính “phải quấy, biết điều với nhau…”, cứ xử sự với nhau theo nguyên tắc tôn trọng và thấu tình đạt lý mà anh em cùng tồn tại, bởi thiên nhiên đã biếu không cho người dân xứ sở này các danh lam thắng cảnh mà không đòi hỏi điều gì vậy cớ gì người Hà Tiên với nhau không nương tựa nhau dựa vào sự ưu ái đó mà sống tốt? Đình Nguyên tự nguyện làm một “chiến sĩ” trong đội quân đó sau khi anh có được chiếc máy ảnh từ thế giới tư bản của người anh mang về tặng anh, chiếc máy ảnh tư bản của Đình Nguyên thời gian đó là giấc mơ của nhiều anh phó nhòm xứ này bởi Zenit của Liên Xô và Leica của Đức đang làm mưa làm gió giới gilet nhiều túi của Hà Tiên.
Mà hành nghề phó nhòm ở Hà Tiên cũng lắm công phu, phải “đu đeo” theo các chiếc xe hành hương du lịch, mà hiểu theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen đều đúng trong trường hợp này, anh nào theo chiếc nào là phải đeo theo suốt trong hành trình du lịch của họ, khi thì đi bằng Honda tự có, lúc phải “đeo” càng “đu” cửa theo chính chiếc xe đó trôi dạt lúc thì Mũi Nai khi Thạch Động, rồi lăng Mạc Cửu, Chùa Phù Dung, vào Mo So, ra Hang Cá Sấu, ghé Chùa Hang, ra Hòn Phụ tử… Họ phải “xuất” đủ mọi “chiêu” để chiêu dụ khách chụp hình, chụp càng nhiều càng tốt, miệng càng “dẽo” càng tốt… Còn về khách du lịch cũng đa dạng phong cách, người thì thích lưu lấy cảnh, kẻ thích lưu lấy hình ảnh của mình. Lắm cô Chung Vô Diệm tưởng mình là Điêu Thuyền nên ưng diễn, lượn tới lượn lui, nghiêng đầu ở hốc hang này, cong mông trên tảng đá khác… chụp quá trời quá đất! Đủ mọi tư thế nằm ngồi, lắm kiểu bùng xòe áo xống mà không thể nào đẹp lên chút được. Trong khi đó nhiều cô đẹp như Tây Thi thì lại không chịu chụp ảnh, sợ tốn tiền, chỉ chụp vài kiểu (pose), nhưng các anh phó nhòm không cưỡng lại được cái ống (kính) của mình, lén chụp thêm vài pose “vụng dại” đẹp mê hồn!
Bởi có một nguyên tắc là chưa giao hình thì chưa lấy tiền, hình đẹp mới lấy tiền, chụp hình xong các anh thợ phải chờ tráng rọi, tráng rọi thì mất thời gian mà đoàn du lịch thì người ta không chờ được, nên hầu hết các anh thợ không trực tiếp giao hình mà việc giao hình phải có người khác đảm trách giao sau… Có mấy anh phó nhòm ranh như ma, cứ dụ người ta chụp thật nhiều pose hình để sau đó bán lại (film chưa tráng rọi) cho các người giao hình với hình thức “khoán” 34-35 pose cho một cuồn film 36 pose kèm với địa chỉ của khách. Với giá 1.300 đồng/pose, người giao hình sẽ tự đi tráng rọi, trả tiền tráng rọi khoảng 750 đ/ pose, người giao hình sẽ thu 2.500 đ/pose, trừ chi phí tráng rọi sẽ được hưởng 500 đ/pose, nhưng thật không dễ kiếm 500 đồng bởi các anh thợ chụp ảnh đã chụp cốt sao được càng nhiều càng tốt để bán “buông đuôi” như đã nói trên, khách có thể từ chối nhận hình vì những kiểu chụp mà người ta không thuận tình…
Và tôi là một kẻ giao hình chuyên nghiệp, tôi mua lại film cuộn đen của các anh em thợ chụp ảnh, đem đi Sài Gòn tráng rọi trong các Lab, sau đó giao hình và mua sỉ film Kodak và Konica mỗi lần hàng ngàn cuộn để về bỏ lại cho các anh em thợ. Tôi đã đi khắp các tỉnh miền Đông miền Tây, vào bưng biền xa xôi hẻo lánh, lên Tây Nguyên rừng sâu nước độc… Nơi nào có người đi Hà Tiên chơi và có chụp hình là tôi phải giao cho bằng được để thu tiền về, bởi mình đã đầu tư tiền bạc vào đấy, mỗi chuyến đi tôi phải xử lý trên 5000 poses ảnh.
Và thật không dễ để tôi giao những tấm ảnh của anh Đình Nguyên bởi sự “đặc biệt” của nó, phải thuyết phục khách rằng “hình của cá nhân mình thì dễ kiếm còn cảnh vật đẹp thì khó tìm…” để người ta chịu trả 2.500 đ cho một pose hình du lịch mà cảnh vật thì bao trùm còn người trả tiền thì … bé xíu! Tôi hiểu rằng khi Đình Nguyên nhấc ống kính lên thì cảnh vật tuyệt vời của xứ sở Hà Tiên đã làm anh quên luôn “vật chủ” là khách hàng, kẻ sẽ nuôi sống anh trong những ngày sắp tới…
Theo tôi, anh có thể có những bức ảnh đẹp, nghệ thuật, đầy chiều sâu … Nhưng anh không thể là một anh phó nhòm thành công được bởi cái sự xô bồ, ồn ào, lắm mưu nhiều kế, chiêu trò, mánh lới ..v..v., của nghề chụp hình xứ du lịch. Để thành công anh phải “biến hóa”, mà tôi thì không thấy điều đó từ anh.
Lại có ngày anh rụt rè giao tôi những cuồn film chưa tráng rọi mà không một dòng địa chỉ, không hiểu có cái chi đó cuốn hút anh đến độ anh quên mất việc ghi lại địa chỉ của những người khách thập phương mà anh đã bỏ ra mấy ngày “đu đeo” theo họ? Và tôi đã thật sự rất khó khăn để làm hoàn thành việc mà anh đang dang dở, ngày ấy dù rất hoang mang vì không biết sẽ giao thế nào, tôi cũng phải tốn mớ tiền để tráng rọi hàng trăm kiểu hình mà anh đã giao, rồi xem ảnh từng người cụ thể, tôi đã cố tìm một manh mối quan trọng để xác định đoàn này của tỉnh nào, có “chung đụng” với đoàn nào khác mà tôi đang có ảnh có địa chỉ của các anh thợ khác để hòng tìm những manh mối có thể có để mình truy tìm…
May mắn cho song Nguyên (Đình Nguyên và Quang Nguyên), tôi nhìn thấy số xe của xe khách ở Sài Gòn, từ cái bản số xe tôi vào Xa cảng Miền Tây để hỏi tìm chủ xe, tìm ra chủ xe tôi tìm ra trưởng đoàn, tìm ra trưởng đoàn tôi tìm ra từng người và giao hết số hình, sau khi tôi lại phải “múa mỏ” để thuyết phục khách nhận hình vì cái bố cục ảnh “rất riêng” của anh… Mô Phật!
Vậy đó, anh hay “đãng trí” kiểu vậy, anh không là bác học để mắc bệnh đãng trí, Đình Nguyên họa sĩ và Đình Nguyên chụp ảnh vẫn là một, là cái tính cách nghệ sĩ đứng ngoài những điều bình thường của người bình thường với cuộc đời bình thường như mọi cuộc đời khác. Anh lãng đãng một cách lạ lùng thú vị với những ai đã biết và có khi chỉ một vài lần hay một khoảng thời gian ngắn ngủi “dính dáng” tới anh, anh “rất riêng” mà không thể hòa trộn cho dù cuộc đời đã cố gắng lôi anh vào vòng xoáy của nó, tôi luôn có ý nghĩ như vậy khi được nhắc nhớ về anh…
Giờ anh đã về nơi chín suối, ở nơi đó với cái chất rất riêng đó của anh, hẵn anh vẫn là Đình Nguyên mà mọi người từng biết, tôi tin vậy. Bởi trần đời đầy những trói buộc mà anh vẫn tự do thể hiện cái “chất” của mình thì thiên đường đâu có gì làm anh thay đổi?
Tưởng nhớ anh Nguyễn Đình Nguyên… (10/2019)

TruongMinhQuangNguyen_2

Tác giả bài viết: Quang Nguyên

NguyenDinhNguyen_2002

Bức chân dung tự vẽ của họa sĩ Duyên Đình (tức Nguyễn Đình Nguyên). Trên góc phải có ghi « 35 tuổi », dưới góc trái có ghi « Hà Tiên năm 2002 », dưới góc phải có ghi « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo ». (Có nghĩa là năm 2002 bạn Nguyên tự vẽ chân dung mình vào lúc 35 tuổi, và có một điều lạ là tại sao bạn lại chú thích là « Di ảnh cố họa sĩ Duyên Đình Hà Tất Đạo », theo mình nghĩ có lẽ bạn muốn chấm dứt giai đoạn làm họa sĩ và để bước qua giai đoạn làm nhiếp ảnh viên ??)

NguyenDinhNguyen_Photographer

NguyenDinhNguyen_Photographer_b

nguyendinhnguyen_muinai.jpg

Bạn Nguyễn Đình Nguyên trong giai đoạn làm thợ chụp hình ở bãi biển Mũi Nai (Hà Tiên), hay nói cách khác Nguyễn Đình Nguyên với danh xưng là nhiếp ảnh gia. (những năm 90)

Kể về một chuyến đi Hòn Nghệ của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên năm 1969

Thầy cô và các bạn thân mến, từ rất lâu rồi mình muốn viết một bài nhắc lại chuyến đi chơi ở Hòn Nghệ vào ngày 20/06/1969 bằng tàu Hải Quân HQ 607 do thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành tổ chức, nhưng vì việc xảy ra đã quá lâu nên mình không còn nhớ rỏ các chi tiết… Sau đó mình có đăng tin thông báo trên trang fb để nhờ quý thầy cô và các bạn đóng góp thông tin vào, mặc dù có rất nhiều bạn học cùng trường Hà Tiên ngày xưa cho biết là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi đó nhưng các bạn đã không còn nhớ chi tiết gì nữa cả, có một vài bạn cũng có kể lại một vài kỷ niệm nhỏ trong chuyến đi, riêng bản thân mình thì mình còn nhớ một vài chi tiết, mình sẽ lần lượt kể ra cho thầy cô và các bạn biết, cuối cùng thì mình cũng phải quyết định viết bài về chuyến đi nầy vì đó là một trong những hoạt động ngoài học đường lớn lao và quy mô của ngôi trường Trung Học Hà Tiên chúng ta vào thời đó, phải có một bài nhắc lại kỷ niệm nầy mới được, mình chắc chắn rằng khi quý thầy cô và các bạn đọc xong bài nầy, sẽ có dịp nhớ lại nhiều chi tiết hơn và như thế mong quý thầy cô và các bạn tham gia đóng góp chi tiết chuyến đi với mình để bổ túc thêm bài cho phong phú và đầy đủ hơn nhé.

Vào thời gian những năm của hai thập niên 60 và 70, có rất nhiều tàu chiến Hải Quân thường ghé bến vào Hà Tiên chúng ta, tàu thường đậu ngay tại cầu tàu Quan Thuế ở bến sông của khu Đài Kỷ Niệm (Hà Tiên). Lúc ban đầu thì có chiếc tàu Hải Quân mang số hiệu HQ 607 ghé rất thường xuyên vào bến Hà Tiên, mình còn nhớ rất rỏ. Lúc đó theo mình biết những vị sĩ quan chỉ huy chiếc tàu nầy là bạn quen biết với thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Thành (lúc đó thầy Thành cũng là giáo sư dạy môn Lý Hóa của trường Trung Học Hà Tiên), nên các ông nầy có đề nghị với thầy Thành mời thầy cô và học sinh của trường đi chơi ngoài Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607.  May mắn thay thầy Nguyến Văn Thành cũng đồng ý và như vậy cả thầy cô trò trường Hà Tiên mình đều được đi chơi một chuyến trên chiếc tàu Hải Quân HQ 607 nầy.

Đó là vào ngày thứ sáu 20/06/1969, buổi sáng sớm cả thầy cô trò đều lần lượt đi xuống bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên)  chỗ tàu HQ 607 đậu để lên tàu bắt đầu ra khơi. Hòn Nghệ là một đảo nhỏ (diện tích khoảng chừng 3,8 km²) thuộc vùng biển Hà Tiên, Hòn Nghệ gần khu vực du lịch Hòn Phụ Tử hơn là đối với Hà Tiên, Hòn Nghệ chỉ cách Hòn Chông khoảng 15 cây số. Mình không còn nhớ thời gian tàu chạy từ bến tàu Quan Thuế ra tới Hòn Nghệ là bao nhiêu phút nhưng khi mọi người bắt đầu ổn định trên tàu và tàu nổ máy lướt sóng rồi thì các anh Hải Quân đủ mọi cấp bắt đầu tiếp xúc với học sinh của trường, nhất là mấy anh lo tiếp các cô nữ sinh rất hăng hái…Mình còn nhớ rỏ là khi đó các bạn gái như Nguyễn Nguyệt Hồng, Mai Thị Ngọc Minh, … được mời vào ngồi trên các cổ súng đại bác phía trước mũi tàu và các anh thủy thủ cho quay các cổ súng nầy qua lại, lên xuống…Ngược lại mình không còn nhớ trong lượt đi như vậy nhóm bạn nam của mình hoạt động gì trên tàu, Khi tàu chạy gần đến Hòn Nghệ thì dĩ nhiên là tàu không thể cập ngay vào đất liền mà đậu ngoài khơi và có tàu nhỏ của người dân trên hòn ra rước mọi người vào hòn. Cũng nhắc lại là hầu hết tất cả quý thầy cô và hầu hết các học sinh của toàn thể các lớp của trường Trung Học Hà Tiên lúc đó đều có tham dự vào chuyến đi chơi nầy, trong nhóm bạn nam của mình thì có: Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Tài, …v…v.., nhóm bạn nam của anh Trần Văn Dõng học trên mình một lớp thì có các bạn Lý Cảnh Tiên, Quách Ngọc Sơn, Lâm Hữu Quyền, Nguyễn Văn Tỹ, Khưu Thiên Phước,..v..v.., các đàn chị lớp trên nữa thì có chị Huỳnh Thị Kim, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu,…Còn các lớp sau mình thì cũng có các em Nguyễn Thị Điệp, Trần Thị Như Liên, Thái Thanh Niên,…v..v…
Hình như trong chuyến đi thì thời tiết có vẻ tốt, biển yên, mọi người lo vui chơi trên tàu nên không ai bị nôn mửa gì cả, mình còn nhớ có lúc mình thấy và chỉ cho các bạn xem, trên mặt bằng của tàu cũng có một đống tôm khô do các anh Hải Quân để ở đó để phơi khô…

Khi thầy cô, học trò và các vị trên tàu Hải Quân vào bờ bằng thuyền nhỏ của dân chở vào rồi thì các anh Hải Quân cho tập họp học sinh lại, sinh hoạt cách đi đứng trên hòn và nhóm mình thì theo một anh Hạ Sĩ Quan Hải Quân, mình còn nhớ tên anh là Phước (Trung Sĩ) , cả nhóm leo lên căn nhà sàn của dân gần đó và bắt đầu ăn tiết canh (mình còn hình dung rỏ trong đầu óc từng dỉa tiết canh màu đó, có điểm các cộng rau xanh…và có thêm vài đậu phọng đâm nát ra nữa…). Lúc đó mình vốn rất kén ăn nên không dám ăn tiết canh, chỉ ăn cháo thịt thôi, ngoài ra còn có rất nhiều món hải sản do người dân khoản đải…Dĩ nhiên là trong bữa tiệc ăn nầy cũng có rượu đế để mấy anh lai rai…

Một trong những kỷ niệm lúc nầy mình còn nhớ là sau khi ăn uống một lúc thì có tiếng ồn ào phía bờ biển, mọi người nhìn ra thì thấy một nhóm anh Hải Quân lo dìu bạn Quách Ngọc Sơn ra thuyền nhỏ để đưa Sơn trở lại lên tàu, vì lúc đó anh Sơn đã « quắc » rồi, nghe tiếng anh hơi cụ nự không muốn lên tàu nhưng cuối cùng thì cũng đưa được anh Sơn lên tàu HQ 607 để nghỉ mệt cho tan rượu.

Một kỷ niệm khác rất thú vị là sau khi ăn uống xong, nhóm mình cùng với anh Trung Sĩ Phước ngồi nói chuyện trước mái hiên nhà của dân, khi thấy chiếc nón kết màu xám có gắn « lon » của anh Phước để bên cạnh, mình vội lấy đội vào và tay thì cầm một cọng dừa dài như là cầm gươm và quỳ xuống giống như các sĩ quan làm lễ khi ra trường, thấy vậy anh Phước liền nói khoan khoan và anh cởi chiếc áo có gắn « lon » trên hai bên vai ra và kêu mình đổi áo với anh, mình liền cởi áo sơ mi trắng của mình ra và mặc chiếc áo màu xám có cầu vai của anh Phước đồng thời cũng còn đội luôn chiếc nón kết Hải Quân của anh, từ đó cho đến lúc lên tàu trở về mình vẫn còn mặc áo và đội kết như vậy…

Theo em Nguyễn Thị Điệp kể lại thì trong lúc mọi người hầu như « say » hết rồi thì mạnh ai nấy tìm một chỗ yên tỉnh để ngủ một giấc cho qua cơn say. Bạn Nguyễn Ngọc Thanh tìm được một chiếc võng dưới một gốc cây gần đó, và sau đó Thanh ngủ mê nhưng trên tay vẫn còn cầm điếu thuốc lá đang cháy…Vì thấy điếu thuốc lá đang cháy dần gần tới ngón tay của bạn Nguyễn Ngọc Thanh nên hai em gái Nguyễn Thị Điệp và Trần Thị Như Liên cố kêu anh để cho hay, nhưng kêu hoài mà Thanh ngủ mê quá không thức, nên cuối cùng Điệp và Như Liên nhặt một khúc cây gần đó và khìu cho điếu thuốc lọt khỏi ngón tay của bạn Thanh…, Điệp và Như Liên cười quá mà anh Thanh vẫn không hay biết gì cả…

Đến chiều thì tập họp điểm danh và chuẩn bị lên tàu lớn HQ 607 để ra về. Chuyến về nầy mới thật là gay go vì biển hình như có sóng to nhỏ,…Lúc trong chuyến về nầy thì mọi người có vẻ mệt và đã mất hết sự phấn khởi háo hức lúc ra đi…Mình còn nhớ là các bạn học sinh nam nữ ai nấy đều bị nôn mửa hết, thức ăn đều bị trả lại hết trên sàn tàu của mấy anh Hải Quân, mình còn thấy rỏ, các thức ăn, đều bị tháo ra hết và mọi người đều mửa ra ngay tại trên sàn tàu…mình cũng bị chóng mặt và rất khó chịu, không còn nhớ là mình có bị mửa không …Nghĩ lại thật tội nghiệp các anh Hải Quân, khi xong xuôi chuyến nầy, các anh phải dội nước rửa sàn tàu cho sạch vì chỗ nào trên sàn tàu cũng bị ướt do các chất liệu nhớt nháo…Tuy nhiên cũng có một kỷ niệm vui nữa mà mình còn nhớ trong chuyến về nầy, đó là lúc tàu vừa chạy được một lúc, tinh thần còn sáng khoái chưa bị chóng mặt, mình ra bên hông tàu nhìn sóng biển, lúc đó có chị Nguyễn Thị Thu đứng gần đó cũng ngắm sóng biển, (chị Thu là chị của bạn Nguyễn Quốc Tân, Nguyễn Thị Thủy, em của chị Nguyệt, chị Thu ngày xưa nỗi tiếng là học rất giỏi, con của Ông Ngữ nhà ở đường ra Mũi Nai, phía giữa hai con đường Lam Sơn và Chi Lăng), chị Thu nhìn thấy mình mặc áo Hạ Sĩ Quan có gắn lon hai bên vai và lại đội nón kết nên chị cười nói là mặc áo đẹp và giống như thật vậy…Sau đó mình tìm anh Trung Sĩ Phước để trao đổi áo lại, khi anh Phước đưa chiếc áo sơ mi trắng lại cho mình, anh cũng có nói sao đi chơi ngoài hòn mà mặc áo trắng dễ bị dơ lắm….

Theo lời em Thái Thanh Niên (Thái Thanh Liên) kể lại thì Thanh Niên cũng có tham dự chuyến đi chơi nầy nhưng khi xuống tàu về bị say sóng, ói mửa quá nên vào giường sắt cá nhân của mấy anh Hải Quân nằm nghỉ nên không còn nhớ gì nữa cả…Còn khi lên Hòn Nghệ chơi thì thấy nước biển trong và có nhiều con đỉa quá nên rất sợ muốn khóc luôn, bây giờ nhớ lại còn sợ…!!

Theo lời em Hà Quốc Hòa (em Hòa là con của chú Bảy Kế làm việc ở Chi Thông Tin Hà Tiên ngày xưa, nhớ hồi xưa mỗi lần chú Bảy Kế chạy chiếc xe lam ba bánh ngang nhà mà trên mui có gắn theo hai cây căng vải trắng thì rất mừng vì biết là tối hôm đó có chiếu bóng ngoài trời…), em Hòa kể lại là cũng có tham dự vào chuyến đi chơi Hòn Nghệ nầy, Hòa kể là khi tàu rước gần tới đảo thì mấy người bạn biết lội nhảy xuống biển để lội vào bờ, em Nguyễn Thị Kim Liễu cũng nhảy theo nhưng lại không biết lội nên nhờ có các anh vớt lên tàu lại,…tuy nhiên Hòa nói là không biết có nhớ đúng không vì lâu quá rồi nhớ không rỏ…

Khi tàu Hải Quân HQ 607 cặp bến Quan Thuế trước Đài Kỷ Niệm Hà Tiên thì mọi người lần lượt lên bờ đi bộ lai rai về nhà, mình cũng còn nhớ ra lúc đó, trời Hà Tiên lúc đó cũng còn nắng chiều màu vàng hơi nhợt nhạt, đi chơi thì rất vui nhưng khi ai về nhà nấy rồi thì nghĩ lại thấy rất buồn…

Viết thêm về số phận của chiếc tàu HQ 607

Tiền thân của chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu USN PGM 61 (USN: United States Navy; PGM: Patrol Gunboat Motor), được chế ra do hảng J. M. Martinac Shipbuilding Corp, tại thành phố Tacoma thuộc tiểu bang Washington. Sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ giao lại cho Hải Quân Việt Nam (trước 1975) ngày 09/04/1963 và được mang tên mới là Tuần Duyên Hạm HQ 607 Nam Du (lấy tên của hòn đảo Nam Du trong khu vịnh Hà Tiên, tên xưa là Poulo Dama). Đây là một trong 20 chiếc Tuần Duyên Hạm được đánh số từ HQ 600 đến HQ 619. Chiếc tàu HQ 607 là chiếc tàu Hải Quân thường xuyên cập bến cầu tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) trong những năm 60-70. Có một năm ngay mùa Giáng Sinh, người ta có tổ chức quay thịt bò ngay tại bến tàu Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm Hà Tiên) và tổ chức ăn tiệc rất lớn trên chiếc tàu HQ 607 nầy. Theo mình sưu tầm thì có các vị sĩ quan từng phục vụ trên chiếc tài HQ 607 nầy: Đệ Nhất Bảo Bình Lê Văn Quí, Thiếu Úy Nguyễn Hồng Quang, Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, năm 1974 Hạm Phó tàu HQ 607 là Nguyễn Lê Đại. Theo ý kiến của anh Vương Bình Thành (anh của bạn Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc ở Hà Tiên ngày xưa) thì vào năm 1974 hạm trưởng chiếc HQ 607 là HQ Đại Úy Trần Vỉnh Trung (khoá 15 Nha Trang) và hạm phó là HQ Trung Úy Nguyển Lê Đại (khoá 6 / 69 Thủ Đức,  khoá 1 ĐB Nha Trang). Trước ngày 30/04/1975, chiếc tàu HQ 607 đã bị hư hại, không còn sử dụng được nữa nên đã neo lại ngay Ụ nổi 9600 tại bến tàu của Hải Quân Cơ Xưởng tại Sài Gòn.

Tóm lại cuộc đời Việt Nam của chiếc tàu HQ 607 là  từ 04/1963 đến 05/1975. Riêng thầy cô và học sinh của trường Trung Học Hà Tiên cũng có dịp được du hành ngoài biển khơi trên chiếc tàu HQ 607 nầy, và một điều may mắn nữa là anh Trần Văn Dõng vẫn còn giữ lại một tấm hình chụp ngay trong chuyến đi nầy, ngay trước mũi tàu HQ 607. Khi viết những dòng cuối bài nầy, mình cũng rất ngậm ngùi cho số phận của con tàu quen thuộc đối với người dân Hà Tiên nầy.

Trần Văn Mãnh, Paris 28/09/2019

Bức hình duy nhất chụp trong chuyến đi Hòn Nghệ bằng tàu Hải Quân HQ 607 của thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên ngày 20/06/1969. Từ trái sang phải: Khưu Thiên Phước, Trần Văn Dõng, Nguyễn Văn Tỹ và anh Lâm Bình Chư. (Hình: Trần Văn Dõng)

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Mike Green

Hình ảnh thật sự của chiếc tàu HQ 607 Nam Du mà thầy cô trò trường Trung Học Hà Tiên đã có dịp đi trên chiếc tàu nầy vào ngày 20/06/1969. Hình: nguồn Phùng Học Thông

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Ảnh chiếc tàu USN PGM 61, (tiền thân của chiếc HQ 607 Nam Du), đây là chiếc tàu của Hải Quân Hoa Kỳ được đóng vào tháng 01/1963 trước khi giao cho Hải Quân Việt Nam để trở thành chiếc tàu HQ 607 Nam Du.

Vị trí sơ đồ của Hòn Nghệ so với thành phố Hà Tiên (từ Hòn Nghệ đến khu Hòn Phụ Tử khoảng cách là 15 km)

Hình thể và diện tích của Hòn Nghệ

Tái bút 1: Anh Vương Bình Thành (bậc đàn anh, người Hà Tiên và là anh của Vương Bình Phước và Vương Đình Lộc) có cho biết thêm quá trình tàu chiến Hải Quân ghé bến Hà Tiên như sau:

Chiếc chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên (khoảng năm 1960 – 61) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330 do Hải Quân Trung Úy Phạm Gia Luật làm hạm trưởng (sau này là Đại Tá tư lệnh HQ vùng 4 Duyên Hải), vì lúc đó là chiến hạm đầu tiên vào Hà Tiên nên dân chúng Hà Tiên đổ xô ra cầu tàu Quan Thuế  xem rất đông và mấy ông SQHQ lúc đó lên bờ dạo phố và tán tỉnh mấy người đẹp Hà Tiên quá xá……

Chiếc tàu Hải Quân đầu tiên cập bến Quan Thuế (Đài Kỷ Niệm, Hà Tiên) là chiếc Giang Pháo Hạm Lôi Công HQ 330, tên cũ là USS LSIL 699. Hạ thủy ngày 21 tháng 6 năm 1944. (USS: United States Ship; LSIL: Landing Ship Infantry Large)

Tái bút 2: Bạn Trương Thanh Hùng (hoc sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lâm Thị Lan, Hồ Thị Kim Hoàn,…) sau khi đọc bài có góp ý bổ túc như sau:  » Chuyến đi đó tôi có đi. Những kỷ niệm cũng như anh Mãnh đã nói. Riêng tôi ỷ mình biết lội nên nhảy xuống biển lội vào bờ, tưởng gần mà lội muốn hụt hơi. Nhóm của tôi đến một miệng hang chun vào. Mọi người cũng khá ngại vì nghe nói gần đó có cá mập. Nhóm của tôi được các anh lính Hải Quân cho ăn tôm nhúng vào nước dừa tươi quá ngon. Trên chuyến về anh chị em ói la liệt. Một số chị em vào cả phòng riêng của thuyền trưởng ói. Suốt ngày tắm biển, tối về làm biếng không tắm lại mà đi ngủ nực kinh khủng. Còn vài chuyện riêng không dám nói ở đây… »

Tái bút 3: Bạn Nguyễn Thị Điệp (học sinh trường Trung Học Hà Tiên ngày xưa, bạn cùng lớp với Lê Phước Dương, Trang Việt Thánh, Trần Tuấn Kiệt, Trần Thị Như Liên,…) sau khi đọc bài có nhắc thêm chi tiết nầy: Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá người từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, cũng là người con rể của đất Hà Tiên, Thiếu Tá Bá chính là phu quân của dì Tuyết Nga, dì Nga chính là dì của các bạn học của mình: Trần Anh Kiệt, Trần Tấn Công, Trần Thị Như Liên, Trần Thị Yến Vân…dì Nga là em của dì Cần (má của Kiệt) và dì Mẫn (má của Công). Nhà dì Tuyết Nga ngày xưa là tiệm may y phục phụ nữ ở góc đường Phương Thành và Chi Lăng. Thiếu Tá Bá cùng gia đình định cư ở nước Úc và đã mất ngày 24-04-2019 vừa qua.

Thiếu tá Nguyễn Phú Bá, hạm trưởng chiếc tàu HQ 607, có đeo huy hiệu hạm trưởng bên ngực phải. (Hình: anh Châu Lợi, HQ)

Thiếu Tá Nguyễn Phú Bá, từng làm hạm trưởng chiếc tàu HQ 607. (Hình: NTĐ)

Tái bút 4: Theo lời của anh Trần Đỗ Cẩm, cựu sĩ quan Hải Quân cùng khóa với thiếu tá Nguyễn Phú Bá, anh Cẩm vẫn đang tìm kiếm tung tích chiếc tàu HQ 607. Tin tức sơ khởi cho biết chiến hạm này KHÔNG DI TẢN qua Phi Luật Tân vì lúc đó đang đại kỳ tức là phải lên ụ để tân trang toàn diện. Hạm Trưởng cuối cùng là HQ Thiếu Tá Trần Văn Dùng khóa 16 SQHQ/Nha Trang. Có người cho biết vào năm 1990 có gặp ông Trần Văn Dùng tại VN. Anh Trần Đỗ Cẩm vẫn đang tiếp tục tìm hiểu thêm chi tiết.

 

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau một mùa hè dài và với ánh nắng đẹp ấm, trang báo « Trung Học Hà Tiên Xưa » của chúng ta cũng lay mình chuyển động, hoạt động lại với một bài viết của một cây bút quen thuộc, bạn Trương Thanh Hùng,…Bạn Trương Thanh Hùng nhân một dịp về thăm Hà Tiên, trò chuyện cũng bạn cùng người quen ngày xưa, và chợt nhớ đến Trung Thu ngày xưa ở Hà Tiên, mà nhất là nếu mình vẫn còn ngày hai buổi đến trường thì vui tết Trung Thu rất là thú vị, thú vị vì sẽ có dịp làm một chiếc lồng đèn thật đẹp, tối đi « cộ đèn » cùng cả lớp học, và cả các lớp bạn cùng truòng rất vui, ….Đọc qua bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, và ngay cả trước đây một vài ngày, khi thấy trăng xứ người đã bắt đầu tròn tròn, mình chạnh lòng nhớ đến quê hương Hà Tiên, nhớ những năm vui chơi tết Trung Thu…Hồi xưa mình rất thường và rất thích mua báo viết cho tuổi trẻ đọc, nhất là các tờ báo như: « Thằng Bờm », Măng Non »,…Mỗi lần có một dịp đặc biệt như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu,…đều có ra các số đặc biệt, có rất nhiều bài vở hình ảnh về chủ đề rất hay…Dĩ nhiên khi đến tết Trung Thu thì vài ngày trước đó đã có báo ra số đặc biệt Trung Thu, rồi vài ngày trước khi đến Trung Thu, ai ai cũng nhộn nhịp lo làm lồng đèn để tham gia vào buổi rước đèn (hồi xưa gọi là « cộ đèn » như bạn Trương Thanh Hùng đã viết)…Mình còn nhớ rất rỏ có một năm Trung Thu nào đó, mình có sáng tác một đoản bút ngắn về đề tài Trung Thu, dĩ nhiên là trong đoản bút đó có hai nhân vật có thật, còn câu chuyện thì chỉ là tưởng tượng, phóng tác…Lúc đó ở Chi Thông Tin Hà Tiên có cô Chín Triệu làm việc và cô thường phụ trách nhận bài vở thơ văn để chọn đăng vào một tờ báo (tờ báo chỉ in theo thể thức quay « ronéo » thời đó), mình không còn nhớ rỏ tên của tờ báo là gì, bạn nào còn nhớ xin nhắc lại dùm nhé,…Mình viết xong bài và gởi lên cho Cô Chín Triệu xem và bài của mình được chọn đăng trong tờ báo văn nghệ của Chi Thông Tin đợt đó…Nội dung của câu chuyện trong bài đoản bút của mình đại khái là có một nhân vật (chính là tại hạ…) lúc đó đang học bậc Trung Học, vào đêm « cộ đèn » Trung Thu, các học sinh lớn của bậc Trung Học thì đí tiếp  giúp các em học sinh Tiểu Học để đốt đèn cho các em và xem chừng đèn các em có bị cháy hay không, có một nhân vật « em gái » của bậc Tiểu Học mà mình chăm lo đốt đèn cho và xem chừng cho em đi cộ đèn được an toàn,…đại khái câu chuyện là như vậy, dĩ nhiên là chỉ phóng tác cho câu chuyện thêm phần lãng mạn, nhưng hai nhân vật ở bậc Trung Học và Tiểu học là có thật ngoài đời, mình ghép vào câu chuyện để được dịp bày tỏ ý nghĩ của mình,…Thầy cô và các bạn cũng đừng thắc mắc hỏi nhân vật nữ là ai nhé, lâu quá mình chắc cũng « quên » rồi,…Chỉ có điều rất tiếc là tờ báo quay ronéo do Chi Thông Tin phát hành ngày xưa đó nay không còn nữa, mình đã giữ nó qua bao nhiêu năm tháng, nhưng tờ báo đã mất đi từ lúc nào mình cũng không biết,..rất tiếc, vì nếu còn tờ báo mình sẽ đăng lại bài viết năm xưa về chủ đề Trung Thu đó cho thầy cô và các bạn xem, lúc đó chắc thầy cô và các bạn sẽ đoán ra các nhân vật trong chuyện là ai;…Bây giờ có bài viết của bạn Trương Thanh Hùng, mình đọc qua mà thấy rất bùi ngùi nhớ lại chuyện xưa, nhớ những đêm Trung Thu năm nầy qua năm nọ, lòng rất nhớ quê hương Hà Tiên, và dĩ nhiên cũng cảm thấy « nhớ » một tí người em gái trong câu chuyện …(Paris 15/09/2019, TVM viết vài hàng giới thiệu)

Nhớ Trung Thu xưa ở Hà Tiên (Trương Thanh Hùng)

Mấy hôm trước về Hà Tiên có việc, đến thăm chị Ngọc Lê bạn học ngày xưa hiện đang bán quán cà phê vĩa hè ở đầu đường Phương Thành, ngồi uống cà phê nhắc chuyện xưa, cùng ngồi có người em của bạn, em trai này cũng đã gần đến tuổi hưu mà lại gọi mình bằng thầy, hỏi ra mới biết lúc mình làm hiệu trưởng trường Tiểu Học Hà Tiên (1976), em mới học lớp 5, vậy gọi bằng thầy cũng đúng. Nhắc chuyện đời xưa một lúc, nhớ lại đã gần đến Trung Thu, em nói rằng có một kỷ niệm vào Trung Thu năm xưa mà bây giờ không thể nào có được. Tôi hỏi đó là gì? Em bảo đó là học sinh rước đuốc đêm Trung Thu ở thị trấn Hà Tiên. Tự nhiên ký ức dội về làm mình cũng xuyến xao.

Không biết từ lúc nào, Hà Tiên của chúng ta có tục “Cộ đèn”, khi tôi còn rất trẻ chính quyền quận Hà Tiên có tổ chức thi đèn Trung Thu cho các em học sinh Tiểu Học. Thời ấy (vào khoảng đầu thập niên 70 của thế kỷ trước), phần lớn học sinh Tiểu Học được phụ huynh làm đèn lồng để chơi Trung Thu, dễ làm nhất là đèn ngôi sao, do đó trong cuộc “cộ đèn” hầu hết là đèn ngôi sao, một số người khéo tay làm cho con em mình đèn con cá, chiếc tàu, bươm bướm hay là kết tua xung quanh ngôi sao cho đẹp. Tôi cũng làm cho em trai tôi chiếc lồng đèn hình chiếc tàu không đến nỗi xấu làm cho nó rất thích. Khung lồng đèn được kết bằng tre, phất bên ngoài là “giấy kẹo” hay “giấy kiếng”, giấy kẹo rẻ nhưng đục nên không hay lắm, phải phất giấy kiếng coi mới sang.

Trước Trung Thu mấy ngày, trẻ em đốt lồng đèn kéo nhau ra đường chơi cũng thú lắm, đến đêm Trung Thu, thầy cô trường Tiểu Học tập hợp học sinh lớp mình, phát một ít kẹo bánh và mang lồng đèn rồng rắn gọi là cộ đèn ra trước khách sạn Đại Tân (bến bắc), rồi ban tổ chức chấm thi, trao giải, tôi không nhớ đèn của ai được giải. Theo em của chị Lê thì có lẽ là đèn của con thầy Hà Văn Thanh (ông giáo Ngọt) vì thầy rất khéo tay. Sau đó các em rồng rắn kéo nhau đi các ngã đường rất vui.

Hình minh họa chiếc lồng đèn trong đêm Trung Thu

Đến sau năm 1975, tình hình đất nước khá khó khăn, việc làm đèn Trung Thu cho các em chơi không được nhiều, trẻ em sáng tạo lấy lon sữa bò cắt xung quanh rồi bung ra, gắn đèn cầy chính giữa. Phía dưới cũng là cái lon sữa bò đục lổ, xỏ cọng dây chì ngang, bẻ một đầu lên để gắn lon đèn cầy, phía bên này thì cũng bẻ ngang để nối vào một đoạn tre cầm đẩy đi trên mặt đường, khi đẩy, cái lon phía trên quay tròn tròn, ánh đèn phía trong chớp chớp cũng vui mắt. Nhưng loại đèn xe này chỉ để chơi trong những đêm trước Trung Thu. Còn đêm Trung Thu thì nhà trường tổ chức cho học sinh lấy tre làm đuốc, nhà trường được chính quyền phân phối cho một số dầu lửa để rót vào đuốc của các em.

Tối Trung Thu, học sinh Tiểu Học tập hợp ở trường, được phát một ít bánh kẹo, rót dầu vào đuốc, đến đúng giờ, tất cả các cây đuốc cháy sáng lên rồi kéo ra đường đi vòng vòng nội ô thị trấn. Bây giờ không thể gọi là cộ đèn hay rước đèn được mà phải gọi là rước đuốc. Một dòng đuốc kéo dài, sáng rực đi trên đường như một con rồng lửa uốn lượn hết sức vui mắt. Các em học sinh cũng vui không kém gì chuyện cộ đèn những năm trước đó.

Thế hệ học sinh được tham gia rước đuốc nay cũng đã trên 50, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đời sống đã khá giả, đến Trung Thu thì ra tiệm mua lồng đèn đủ hình dạng dùng pin, đèn điện, lại có phát ra tiếng nhạc rất hay, nhưng có lẽ chuyện cộ đèn, rước đuốc năm xưa vẫn là hình ảnh, kỷ niệm đẹp trong đời các em.

Nhắc lại chuyện xưa để người Hà Tiên thêm yêu quê hương Hà Tiên xinh đẹp của mình.

Tác giả: Trương Thanh Hùng  (15/09/2019)

Tái bút: Anh Trần Văn Dõng (cựu học sinh Trung Học Hà Tiên) sau khi đọc bài viết trên có bổ túc nhiều chi tiết rất hay sau đây:

Theo trí nhớ còm cỏi của mình thì có một Trung Thu nào đó (dĩ nhiên là trước 1975), Hà Tiên có tổ chức cộ đèn và thi chấm lồng đèn nào đẹp. Mình và Mãnh làm cho Phi, (em thứ tư), một lồng đèn hình bản đồ Việt Nam dán giấy kiếng 2 màu, nữa trên màu đỏ, nữa dưới mầu vàng, có khung bằng dây kẻm cọng to, vì dây kẻm thì mới dễ uốn cong cong theo hình bản đồ hơn là khung tre. Sau khi cộ đèn vòng vòng phố xá Hà Tiên thì tập trung về sắp hàng trước khách sạn Đại Tân để quan khách xuống xem và chấm điểm (đêm đó quận tổ chức tiệc trên sân thượng khách sạn cho quý vị chức sắc Hà Tiên dự, đón trăng). Cuối cùng lồng đèn hình bản đồ Viêt Nam của em mình được giải khuyến khích (nhớ mại mại được thưởng 100 đồng). Nhớ lại thuở đó vui quá, mà điều lạ là lúc đó các em cháu chỉ thích lồng đèn tự làm hơn là mua ngoài chợ, cho dù lồng đèn mua có đẹp sắc sảo cũng không so với cái tự làm, nên hồi đó cha mẹ học sinh hay làm cho con em mình lồng đèn để chơi nếu khéo tay và có thời gian. Ôi, ngày xưa !

Còn điều này nữa, theo trí nhớ , thì cộ đèn chỉ dành cho học sinh Tiểu Học, còn học sinh Trung Học thì đi theo để giúp các em đốt lại đèn cầy nếu bị gió thổi tắt hoặc giữ cho các em được trật tự khỏi chen lấn, nên mình và Mãnh lúc đó học Trung Học, làm lồng đèn cho đứa em thứ tư tên Phi đang học Tiểu Học, đi cộ và thi lồng đèn.

Nhớ tới đâu viết thêm tới đó:
Còn điều này nữa nè, năm nào cộ đèn cũng có trường Tàu (trường Hoa Liên) tham gia nhưng điều đặt biệt là trường chỉ làm một cái lồng đèn đại diện rất to và đẹp (ví dụ hình quả địa cầu có con chim bồ câu đậu phía trên…), còn hầu hết các em học sinh thì cầm lồng đèn xếp bằng giấy màu (tự làm). Lồng đèn này hình khối vuông có sáu mặt ( trên dưới, trước sau, phải trái), mỗi mặt sau khi xếp xong kéo bung ra giống một đóa hoa (cẩm tú cầu?) rất đẹp. Lúc đó mình cũng biết xếp loại lồng đèn này, bây giờ có xếp chắc giống… trái sầu riêng hơn là đóa hoa…! He he, già rồi mà!

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

Thầy cô và các bạn thân mến, bất cứ ai trong chúng ta có đi học xa nhà đều biết cái cảnh đời học sinh ở trọ, tự nấu ăn, tự giặt giũ quần áo, cực nhọc như thế nào rồi…Chính bản thân mình cũng có nhiều năm đi học ở Cần Thơ, mỗi lần về Hà Tiên thăm nhà, được nhà cho ăn uống no nê để bù lại những ngày tháng kham khổ khi xa nhà…rồi sau khi trở lại trường học, ở nhà còn chuẩn bị cho đem theo hai lon cá kho rim (còn gọi là cá kho đường, còn cái lon là kiểu lon sữa bột guigoz thời đó), mỗi lần được cá kho rim như vậy rất là đở, ăn cũng được vài ngày khỏi mất công làm thức ăn. Rồi cũng có nhiều ngày đã có gạo, có cá khô do ở nhà mang đi, nước mắm cũng có, nhưng lại thiếu …dầu lửa để đốt lò nấu cơm!!, phải cử một tay ăn nói ngoại giao tốt để đứng ra nói chuyện mượn tiền bà chủ nhà trọ để mua dầu lửa……Tuy nhiên so với câu chuyện của tác giả Quang Nguyên kể ra đây, thì sự khó nhọc, thiếu thốn thời trước của học sinh đi học xa nhà không thể so sánh được với thời giặc giã của những năm 80 …Thật vậy, còn gì kham khổ, thiếu thốn cho bằng cảnh sống tắm nước phèn, giặt quần áo bằng nước phèn, nấu nướng gạo thóc cũng phải bằng nước phèn…chua (chỉ có khi nấu canh chua thì khỏi tốn me và chanh vì nước phèn vốn đã chua rồi…). Còn việc ngủ thì kê bàn tạm làm mặt bằng để ngủ, có đâu giường cao nệm ấm như như người ta…!! Đó là tác giả đã kể giai đoạn đi học xa nhà, vì tình cảnh chiến tranh, trường học ở Hà Tiên phải di tản xuống Kiên Lương một vài niên khóa…Rồi đến lúc tạm yên, thầy trò háo hức kéo về Hà Tiên làm lại « cuộc đời »…,mà có phải được yên ổn như giòng nước sông Giang Thành êm ả trôi dưới bóng ngọn núi Tô Châu đâu, khi tới nhận trường lớp của điểm ở đường Mạc Tử Hoàng thì trường đâu, lóp đâu ?? Tất cả đều bị tàn phá, vùi dập, trường thì không còn nóc, lớp thì không còn sàn gạch, bàn ghế,…,ngôi trường thân yêu ngày trước chỉ còn là một khu rừng lau sậy, cỏ hoang trộn lẩn với những gì ô uế, dơ dáy nhất…..

Với một quyết tâm mạnh mẻ và nhiệt tình của niềm vui tìm lại được trường lớp cũ mặc dù phải trả một giá rất đắt để dọn dẹp, xây dựng lại, thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên đã không ngần ngại lao đầu vào công cuộc kiến tạo lại ngôi trường cho tốt đẹp và sach sẽ, nhưng vẫn chỉ với một phương tiện rất eo hẹp, tự mình lo, tự mình giải quyết…Thật sự đó là một thành quả rất cao lớn mà những thế hệ học sinh ngày trước trong đó có mình, phải nghiêng mình cảm kích và mang ơn rất nhiều thầy cô và học trò thời giặc giã trong đó có tác giả Quang Nguyên đã sống qua và đã đương đầu, tiếp nhận, cải thiện lại tốt đẹp cho ngôi trường mà chính mình nhiều năm về trước đã từng theo học và vui chơi ở đó…

Lúc nào mình cũng có ý nghĩ là rất cảm phục, cảm kích và rất tôn trọng những người đã lựa chọn (hay không lựa chọn) để ở lại và sống ngay trên mảnh đất Hà Tiên nói riêng và Việt Nam nói chung trong những năm tháng khó khăn của những thập niên 80-90..Chính thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên trong thời giặc giã đó đã là một cái gương sáng ngời cho tính chất chịu đựng khó khăn, gian khổ, lúc nào cũng đầy đủ nghị lực và can đảm để chống chỏi với mọi thứ thiếu thốn, để tiếp tục duy trì sứ mạng giáo dục của người thầy cô và sứ mạng học tập của người học trò…Theo mình nghĩ, đó mới chính là những chiến sĩ không phải trong một cuộc chiến tranh mà là những chiến sĩ đáng cảm phục trong một cuộc phấn đấu với đời sống, đáng cảm phục hơn khi ta thấy không những phải chịu đụng mọi thứ thiếu thốn, khó khăn mà còn có khi phải hy sinh cả tánh mạng của mình để làm tròn công cuộc dạy học (trường hợp cô Phan Thị Tuyết Mai và người con nhỏ đều bị pháo kích chết ngay trong trường Trung Học Hà Tiên nầy, và chồng cô là thầy Trương Tự Cường thì bị thương nhưng thoát chết…). Có thể nói thầy cô và học trò trường Trung Học Hà Tiên thời giặc giã nầy là những tấm gương chiếu sáng cho những thế hệ tiếp theo sau nầy, đã được theo học trong những căn lớp học sách sẽ, sáng đẹp, ngăn nắp và trong một ngôi trường khang trang, đồ sộ đầy đủ vật chất…Một lần nữa thay mặt « Blog Trung Học Hà Tiên Xưa », mình xin bày tỏ đến quý thầy cô và các bạn, các em học trò của thời giặc giã đó tấm lòng biết ơn và cảm nghĩ tốt đẹp về thế hệ thầy cô trò của một thời khó khăn đó…

Ngày nay, quý thầy cô chắc đã về nghỉ hưu, học trò chắc đã thành tài nhiều và có được một tương lai xứng đáng với sự hy sinh của những năm xưa, âu đó cũng là một phần thưởng đúng đắn mà quý thầy cô và học trò đều có quyền nhận lảnh, thân chúc tất cả một sức khỏe dồi dào và một tinh thần sắc thép như ngày nào…

(TVM viết lời giới thiệu, Paris 05/05/2019) 

Trung Học Hà Tiên thời giặc giã và chuyện ký túc xá (Quang Nguyên)

A . Ký Túc Xá Lung Kh’Na.

(các anh chị và các thầy cô một thời ở đây, có kỷ niệm gì xin bổ sung thêm…)

Đó là niên học 1980-1981, khi điểm trường Rạch Núi xã Thuận Yên đã “tột đỉnh la-phông” có đến cấp lớp 9,  vì cũng “nhờ” giặc giã chứ các năm trước đó trường này không có, vậy thì lên lớp 10 học trò Trung Học Hà Tiên sẽ học ở đâu? May thay trước đó vài năm các lứa đàn anh đàn chị (như lớp anh Nguyễn Hữu Tâm, Lê Quang Cát…) và các thầy cô đã kịp dựng một ngôi trường Trung học sơ tán của Hà Tiên cho cấp ba tận bên Kiên Lương, ngôi trường Trung học đường Mạc Tử Hoàng hoàn toàn bỏ trống, và học trò các lớp lớn như 10-11-12 qua Kiên Lương học trong ngôi trường này cho dù không có bao nhiêu học sinh và thầy cô.

Trường sơ tán rất tuềnh toàng đơn sơ, được dựng bằng cây tràm và lá dừa nước trông như những lán trại quân đội, chỉ gồm hai dãy nhà lá vuông góc nhau, một dãy phòng học gồm ba phòng, liền dãy là các phòng của giáo viên, và thêm một nhà bếp với cái phòng gọi là “Ký túc xá” cho mấy tên học trò Hà Tiên qua học. Trường của chúng tôi sâu ở trong đồng trống, chung quanh toàn cỏ năng xanh mướt với nước phèn trong vắt mà chua lét, nơi đó có tên gọi theo tiếng địa phương là Lung Kh’Na. Bên tay phải của trường từ trong nhìn ra lộ 80 (mà thật ra hắn xa tắp ngoài kia) là một con kênh đào thật sâu rộng, nước mát lạnh cũng trong vắt và chua chát vì phèn… Ngày nào cũng vậy, mùa nào cũng vậy, xuân hạ thu đông cứ mỗi chiều thầy trò đá banh xong là nhảy ào xuống bơi thỏa thích, con kênh này cũng có cá tuy không nhiều lắm nhưng thỉnh thoảng chịu kiên nhẫn câu và gặp thời gặp vận thì cũng được vài con cá rô nhí, đó là câu có mồi mà mồi ngon như trứng kiến vàng, là câu cá cải thiện bữa ăn đói kém chứ không phải như Khương Tử Nha ôm cần câu mà mộng mị với Chu Vương…

Năm học của chúng tôi có các thầy Nguyễn Văn Hùng lịch lãm dạy Toán, thầy Bùi Đăng Trường khó tính dạy Văn, thầy Mai già xuề xòa người Thái Bình luôn xem học trò như con cháu, thầy Quang dạy Sinh Vật có mái tóc xoăn rối nùi hay khôi hài cùng tướng đi “lạch bạch”, thầy Em dạy Văn tóc cũng xoăn như uốn ép, tuy nhiên tóc thầy “dợn sóng” như thế đó là tự nhiên, thầy Em rất hay đàn hát dù giọng thầy khàn đục… Chúng tôi vào học được vài hôm thì có thầy mới về là thầy Phan Văn Báu, thầy Báu dạy Toán, rất đẹp trai cao to và cũng hay hát, tuy nhiên nhạc của thầy hát “khác hệ” với các thầy miền Nam, thầy xuất hiện ở trường làm các trái tim bao nàng nữ sinh tan chảy, may thay lúc ấy thầy đã có người yêu đang ở phương xa, và đã là người vợ của thầy cho đến sau này…. Cùng lượt có thầy Linh thân hình như lực sĩ, chạy “nâng cao đùi” đẹp như những chú nai phóng xoãi, và thầy cũng rất đẹp trai, không hề có “con nai” nào trong tính cách của thầy, và chẳng có “mắt nai” nào lọt vào đôi mắt “cáo” của thầy, thầy còn rất trẻ nhưng không dễ “sập bẫy” của bọn nữ sinh trung học vừa quỷ vừa ma này. Đương nhiên thầy chẳng thể dạy môn gì khác với thân hình “bốc lửa” và khả năng điền kinh như thế – dứt khoát thầy chỉ có thể dạy Thể Dục!

Đặc biệt, còn một người thầy rất ấn tượng với chúng lôi là thầy Lê Văn Trợ, thầy Trợ dạy Địa Lý, thầy có nét chữ rất đẹp bay bướm và vẽ bản đồ nhanh như chớp, thầy sống nguyên tắc, không rượu chè (hồi đó không có bia, và nếu có – tôi tin chắc thầy cũng không màng), thầy không hút thuốc lá, thầy không đùa giỡn, và đương nhiên thầy cũng buộc học trò vào những “khuôn phép” đó. Mờ sáng nào cũng vậy, khi chúng tôi còn đang khò khò yên giấc thì những tiếng bước chân nhỏ nhẻ của thầy nhưng giữa đồng trống tĩnh lặng cũng đủ làm chúng tôi tỉnh giấc, thầy đi bộ? Ừ! Thì đi bộ có chi lạ? Nhưng phải lạ thì tôi mới nói chứ? Cái phong cách sống chuẩn mực của thầy nó “ám” vào cả những bước chân thoăn thoắt nhanh nhẹn mà nhẹ nhàng của thầy, nó vẽ một lối mòn trên cỏ hình tròn vành vạnh và sắc nét như compa vẽ đường tròn đồng tâm vành khuyên với bán kính cách nhau 30 cm, đường vành khuyên đó có đường kính chừng 15 mét trước sân của nhà bếp, vòng tròn đó nó “tuyệt đối” hơn quả đất mà thầy đang dạy cho chúng tôi, và có lẽ nó “tròn” như tính cách của thầy…

Thầy thì đông mà cô thì ít, tôi nhớ cô Cầm dạy Hóa Học, cô Điệp dạy Sinh Vật (tôi không nhớ chắc lắm việc cô Điệp có nơi đây), cô Tám làm văn thư… Các cô nơi đây đương nhiên được các thầy yêu chìu và đỡ đần trong mọi công việc, bởi các cô như “hoa lạc giữa rừng gươm”!

(Nếu các thầy cô có đọc được bài này thì xin đừng phiền muộn, bởi ngày các thầy còn đi học các thầy cũng từng “soi’ các thầy cô mà? Em biết, vì em đã là học sinh, rồi cũng từng là thầy giáo!)

Ký túc xá nhà lá chúng tôi có tổng cộng mười ba người, gồm mười hai nam và một nữ ở ba cấp lớp: anh Mạc Thanh Tòng, chị Mạc Kim Phượng (em anh Tòng), anh Quý, anh Phan học lớp 12, Huỳnh Ngọc Hạnh và Mai Thanh Xuân học lớp 11, học sinh lớp 10 thì có Quang, Nguyên, Ngọc Phúc (em của Hạnh), Thoại Oanh (em anh Tòng và chị Phượng), Đoàn Văn Hiển, Cao Văn Liễu, và Lý Văn Đực (vì tên bạn này tỏ rõ một cách lộ liễu cái khí chất nam nhi quá, nên để “lành” hơn sau này bạn đổi tên là Lý Văn Thành).

Do có một nữ nên các thầy bố trí thêm một cái phòng nhỏ riêng cho chị Phượng. Phòng không có giường, chúng tôi phải xếp cả chục cái bàn lại thành một mặt bằng rộng lớn để đêm đêm giăng mùng mà ngủ vì muỗi to như con bò mộng Tây Ban Nha và đông hơn quân của Na Bồ Lê Ông xứ Pháp! 

Cuộc sống xa nhà trong khó khăn làm chúng tôi rất đoàn kết, chúng tôi cùng học, cùng chơi… tôi và Phúc là hai đứa nhỏ nhất đội, hàng đêm nằm ngủ cứ nghe mấy anh kể chuyện bồ bịch, chuyện yêu đương chuyện người lớn… mà “hư” cả đầu óc non trẻ, vậy mà chúng tôi lại thích nghe mới ác chứ? Tợn nhất là hai ông “già đầu” mà học lớp 10 như Thành và Liễu, hễ rảnh rỗi lại sinh nông nổi, họ cứ kể nhau nghe rồi bình phẩm, rồi cãi nhau về ngoại hình, về các “vòng” của những cô bồ của mình tại xóm Tô Châu, làm chúng tôi “được” học hỏi – một cách thụ động – chút ít kinh nghiệm tình trường từ mấy anh này.

Hàng ngày chúng tôi tự nấu ăn trong cái góc của cái phòng nhà lá, bếp là ba ông táo bằng ba cục đất sét khô cứng, và củi thì thì tự kiếm mà đun thường là những cây điên điển mọc sâu trong đồng, cái thứ cây mà khi phơi khô lõi nó hóa rỗng, ngợi lửa mà không có than nên nấu cơm rất khó ủ sau khi cơm sôi cạn nước, cơm bị sống dễ còn hơn nhóm lửa, lửa thì đùng đùng mà nhà thì vách lá khô rất dễ cháy nên chúng tôi rất cẩn thận…. Thường thì hôm nào cũng vậy bọn tôi chỉ học buổi sáng mà thôi, học xong ra tranh thủ nấu ăn và sau khi ăn xong thì suốt buổi chiều là rảnh rỗi chơi suốt.

Mỗi tuần sau khi về Hà Tiên lên là tụi tôi được “cải thiện” thêm chút thức ăn mà các bà mẹ dấm dúi cho các thằng con xa nhà… Em gái tôi thêm cho chúng tôi thường là cá khô, cá kho mặn, hũ mỡ heo và tóp mỡ mà nó đã chắt lọc đến cạn kiệt, thêm chai nước mắm, một ít tiêu tỏi v..v.. Những món mà cái bếp tối thiểu phải có, với chúng tôi thì của ai người đó sử dụng, đôi khi thiếu thốn thì đứa này cho đứa kia “mượn” một tí nhu yếu phẩm…

Chuyện nấu ăn cũng có chuyện cười ra nước mắt, Đoàn Văn Hiển và Mai Thanh Xuân là đôi bạn thân nhau, hai anh này “góp gạo thổi cơm chung”, thường thì hai anh này ăn uống rất ngon và những cuộc đi chợ của họ rất chất lượng, có một buổi trưa hai cu cậu mua về một con cá lóc đồng bự, nấu một nồi canh chua rất hấp dẫn đủ cả cà, khóm và bạc hà, giá sống, đậu bắp…theo đúng “gu” miền Nam, nồi canh cá thơm phức, Xuân hít hà nói tếu:

  • Ngon quá! Chút nữa tao không cho đứa nào ăn ké đâu. Ê! Nước mắm đâu Hiển?
  • Thì trong vách đó!

Do nhà lá nên thượng vàng hạ cám cái gì tụi nó cũng nhét vào vách lá, Xuân vói tay vào vách lá lấy cái chai nước mắm đổ vào nồi canh.

  • Ê Hiển! Mày qua hớt bọt coi, sao tao hớt hoài không hết?
  • Thì thôi, chắc tại bổ quá nên nó có bọt nhiều, mày cho thêm vài trái ớt vô đi! – Hiển ra lệnh.
  • Sao tao thấy có mốc trắng quanh trái ớt?
  • Mày nói nhiều quá, dọn ra ăn đi!

Mai Thanh Xuân tướng tá như con chàng hiu mắt lồi, khệ nệ liêu xiêu nhấc nồi canh bước đi trên đôi dép “xa-bô” dày khụ, anh ta vấp mô đất.

  • …&*#!$ … ! Chút nữa nghỉ ăn – Xuân bắt đầu chửi thề. 

Vừa đi anh ta vừa càm ràm, Hiển thấy vậy mắng Xuân hậu đậu, dù vậy anh Hiển cũng khen anh Xuân này nấu nồi canh nhìn bắt mắt, nhưng vừa nếm một miếng vào thì Hiển phun ra phèo phèo, hai anh này đúng là nồi và nắp, chửi thề như rang bắp…

  • …&*#!$ …!  Mày nấu canh bằng cái thứ gì vậy? Sao mà lạt nhách, đắng chằng, nó có mùi gì vậy? Mày có nếm thử không?
  • Làm sao tao biết? Thì tao nấu bình thường thôi, tao nấu đâu cần thử, quá quen rồi! 

Xuân cao ngạo trả lời, nhưng khi anh ta nếm vào, anh ta cũng phun phèo phèo như Hiển.

  • Chết mẹ! Tao lộn … chai xà bông của thằng nào rồi!

Ngày xưa thời bao cấp xà phòng thiếu thốn, nhà nước cung cấp xà phòng theo tiêu chuẩn nhu yếu phẩm mỗi hộ được hai lít một tháng, có tháng được xà bông đá, có tháng chỉ có xà bông nước vậy mà thôi, cái thứ lỏng le màu vàng ệch đó mà chứa trong chai thủy tinh tái chế màu nâu thì thánh thần cũng nhìn không ra đó là nước mắm, nước tương, nước xà phòng hay…dầu hỏa?! Mà tổ cung cấp của nhà nước chỉ đựng trong cùng một loại chai như vậy… Ở Hà Tiên xách qua trong ba lô đứa nào cũng có những chai như vậy, rồi vì sợ để trên nền đất mấp mô sẽ bị ngã đổ hết nên chúng tôi phải nhét vào vách lá, cùng một suy nghĩ như nhau nên trong vách lá có cả một hàng mấy cái chai cùng loại giống nhau, chai của đứa nào thì đứa đó biết bên trong chứa chất lỏng gì, không cần phải dán nhãn, tụi học trò này cái gì mà làm biếng được thì cứ làm biếng, chuyện gì không cần phải làm hôm nay thì để hôm khác làm, hậu quả là Xuân đã lấy chai xà bông nước của Hạnh và Phúc làm nước mắm nêm canh (!).

Rồi hai anh này “nghỉ ăn” thiệt, vấn đề mà anh ta đã “dự báo” khi suýt vấp mô đất sợ đổ nồi canh, cuối cùng thì nồi canh cũng được đổ đàng hoàng ra đất một cách trân trọng và nuối tiếc mà không vấp váp mô đất nào cả!

Hôm ấy cả phòng có một trận cười vỡ bụng…

Dấu tích cũ của trường Trung Học Hà Tiên điểm Kiên Lương trong giai đoạn di tản do cuộc chiến tranh biên giới. Con hẻm 3 là đường đi vào trường. Đối diện phía ngoài là căn biệt thự lớn chủ nhân là chủ cây xăng tên Chín Vĩnh (nay đã thành bệnh viện Đa Khoa Kiên Lương). Phía ngoài đi vào tới trường cách khoảng 200 m. Ngôi trường Cấp 3 Hà Tiên tạm ở điểm Kiên Lương nầy nay không còn nữa. Hình: Nguyễn Hữu Tâm

Dọc theo con hẻm 3 vào trường là nhà dân cất sát nhau (hẻm vào trường Trung Học Hà Tiên điểm di tản ở Kiên Lương 1978-1980). Hình: Nguyễn Hữu Tâm

B . Công Chúa Rừng Xanh.

(Chuyện học trò thời xa xưa khi văn minh chưa về đến miền biên viễn… Tin hay không xin tùy độc giả).

Những đêm tối trời, trong phòng chỉ có một bóng đèn điện trở, những năm khó khăn đó đèn cũng đói điện như người đói ăn, bóng đèn đôi khi chỉ đỏ tim ốm yếu vàng võ, chỉ khuya lắm mới sáng đôi chút, có những đêm đầu hôm mưa buồn rả rích, ếch nhái kêu léo nhéo, ễnh ương thì oềnh oang, ếch bà “bù tọt”  kêu to ồm oạp những tiếng “uột uột..”, gió lùa soàn soạt vườn chuối và đám lau sậy sau trường, đồng không mông quạnh, thỉnh thoảng có tiếng cú ăn đêm hay tiếng chim quốc kêu “cóc, cóc…” , đêm đen tít tắp như lạc vào vũ trụ mênh mông chỉ khác chút là ta đang đứng trên mặt đất, khung cảnh buồn thê lương não nuột… chỉ chờ có vậy thì tiếng sáo du dương ma mị của thầy nào đó cất lên, tiếng sáo càng vút cao khiến lòng mình càng chùng xuống một cách thảm hại…

Lại có những đêm trăng mười sáu vành vạnh lơ lửng treo giữa không trung, thầy trò cùng nhau đối ẩm vài chung rượu đế quay tua xoay vòng trong mâm rượu đơn giản chỉ vài con cá khô mặn, thầy ôm đàn trò hát, rồi thầy vừa đàn vừa hát, cao hứng cả thầy và trò cùng hát, câu quên câu nhớ, giọng đúng giọng sai đâm chỏi lung tung, tiếng đàn và tiếng gõ ly chén cũng tạo thành một giai điệu rộn rã, vang vọng cả một cánh đồng mênh mông chỉ có lau sậy xạc xào hòa điệu mà không phiền nhiễu đến ai, cuộc sống vui vẻ của ngày trăng sáng làm quên đi nỗi quạnh quẽ của những đêm tối trời , cuộc đời vì vậy mà lạc quan,  cứ vậy mà trôi qua như chưa bao giờ có khó khăn hay nỗi nhớ quê hương của thầy và trò đang tồn tại nơi này. Rồi thì ngày Tết đến các thầy cô về quê, bọn học trò cũng về quê, cũng có những thầy quê xa quá không về được thì đành chọn nơi đìu hiu gió hú này nghỉ dưỡng vài ngày…

Ngày mồng 6 -7 Tết Tân Dậu năm 1981, chúng tôi vừa từ Hà Tiên qua, ngoài thức ăn bình thường mang theo, má còn dúi thêm cho anh em tôi chúng một hũ dưa món, là món không thể thiếu của người miền Trung vào dịp Tết, chứ người Hà Tiên họ không ăn món này bao giờ. Dưa món được làm từ củ cải trắng và cà rốt với một kỹ thuật riêng của người miền Trung, tất cả sau khi xử lý được cho vào một hũ và nêm chặt nó với nước mắm đường lấp xấp, cái hũ này là “vật chứng” cho một câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây…

… Hôm ấy là sau Tết nên việc bắt xe đò qua Kiên Lương hơi khó khăn, đến 8-9 giờ tối hai anh  em tôi mới lọ mọ lò dò băng đồng vào ký túc xá, hôm nay đèn sáng chi lạ, dễ hiểu là vì chỉ mới sau Tết  vài ngày khi công nhân nhà máy xi Măng Hà Tiên chưa về làm việc đầy đủ nên điện không quá tải bóng đèn sáng trưng, chúng tôi dọn dẹp qua loa cái “tổ cú” của mình, rồi tôi quăng ào cái ba lô nặng trĩu vào trong góc phía trên đầu lán ngủ, tôi giăng chiếc mùng lính màu xanh – cái thứ “tàn dư” của Mỹ, được dệt bằng một thứ vải lưới mềm dịu thưa rểu thưa rảo nhưng bảo đảm muỗi không thể xâm nhập vào được bởi con muỗi xứ này to như con bò mộng như tôi đã nói, và cứ thế tôi lăn ra ngủ… Anh Quang vào ngủ hồi nào tôi  không hay cho đến khuya lơ khuya lắt khi tôi nghe tiếng con Mực của chúng tôi sủa dồn dập, tôi thức dậy nhưng vẫn nằm đó, mắt nhắm mắt mở nhưng tôi cảm nhận một dòng nước chảy ướt nhẹp đầu tôi mà có mùi…nước mắm ! Thoạt tiên, tôi tưởng anh Quang ngủ say nhả cái thứ nước trong người anh ấy ra từ đường miệng khiến ướt đầu tôi (xin lỗi anh, thực sự ngày đó em nghĩ thế!). Trời ơi! Gớm ghiếc quá nước đâu mà quá dữ?!

Sau khi tôi thoáng nghi oan cho anh mình thì ngay lập tức tôi hiểu chuyện xảy ra vì có một chút thứ đó thằng tôi liếm phải, à thì ra là do hũ dưa món mà tôi đã cho vào ngăn ngoài ba lô, đầu hôm tôi quên lấy ra đã đổ lênh láng trên lán ngủ và chảy vào mùng làm chèm nhẹp một bên mặt của tôi do tôi không có gối, còn mùng thì bằng vải ny-lon không thấm … nghĩ thế nên yên tâm, tôi vẫn nằm, vẫn nhắm mắt, thuận tay tôi quơ đại cái chân mùng của anh em Huỳnh Ngọc Hạnh – Huỳnh Ngoc Phúc kế bên, lau vội một bên mặt và tôi ngủ tiếp…

Một tiếng “rầm” thật to từ phía mùng của Nguyễn Thoại Oanh, con Mực sủa inh ỏi nãy giờ chợt ngưng sủa mà chỉ còn rít lên ư ử…

Con Mực ngưng sủa, anh Quang chợt lao ra khỏi mùng, đi vòng vòng, mở cửa bước ra ngoài, lại lọ mọ chi đó rồi anh ấy lại lồm cồm leo lên giường bàn và chun vô mùng, anh ấy càm ràm gì bằng tiếng … bụng bởi nó không thóat ra khỏi cửa miệng anh ấy, mà tôi nghĩ mò rằng ảnh càm ràm cái vụ hôi nước mắm, sau đó chẳng để ý làm gì, mai tính, còn bây giờ tôi tiếp tục … ngáy!

Hôm sau, tôi phải cùng lúc giặt hai cái mùng, giặt ba lô… Nói chung, trưa ngày hôm ấy sau khi đi học về tôi rất bận rộn để giải quyết hậu quả mà tôi gây ra, mình thì loay hoay với mấy cái vụ giặt phơi, mà anh Quang và Thoại Oanh cứ xù xì to nhỏ, sự căng thẳng lộ trên nét mặt hai người, nghe mọi người nhắc về chuyện con chó mực đêm hôm sủa ầm ầm, tôi thoáng nghĩ chắc có trộm vào phòng hôm qua.

  • Tui đi kiểm tra hết phòng cửa nẻo đàng hoàng, không có dấu hiệu đột nhập!  

Tôi nghe anh Quang khẳng định với mọi người như vậy, anh Tòng nói thêm :

  • Ừ, anh thấy Quang đi ra.
  • Thì đó, em thấy em mới đập giường một cái đó! – Oanh nói thêm vào.

Với bản tính “bà tám”, tôi cứ lò dò, tò tò đi theo hỏi mấy người đó, cho đến khi họ phát bực, cuối cùng tôi cũng góp nhặt được từng phần ráp lại, mỗi người là một phần câu chuyện, tập họp lại toàn bộ tôi có một câu chuyện hoàn chỉnh đầy chất “liêu trai” như sau: đêm hôm ấy nghe tiếng con Mực sủa dữ quá dưới nền nhà, anh Quang mới tỉnh giấc nhìn xuống dưới chân thì … Trời ơi!

…. Một người con gái mặc nguyên một bộ bà ba đen, tóc dài rũ xuống che một bên mặt khiến ta không nhìn rõ dung mạo của cô ta, bên mặt còn lại trắng bệch lờ nhờ… Cô ngồi đó khá lâu có đến một hai phút, trên cái bàn cũng thuộc dãy bàn mà lũ chúng tôi kê làm giường, phía dưới là con Mực vừa sủa vừa chồm vừa tiến tới vừa thụt lùi, rõ ràng nó đang sủa cô ấy. Vị trí cô ấy ngồi chỉ không đầy hai mét cách chúng tôi, cô ấy đang ngồi trên cái “giường” của anh Quý được xếp theo hướng vuông góc với chúng tôi ngay dưới chân của anh Quang và Thoại Oanh, đêm ấy anh Quý chưa có mặt vì nhà anh ấy ở Núi Trầu không xa đây lắm, nên chờ sáng anh ấy sẽ vào sớm để đi học mà không cần ngủ đêm nay tại ký túc xá.

Trong phòng có chị Phượng được làm một phòng riêng, mà đêm nay chị ấy cũng chưa vào, chị Phượng cắt tóc phi – dê và nhỏ người, dứt khoát bóng dáng người con gái này không phải là chị ấy bởi cái lưng thẳng dài và xem chừng cao ráo, với lại chưa bao giờ chị ấy “chơi” nguyên bộ bà ba đen như cô gái này, vậy là ai? Sao cô lại ngồi buồn ủ rũ thê lương trong một căn phòng chỉ toàn là thanh niên? Sao lại nhập nha trong khi đèn thì sáng trưng? Hơn nữa, sao cô không sợ chó?

Người con gái ấy biến mất sau tiếng “rầm” nói trên như cô chưa hề có nơi đây, và sự biến mất của cô cũng kỳ lạ như khi cô xuất hiện…

Oanh nói rằng Oanh cũng thấy cô gái ấy, và bạn ấy đã đập mạnh chân xuống sàn (bàn) để xem phản ứng của người lạ, nhưng sau cái đập chân ấy thì người lạ biến mất trong không khí.

Nghe chuyện, thầy Hùng bảo rằng:

  • Các em đã được gặp “Công Chúa Rừng Xanh” rồi!

Đó là biệt danh mà các thầy đặt cho một oan hồn của một cô gái trẻ mà các thầy lai rai cứ gặp, thi thoảng cô ghé ‘thăm’ các thầy bằng cách đưa cả gương mặt dán lên cái cửa sổ là các xương sống dừa nước được rọc bỏ lá, để cô nhìn vào các phòng tìm các thầy, có hôm cô lọt vào cả trong phòng các thầy và đứng … ngoài mùng, có điều lạ là không thầy nào tả được nhân dạng của cô ta, có lẽ lúc ấy các thầy không còn bình tĩnh để nhìn rõ, hoặc phải trùm kín chăn để khỏi thấy cô? Chỉ biết cô là du kích Việt Cộng tuổi mười tám đôi mươi bị chết trong những năm chiến tranh, bà con trong vùng cho biết mộ của cô được vùi dập đâu đó dưới nền của ngôi trường sơ tán này.

  • Không chừng cô ấy dưới nền nhà của tụi em cũng nên!

Thầy Hùng “đế” thêm vào để dọa chúng tôi.

Dù biết cô là một chiến binh đã dũng cảm hy sinh, sự hy sinh của một người lính dù đứng về phe nào cũng là người Anh Hùng… Nhận thức vậy để đỡ sợ hơn, nhưng dù biết vậy mà từ hôm ấy tôi đã thêm một tật xấu là trước khi đi ngủ tôi không bao giờ dám … uống nước!

C –  Trở về mái trường xưa.

Thế là chúng tôi buộc phải từ giã cô Công Chúa Rừng Xanh có đôi chân dài miên man (là tôi tưởng tượng) mê trai già như mấy thầy và thích trai trẻ như anh tôi và các bạn của anh ấy, cô ấy chỉ không thích bọn con nít như tôi, thật đúng tôi là cái loại “ma chê, quỷ hờn” khiến tôi không được diện kiến dung nhan cô ấy, nhưng giả sử hôm ấy cô ấy cho tôi gặp? Có lẽ hôm sau tôi đã không chỉ giặt hai cái mùng (mà còn giặt thêm … cái quần của mình!).

Năm ấy, niên học 1980-1981 chúng tôi không có mùa hè, chúng tôi được lệnh di dời toàn bộ cơ sở vật chất của trường về lại Hà Tiên, nghĩa là – chúng tôi được về lại cơ sở đường Mạc Tử Hoàng.

Không chỉ từ giã Công Chúa Rừng Xanh, chúng tôi buộc phải xa lìa dãy phòng học bằng lá dừa nước tềnh toàng, sẽ không còn những buổi học chợt ngưng nửa chừng để lắng nghe ở lớp bên có giọng ca nào thánh thót xuyên qua vách lá? Sẽ không còn những chiều nắng nghiêng nóng rát trên sân đất cứng, mà nơi đó bọn con trai gồm thầy và trò đang cởi trần trùng trục đen bóng mồ hôi, đỏ bừng hưng phấn, chạy chân đất bình bịch đuổi theo trái bóng tròn, khoe những cặp chân ốm đói mà rắn chắc, cố khoe mẽ với bọn con gái đang reo hò quanh sân, rồi sau đó đội thua cũng như đội thắng cùng ào xuống con kênh đào trong vắt chua lè mà mát mẻ, dùng cục xà bông đá vuông vức nâu vàng chà tới xát lui trên các mái đầu xanh cho đến khi chúng trắng xóa hơn đầu bạc, rồi cũng bằng cục xà bông đó thầy trò bôi lên người mình, chà bên ngoài và các thứ bên trong cái quần cộc xem như đã giặt xong cái quần và làm vệ sinh xong phần quan trọng nhất, cả bọn lại nhảy ào xuống dòng nước mát bơi đùa thỏa thích … để rồi sau khi lên bờ tất cả đều nhận ra nước phèn làm xà bông kết tủa, khiến tất cả những gì thuộc “hệ tóc” đều cứng như rễ tre còn hệ da thì căng như ủi hồ, nhưng chúng tôi nào có sự lựa chọn?

Đó cũng là lúc chúng tôi sẽ không còn cái thi vị của những đêm trăng nội trú, khi mà giữa đồng trống  vằng vặc ánh trăng sáng ngà, thầy trò cùng đàn ca hát xướng, chẳng nghĩ chuyện xa xôi, vô tư mà hưởng thụ chừng như lửa khói chiến tranh chưa hề tan vào không khí nơi đây… Đó cũng là lúc chúng tôi từ giã những đêm đen mưa dầm buồn não nuột, thầy trò đốt vỏ xe đạp hư lặn lội quanh đồng để bắt ếch nhái, lắng nghe từng tiếng kêu của bọn này để đoán chừng mà chọn cho nồi “cháo khuya” những con to nhất … Đó cũng là lúc từ giã “thảm cảnh” của mùa mưa, khi con đường đê nhỏ từ lộ 80 dẫn vào dù được nhà máy xi-măng Hà Tiên cho đá Clinker trải trên mặt, cũng trở thành lầy lội nhão nhoét, đi chỉ dăm bước chân thì dép cũng trở thành “xa-bô” bởi nó dày thêm mấy phân bùn nhão, chiếc thềm bước lên lớp học có một đống bùn là các bạn cứ lần lượt đến đó và đập giũ lớp bùn ra khỏi dép… Mùa mưa, thầy trò chúng tôi tăng gia triệt để, rất được mùa ếch, tối thì chụp ếch để ăn, sáng ra lại ăn… chụp ếch!

Và thầy Hùng hiệu trưởng đã làm việc rất khoa học, chia chúng tôi thành hai tốp riêng biệt, học trò Hà Tiên thì về Hà Tiên dọn ngôi trường cũ, còn học trò Kiên Lương thì chuyển bàn ghế và các dụng cụ học tập từ Kiên Lương về Hà Tiên.

Chuyện sau đây tôi nghe kể lại vì tôi đã về Hà Tiên làm công việc được phân công nói trên.

Chuyến chuyển bàn ghế về Hà Tiên là một chuyến đi nhớ đời cho các bạn Kiên Lương ngày ấy, chúng tôi đã không có phương tiện vận tải, thời ấy làm gì có tiền để thuê? Tât cả đều phải đi xin các cơ quan ban ngành, các thầy xin đâu được chiếc xe công nông kéo rơ-mooc để chất lên ấy chuyến xe cuối cùng sau khi đã trót lọt các chuyến trước… Xe hư dọc đường ở đoạn đồng trống giữa Ba Hòn và Hòn Heo chi đó, không thực phẩm, không nước uống và không có người, ngày xưa ấy nơi đây hoang vắng lắm… Các bạn phải ngủ giữa đồng hoang, đói quá mới phân công đi bộ kiếm nhà dân phải hàng mấy cây số, mượn được nồi, xin được gạo nhưng cũng hạn chế lắm vì nhà ai cũng nghèo, cả nước đều nghèo đói thì lấy đâu ra cơm gạo cho không? Người ta cũng vì thương học trò mà thôi… Có được gạo thì lại không có nước nấu vì chung quanh chỉ toàn phèn chua hay nước mặn, nồi cơm được nấu bằng các thứ nước ấy, có lẽ cơm đã không chín được đúng chuẩn vì không phải bằng nước ngọt, nhưng chí ít thì cũng giúp cho các bạn đỡ phải khó nuốt vì quá đói và không cần canh chua cá kho tộ, bởi nó đã chua mặn tự nhiên!

Phải đến chiều ngày hôm sau khi các thầy bắt liên lạc và cử người đến “cứu hộ”, trong thời gian chờ đợi các bạn phải tự xoay sở lấy hết mọi chuyện, ngày xưa không có phương tiện liên lạc như bây giờ, các bạn trẻ giờ đây suốt ngày “cắm đầu” vào smart phone thì khó mà hình dung được…

Tại Hà Tiên thì thế nào?

Những năm chạy giặc thì Hà Tiên là một thành phố hoang, không có người, ban ngày thỉnh thoảng vài người lèo tèo bước nhanh vội vàng trên đường phố vắng lặng cỏ ngập đầu người, nhà hoang khắp nơi cũng um tùm không kém, lác đác cũng còn những căn bám trụ hoặc bộ đội đóng quân, thỉnh thoảng tôi có về thăm nhà nên biết Hà Tiên như thế – đúng ra là thăm cái nền nhà và rừng rậm! Chỉ một con chó hoang ốm đói chạy xoẹt ra cũng làm tôi giật bắn cả người… ban ngày đã vậy ban đêm còn ra sao nữa?

Nhưng đến năm chúng tôi chuyển trường về thì Hà tiên người dân về đã rất đông rồi, chợ búa cũng đã tấp nập, thật lạ kỳ là năm xưa người dân ngóng chính quyền, khi giặc đến thì chính quyền di tản đi trước còn dân mới chạy theo sau, một số người quyết bám trụ lại quê hương cho dù súng to súng nhỏ đùng đùng kế bên, còn khi tan giặc rồi thì người dân kéo về trước, lâu lắm sau các cơ quan ban ngành mới lục tục trở về… Hóa ra dân “to gan” hơn chính quyền!

Chúng tôi chỉ có mấy người và vài thầy cô giáo vì phải chia làm hai nơi hai điểm như đã nói, khi nhóm chúng tôi bước vào điểm Mạc Tử Hoàng thì ôi thôi, nơi đó không còn nhìn ra là trường học hay đã từng là trường học, xóm nhà dân sau trường học và dưới chân đồi Ngũ Hổ đã đông dân, chỉ riêng trường chúng ta là một đám rừng, dãy phòng trên thềm bằng mái ngói xi măng năm xưa thì còn đó nhưng thiếu cửa nẻo, ngói rơi vãi từng mảng có thể do chấn động từ trái pháo của giặc rớt vào phòng thầy Cường cô Mai bên kia đường mấy từ năm trước (xem – “Niên Học Đau Buồn” – QN). Dãy phòng vuông góc với nó có hành lang ra ao xà lách thì rất tệ, tất cả bị dỡ mất hết mái tôn, người dân xung quanh biến các phòng học của chúng ta thành nhà vệ sinh công cộng, cứ thải bừa ra nền xi măng hay gạch bông, các khung cửa sổ phòng học cũng biến thành bệ xí…,Thầy trò chúng tôi phải xăn tay vào dọn dẹp các loại chất thải cũ và mới đó, không cần nói độc giả cũng hình dung nó gớm ghiếc thế nào, cạnh hàng rào với bên văn phòng quận có một cái hố rác chúng tôi cho tất cả vào đó và phủ đất lên, chúng tôi làm cỏ và đốt rác, khói như cháy đồng.

Một đống xương bò, trâu và cơ man nào là đầu và sừng của các con vật đó được chất thành đống cao lên cả mái nhà của nhà vệ sinh, nó chiếm đầy không gian của cái hẽm giữa vách phòng học cuối dãy và nhà vệ sinh, một đống khác ngoài sân trường, vì gần đó có lò mổ trâu bò. Ngày xưa Hà Tiên không ai dùng xương trâu bò vào việc gì, sau khi thịt mang ra chợ, xương họ quăng đó, chúng tôi không dọn được cái “của nợ” này vì không biết bỏ đâu bây giờ, sau đó có thể các thầy đã thuê người dọn đi.

Ngày xưa người Hà Tiên không giết trâu bò để bán thịt vì các con vật đó là “phương tiện” của người nông dân làm mùa, có một thời lũ trẻ chúng tôi được ăn thịt bò là một “diễm phúc”, dù có lúc mua phải thịt những con bò già đã cày bừa suốt cả đời, thịt nó dai nhai ba ngày chưa nuốt được! Có một hôm đi học về chúng tôi thấy một con bò đang ăn cỏ vệ đường bỗng đổ vật ra sùi bọt mép, hai anh em Thù và Hận là bạn học chung của tôi (nhà dưới xóm “nhà làng”) là những đứa trẻ chăn con bò đó, bạn ấy nói nó ăn nhằm “trôm”, không biết là cây trôm hay con gì đó tên “trôm”? Một chút sau, thịt của con bò đó đã được đưa ra chợ (Mà gần đó có cây trôm thiệt, đó là loại cây mà chúng ta hay chặt ra ngâm với nước để cái nhựa cây tan ra rồi ta quậy đường uống giải nhiệt rất tốt – tôi thì luôn nghĩ từ ngày đó tới giờ rằng con bò này bị mũ trôm nở ra trôi vào khí quản làm nó ngộp – ai biết xin chỉ giáo). Ngoài ra còn là thịt trâu bò bị trúng mìn ở vùng biên giới, người ta phải đau lòng mà mổ thịt nó … Sở dĩ hơi lạc đề chút chỗ này vì nói ra để quý độc giả biết rằng việc giết bò trâu để thịt nó, là việc làm hãn hữu, cực chẳng đã, vậy thì đống xương trâu bò này đã lâu phải biết…

Các phòng học sau đó thầy trò chúng tôi “tẩy uế” bằng cách dội rửa xà bông và nước vôi, còn các công việc còn lại để “tân trang” trường học như quét vôi hay lợp mái thì các thầy thuê thợ làm. Dãy phòng thí nghiệm sát chân núi Ngũ Hổ thì chúng tôi chưa đụng tới vội, đến tựu trường của năm học đó chúng tôi còn tiếp tục dọn dẹp từ từ, dãy phòng vuông góc với phòng thí nghiệm gồm hai ba căn chi đó thì chúng tôi không phải dọn dẹp mà các thầy tự dọn làm nhà ở tập thể luôn.

Ngày xưa ấy tất cả chúng tôi là những đứa trẻ vừa xong lớp 10 và 11, bởi lớp 12 các anh chị đã ra trường, còn lớp 10 mới thì chưa vào học, cuộc trở về và xây dựng lại trường Trung Học điểm Mạc Tử Hoàng đã diễn ra trong suốt mùa hè này là để chuẩn bị cho năm học mới, sẽ có đủ cả ba cấp lớp 10, 11, 12, nhưng thực tế năm đó trường chúng ta còn đón thêm các em lớp 8 và 9 bởi các điểm trường Hà tiên chưa kịp phục hồi theo kịp đà cư dân quay trở về Thị Trấn của chúng ta sau cơn binh lửa… Những đứa trẻ mười sáu đến mười tám tuổi, cùng vài thầy cô giáo tuổi đời trung bình cũng không tới ba mươi của chúng tôi đã rất tự hào vì đã tự xoay sở cho việc dạy và học của mình được xuyên suốt, không gián đoạn, không làm tốn kém tiền của vật chất của nhân dân, dù chỉ là vài trăm đồng xin cho việc cơm gạo, học hành.

Còn bây giờ người ta vừa ăn vừa phá, phá tàn mạt, phá ngàn tỷ, phá tất tần tật không chừa thứ gì của nhân dân, chỉ nói trong giới hạn các dự án nhân danh giáo dục…

… Cách đây vài hôm tôi nhận được một tin nhắn từ một bạn học cũ là Đoàn Văn Hiển, anh ấy nhắn rằng “khi nào rảnh, Nguyên viết bài chuyện vui buồn về thời nội trú…”, tôi thì không cho mình rảnh bởi có khi “rảnh rỗi sinh nông nổi…” biết đâu lại làm những chuyện “tào lao”? Thế nhưng tôi viết bài này ngay vì gợi ý của bạn đã gợi nhớ một thời đáng tự hào của chúng tôi… Viết cũng là niềm vui, và biết rằng chuyện của mình có độc giả chờ đợi càng là niềm vui gấp bội…

Xin cảm ơn Hiển và các bạn.

Quang Nguyên – 05/2019

Trương Minh Quang Nguyên, học trò (1976-1982) và giáo viên (1989-1991) Trường Trung Học Hà Tiên

(Tôi là học sinh của trường này từ niên học 1976-1977 cho hết năm học lớp 11 niên khóa 1981-1982, năm lớp 12 niên khóa 1982-1983 tôi học tại Sài Gòn, sau đó tôi học Sư Phạm khoa Hóa của Đại Học Cần Thơ ra trưòng niên khóa 1988-1989, về dạy học tại trường “Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên” hai khóa 1989-1990 và 1990-1991 dạy các lớp 10 và 11…

Trường chúng ta sau các lần đổi tên: “Trường Trung Học Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Cấp II và III Thị Trấn Hà Tiên”, “Trường Phổ Thông Trung Học Huyện Hà Tiên”, “Trường Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thì vào năm 2000 trường được tách ra, với các thầy cô dạy bậc học phổ thông lớp 10-11-12 được chuyển ra một cơ sở mới rất khang trang ở đường ra Mũi Nai với các dãy phòng học ba tầng và các phòng máy tính… trường vẫn mang tên “Trung Học Phổ Thông Hà Tiên”, thành tựu đó là một kết quả vận động rất lâu dài và khó khăn của các thầy cô trường chúng ta vì phải có kinh phí xây dựng, mà phải kể công nhiều nhất ở thầy Phan Văn Báo, thầy Báo tiếp tục làm hiệu trưởng cho đến năm 2010. Sau đó vài năm trường được mang tên nhà chí sĩ đã gắn bó sự nghiệp và gia đình của mình với đất Hà Tiên: cụ Nguyễn Thần Hiến, còn điểm trường Trung Học tại Mạc Tử Hoàng được tu sửa khang trang và đổi tên “Trung Học Cơ Sở đông Hồ 2” dạy các lớp 6-7-8-9 cho đến nay.)