Hà Tiên qua các phong bì bưu chính

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi người Pháp chiếm toàn bộ các tỉnh miền đông và miền tây của phía nam nước ta, bộ máy hành chánh Pháp bắt đầu phát triển về phương diện giao dịch thư từ. các văn phòng bưu điện lần lượt được mở ra tại nhiều địa phương, lúc đầu chủ yếu phục vụ sự chuyển thư từ trong giới nhà binh của Pháp.  Sau đây là một vài chi tiết về ngày tháng ra đời của các văn phòng bưu điện ở các tỉnh thành miền đông, tây Cochinchine (lúc đó gọi la Nam Ký):

Sài Gòn: văn phòng bưu điện được mở ra ngày 01/01/1863
Bà Rịa, Trảng Bàng, Tây Ninh, Biên Hòa, Gò Công, Mỹ Tho: 15/07/1863
Chợ Lớn: 1864
Tân An: 01/03/1866
Sa Đéc: 05/07/1867
Thủ Dầu Một: 15/07/1867
Châu Đốc: 1867
Trà Vinh: 21/02/1868
Vĩnh Long: 01/01/1869
Mỏ Cày: 1869, đến tháng 09/1871 thì đóng cửa nhập vào bưu điện Bến Tre, đến năm 1878 thì mở cửa lại ở Mỏ Cày.
Bến Tre: 09/1871
Vũng Tàu: giữa 1868 và 1871
Rạch Giá: 1873
Long Xuyên: 1874
Sóc Trăng: 21/05/1875
Trà Ôn: 1875, đến năm 1877 thì đóng cửa và nhập vào bưu điện Cần Thơ (văn phòng ở Cần Thơ được mở ra năm 1877).
Poulo-Condore (Đảo Côn Sơn): 23/02/1882 lúc đầu chỉ là văn phòng điện tín.

Hà Tiên: Trước hết có một văn phòng điện tín mở ra ở Hà Tiên khoảng năm 1870, sau đó ngày 25/03/1873 văn phòng bưu điện được mở ra.

Đến năm 1882 các văn phòng bưu điện nầy được nhập vào với các văn phòng máy đánh điện tín và làm việc hành chánh chung về lảnh vực thư từ và điện tín. Trước đó các văn phòng bưu điện nầy phục vụ việc lưu chuyển thư từ trong giới nhà binh, để giúp cho những viên lính Pháp xa nhà gửi thư từ về nước với giá rẻ, có khi miển phí, dấu đóng trên các phong bì thư nầy thay thế cho việc dán con tem thư, ngay cả khi có dán tem thư thì người ta cũng dùng các con dấu trong nhà binh nầy để đóng dấu thư. Việc đóng dấu trên phong thư là để xác đinh ngày tháng năm gởi thư, vì thế các con dấu dùng trong giới nhà binh nầy được gọi là các « tem thư ngày nhà binh » (Les cachets à date de correspondances d’armée).

Một con « tem thư ngày » dùng trong nhà binh của Pháp của văn phòng bưu điện Hà Tiên, trên tem thư nầy có ghi: CORR. D. ARMEES (Correspondance d’Armées = Thư tín Quân Đội), tháng hai năm 1876, phía dưới là hai chữ HATIEN. (Hình: Florent Tricot)

Một « tem thư ngày » khác của văn phòng bưu điện Sài Gòn, xưa hơn, dấu ghi ngày 27 tháng 5 năm 1863. (Hình: Florent Tricot)

Sau đây là một số phong bì do người Pháp và người Việt Nam liên lạc với nhau qua hệ thống văn phòng bưu điện Hà Tiên:

A/ Năm 1900:

1a/ Phong bì một lá thư gởi ông Hộ Hoạch, ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Ngày tháng đóng dấu trên phong bì là: 17/06/1900. Dấu đóng trên con tem màu xanh phía trên là văn phòng khởi hành của phong thư, tại Sài Gòn (Saigon Port Cochinchine = Cảng Sài Gòn Nam Kỳ). dấu đóng trên hai con tem phía dưới là văn phòng đến, Hà Tiên (Hatien Cochichine = Hà Tiên Nam Kỳ), không thấy rỏ ngày đến. Trên phong bì còn có ghi câu « Art. 9 de la loi du 29 juin 1856 » bằng màu đỏ, tức là « Điều 9 của luật ngày 29 tháng 6 năm 1856« . (Hình: La Gazette Drouot)

Chú ý: Vào thời nầy tên Mỹ Đức chỉ làng Mỹ Đức thuộc quận Châu Thành, là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên, ngày nay đổi tên là phường Đông Hồ, không phải phường Mỹ Đức ngoài Thach Động hiện nay.

1b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Hà Tiên Cochinchine (Nam Kỳ) ngày 21/06/1900 (21/juin/1900). (Hình: La Gazette Drouot)

B/ Năm 1903:

2a/ Phong bì để tang có viền đen (có lẽ để báo tin người mất) từ Hà Tiên gởi cho ông Folly, địa chỉ số 24, đường Daniel, Asnières, Seine, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 24 tháng chín năm 1903. (Hình: La Gazette Drouot)

2b/ Bìa sau của phong bì để tang trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Seine, nước Pháp ngày 30/10/1903. (Hình: La Gazette Drouot)

C/ Năm 1911:

3a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông Max Mautelin, sinh viên Nghệ thuật thương mại (étudiant ès-arts Commerciaux), địa chỉ số 5, đường Sala, Lyon, Rhône, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 28 tháng 2 năm 1911. Trên góc trái của phong bì còn có chữ in: Indochine Française, Province de Hatien (Đông Dương Pháp, tỉnh Hà Tiên).

3b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư tới Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam Kỳ (Saigon Central Cochinchine) và tới Rhône, nước Pháp ngày 01/04/1911.

D/ Năm 1932:

4a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho nhà L’Illustration, địa chỉ số 13 đường Saint Georges, Paris, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 1 tháng 2 năm 1932. Phía trên góc trái có đề hàng chữ Par Avion Saigon Marseille = Bằng đường máy bay Sài Gòn Marseille. (Hình: Delcampe)

4b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy thư đến Sài Gòn, văn phòng trung tâm Nam kỳ ngày 2/2/1932 (Saigon Central Cochinchine) và đến văn phòng Paris, quận 9 đường Hyppolyte Lebas ngày 16/2/1932 (Paris IX Rue Hyppolyte Lebas). (Hình: Delcampe)

E/ Năm 1946:

5a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm hình Block và Lux (Central Photo Block et Lux), địa chỉ số 5, đường Merrcière, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 9 tháng 7 năm 1946. Phía trên cao có đề tên người gởi: exp: Quach Ngoc Ba Hatien (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, Hà Tiên). Bên trái có dâu hiệu thư gởi theo đuòng máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). (Hình: Delcampe)

F/ Năm 1947:

6a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 15 tháng 3 năm 1947. Trên góc phải của phong bì có hai chữ -FM- = Franchise Militaire (có nghĩa là « nhượng quyền nhà binh » tức là thư nầy trong giới nhà binh, được miển cước phí). Bên dưới góc trái có dề tên người gởi thư: Garde Janton André, 1ère Légion de Garde Républicaine de Marche, Brigade d’Hatien par BPM 405 T-O-E Indochine (Quân đoàn 1 của Vệ binh Cộng hòa Marche, Lữ đoàn Hà Tiên của BPM 405 T-O-E Đông Dương). Ba chữ T.O.E = Théâtre des Opérations Extérieures (Nơi những chiến dịch bên ngoài). BPM 405 = Bureaux Postaux militaires (Bưu điện nhà binh), số 405 là số của văn phòng bưu điện nhà binh thuộc Saigon. Bên phải phía trên có dấu hiệu Par Avion tức là thư nầy được chuyển đi bằng đường máy bay. (Hình: Delcampe)

6b/ Bìa sau của phong bì trên, dấu đóng trên phong bì cho thấy có sự kiểm tra của cơ quan SAX (CENSURE SAX 2 ). (Hình: Delcampe)

7a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho ông bà Gribonval Raymond, địa chỉ số 21, đường Eugène-Süe, Paris 18, Seine. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 2 tháng 5 năm 1947. Các chi tiết người nhận và người gởi cũng y như trường hợp trên (4a). (Hình: Delcampe)

G/ Năm 1951:

8a/ Đây là một trường họp phong bì có tên hiệu riêng của người gởi: Hatien-Photo, Phong bì từ Hà Tiên gởi cho hiệu Trung tâm xuất cảng hình (Central Photo Export), địa chỉ số 6, đường Ch. Schmidt, Strasbourg, France. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên ngày 26 tháng 5 năm 1951. Phía trên cao bên trái có đề tên người gởi: Quach Ngoc Ba, Place du Marrché, Hà Tiên (Sud-Viêtnam (người gởi: ông Quách Ngọc Bá, công trường chợ, Hà Tiên, miền nam Việt Nam). Phía dưới phải có dấu hiệu thư gởi theo đường máy bay. (Ông Quách Ngọc Bá là một người kỳ cựu quen thuộc ở Hà Tiên và có cửa hiệu phát hình và hoạt động về hình ảnh ở Hà Tiên trong những năm 1960-1970). Dấu đóng trên bìa thư không còn là Hatien Cochinchine mà ghi là Hatien Sud Vietnam. (Hình: Delcampe)

H/ Năm 1958:

9a/ Phong bì từ Hà Tiên gởi cho bà Võ Thành Đức, nhũ danh Ong Thị bạch Vân, địa chỉ Nha Thanh Tra Trung Ương Dân Vệ, số 163 đại lộ Chi Lăng, Saigon. Dấu đóng trên phong bì xuất phát từ văn phòng Hà Tiên (Hatien Viet-Nam) ngày 29 tháng 3 năm 1958. PHía trên góc phải có đề chữ: Dán tem phía sau. Góc dưới bên trái là tên người gởi: Trung Úy Võ Thành Đức, bưu tín lưu trử Hà Tiên.

9b/ Bìa sau của phong bì trên, có dán tem giá 2 đ như đã viết ở mặt trước, dấu đóng trên con tem cho thấy thư đến Sài Gòn ngày 9 tháng 4 năm 1958. (Saigon Viet-Nam)

I/ Năm 1964:

Ngoài các phong bì mà nơi xuất phát thư đi hay thư đến có liên hệ đến người gởi hoặc người nhận là người Hà Tiên, Hà Tiên còn được nhắc đến qua lần xuất bản đầu tiên con tem về Hòn Phụ Tử, con tem được phát hành ngày đâu tiên 7 tháng 9 năm 1964.

10a/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 Premier Jour d’Emission First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi cho địa chỉ Alhambra Club, Apartado 109, Granada, Espana. (Câu lạc bộ Alhambra, căn số 109, Granada, Tây Ban Nha).

10b/ Phong bì có in hàng chữ « Bãi Biển Hà-Tiên (Plage de Hà-Tiên) để kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử. 7-9-1964 First Day Cover. Dấu đóng ghi: Tem Thơ Bãi Biển Hà-Tiên, Ngày đầu tiên 7 tháng 9 năm 1964, Saigon. Phong bì phát xuất từ Sài Gòn và gởi về địa phương Stanford-le-Hope, hạt Essex, England (nước Anh)

Chú thích: Mời xem thêm bài có giới thiệu rất nhiều phong bì kỷ niệm ngày đầu tiên phát hành con tem hình Hòn Phụ Tử ngày 7-9-1964.

« Hòn Phụ Tử qua các giai đoạn thời gian (Hà Tiên) »

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 27/02/2020

 

 

Thầy Trần Văn Thuận

Thầy cô và các bạn thân mến, tất cả bắt đầu từ một câu hỏi của một người bạn face book của thầy Nguyễn Hồng Ẩn, người bạn đó hỏi thầy Ẩn có biết một đồng nghiệp cũng có một thời dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, người thầy đó dạy môn chính là Việt Văn và tên là Trần Văn Thuận…Sau đó có em Lý Minh Thuận, em của bạn Lý Mạnh Thường có nhắc mình nên viết bài giới thiệu hai thầy đã từng giảng dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên một thời gian, đó là thầy Nguyễn Long Hồ dạy môn Lý Hóa và thầy Trần Văn Thuận dạy môn Văn. Thầy Nguyễn Long Hồ thì mình biết, tuy nhiên trong thời gian từ năm 1970 trở đi thì mình qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất trường Trung Học Công Lập Nguyễn Trung Trực, thỉnh thoảng có về Hà Tiên nghỉ hè và được biết thầy Nguyễn Long Hồ vì thầy Hồ thường đến nhà bạn Lý Mạnh Thường chơi và mình có gặp thầy Hồ tại đó. Còn trường hợp thầy Trần Văn Thuận thì hình như ngay lúc em Lý Minh Thuận và sau đó là thầy Nguyễn Hồng Ẩn có nhắc cho mình về thầy Trần Văn Thuận thì mình  không nhớ ra thầy Thuận. Sau một thời gian tìm hiểu và đọc các lời viết ngắn gọn của các bạn học sinh trường Trung Học Hà Tiên nhắc về thầy Trần Văn Thuận thì mình nghĩ là có thể mình đã biết hoặc có nghe nói qua về quảng thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên…Theo lời các bạn có học qua với thầy Trần Văn Thuận trong thời gian ngắn thầy dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên, thì thầy Thuận thường chạy chiếc xe Vespa rất đẹp, thầy có gia đình và ở căn nhà thuê phía trước nhà của anh Phan Văn Hữu khúc dưới xóm Cầu Câu. Thầy Thuận để tóc dài, mái tóc thường cong gắn vào hai tai rất nghệ sĩ. Thầy có tài làm thơ, thầy có làm một bài thơ trong đó kể ra hết tất cả tên của các học trò trong lớp. Chẳng những thế, thầy còn làm thơ bằng chữ Hán, ý nghĩa rất hay. Thầy biết chơi đàn guitare thùng. Có một chi tiết bạn học còn nhớ là thầy không thích nhạc Bảo Thu, Vinh Sử…cũng không thích giọng ca Chế Linh, Giang Tử, Thanh Phong,…v…v…Có thêm một chi tiết quan trọng nữa là thầy Trần Văn Thuận rất được học trò Hà Tiên quý mến, nhất là rất được các em nữ sinh ái mộ …!!

Vài nét để giới thiệu thầy Trần Văn Thuận mà mình tìm hiểu trên trang của thầy: Thầy Trần Văn Thuận người gốc Bình Thuận (làng Tân Lý, thị xã La Gi). Sau khi học xong bậc Trung Học, thầy Thuận có ý chí muốn trở thành kiến trúc sư nên có theo học ngành kiến trúc ở Sài Gòn, đồng thời thầy cũng ghi danh theo học các chứng chỉ ngành Văn Khoa. Vì lý do sức khỏe thầy không tiếp tục theo ngành kiến trúc nên quyết đinh theo đuổi ngành sư phạm ở trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, ngành Viêt Văn. Tuy nhiên trước khi tốt nghiệp trở thành giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ban Văn, thầy Thuận đã thực hành nghề giáo rất nhiều năm bằng cách dạy tư ở các trường Tư Thục, dạy kèm cá nhân tại Sài Gòn..v..v..

Khoảng đầu năm 1970 thầy Trần Văn Thuận về dạy tại trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, môn Việt Văn. Trong thời gian nầy, thầy Thuận viết bút ký rất nhiều, thầy viết để ghi lại những kỷ niệm, ký ức ngay cả trong những năm còn đi học lớp Đệ Thất ở quê thầy, thầy cũng có nhiều thời gian rỗi rảnh để dịch những bài thơ trong tập Đường Thi bằng chữ Hán sang tiếng Việt. Các tập hồi ký nầy có một phần được các bạn hữu sưu tầm và được phép xuất bản thành sách hiện nay, một số thì bị thất lạc mất.

Đến tháng 10 năm 1972, thầy Trần Văn Thuận được công lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển về trường Bình Tuy dạy môn Anh Văn vì trong quá trình kiến thức của thầy, thầy cũng có văn bằng về môn Anh Văn. Thế là thời gian thầy Thuận dạy học ở trường Trung Học Hà Tiên không dài, chỉ vỏn vẹn hai, ba năm, tuy nhiên, theo thầy viết lại trong các bài tự thuật thì trong lúc giảng dạy ở Hà Tiên, thầy có rất nhiều kỷ niệm với các bạn và học sinh Hà Tiên.

Sau năm 1975, thầy Trần Văn Thuận cũng được đề nghị tiếp tục dạy học và quản trị các trường lớp mặc dù ý thầy nhất định rời ngành dạy học để đi vào ngành xây dựng vì đó cũng là kiến thức mà thầy thu thập được khi còn học ngành kiến trúc ngày trước. Thầy Thuận có lúc làm Hiệu phó trường Phổ Thông Cấp 3 Hàm Tân, làm hiệu trưởng trường Trung học Bán công Nguyễn Huệ, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Đến năm 2007, thầy Trần Văn Thuận về nghỉ hưu tại phường Thảo Điền, thuộc quận 2 thành phố Hồ Chí Minh cho đến hiện nay.

Trong suốt quá trình viết văn, làm thơ, thầy Trần Văn Thuận ký nhiều bút hiệu như: Cát Sỹ, Thoại Băng, Trần Thuận…và bút hiệu chính thầy vẫn dùng là Đoàn Thuận.

Một số tác phẩm của thầy Trần Văn Thuận đã được xuất bản chính thức hiện nay:

Thơ Tự do:
Năm 1994, nhóm thân hữu Tuổi Trẻ sưu tầm những bài thơ thầy Trần Văn Thuận làm trong thời gian thầy giảng dạy ở Hà Tiên biên tập thành “Mùa bấc biển, thơ Đoàn Thuận” do Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh cấp giấy phép xuất bản năm 1994.
La Gi ngàn xanh (NXB Trẻ 1997)
Lửa đêm mưa (NXB Trẻ, 1998)
Khoảng lặng của hoa (NXB Trẻ, 2001)
Tượng (NXB Trẻ, 2002)
Đời sậy (NXB Trẻ, 2003)
Sắc phượng (Hội VHNT Bình Thuận, 2006)
Rong chơi cùng cát bụi (NXB Văn Học, 2012)
Mái xưa (NXB Văn học, 2013)
Dưới hoa (NXB Văn Học 2013)

Thơ lục bát:
Lời chiều (lục bát tứ tuyệt) (NXB Trẻ, 1996)
Lửa đầu non (lục bát trường thiên) (NXB Trẻ, 1999)
Tạ ơn đời (lục bát tam cú) (NXB Văn học, 2013)
Đường Thi (thơ dịch) (NXB Văn Học, 2012)
Thơ thiền Vương Duy (thơ dịch) (NXB Thời Đại, 2014)

Bút Ký:
Những mảng vỡ thời gian
Những miền đất trọ

Paris 14/02/2020, Trần Văn Mãnh viết lời giới thiệu theo ý của các bài trên trang của thầy Trần Văn Thuận, và sự đóng góp của các bạn học sinh Trung Học Hà Tiên ngày xưa. Trân trọng cám ơn Ông Trần Cát Trường, thầy Nguyễn Hồng Ẩn, các bạn Lý Minh Thuận, Lê Phước Dương,…

Sau đây xin giới thiệu một vài bài viết tự thuật của thầy Trần Văn Thuận viết khi thầy còn ở Hà Tiên:

Thầy Trần Văn Thuận (Hình thầy TVT)

Tôi đi dạy ở Hà Tiên (Trần Văn Thuận)

Khi thi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, bài làm về chữ Nôm không đủ điểm, tôi phải thi lại. Trong khi các anh chị tốt nghiệp kỳ 1 đã đến nhiệm sở mới, tôi ở lại Saigon ôn tập để thi kỳ 2. Rất may mắn, tôi cũng được tốt nghiệp, và theo thứ hạng, tôi có thể chọn nhiệm sở Gò Công. Nhưng anh Nguyễn Chí Thành lại cần về đây, còn tôi nơi nào cũng được, miễn có chỗ dạy chính ngạch, vì tôi thuộc loại yếu về tay nghề sư phạm.
Tôi đến thăm Thầy Đông Hồ, tức thi sỹ Đông Hồ, Thầy khuyên tôi nên về Hà Tiên, quê của Thầy, cũng là nơi sinh ra hệ văn chương Chiêu Anh Các.Tôi quyết định chọn nhiệm sở Hà Tiên, dù cách xa Lagi, quê Mẹ tôi, trên sáu trăm cây số.
Biết tôi xuống Hả Tiên, nơi có nhiều người Minh Hương sinh sống, Thầy Giản Chi tặng tôi bộ Đường Thi viết tay trên giấy dó, và dặn dò tôi cách dịch ra tiếng Việt. Thầy cũng đặt tên tự Cát Sỹ cho tôi. Tự hứa với chính mình, tôi sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng mong mỏi của quí Thầy Cô.

Tại trung học Hà Tiên, thầy cô phần lớn là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nên tôi chỉ dạy Việt văn vài lớp đệ tam, đệ nhị, giờ trống còn nhiều. Tôi giết thời gian bằng cách chú tâm vào việc sắp xếp những trang tùy bút tôi đã có từ thời học đệ thất, và dịch Đường Thi sang tiếng Việt.

Đầu năm 1970, tôi kết được năm tập “bút ký” khá dày. Mỗi tập trên ngàn trang bản thảo, chằng chịt chữ viết lẫn những bức ký họa và thư pháp. Tôi giữ nguyên những tờ giấy cũ, mang dấu ấn thời gian, dù nhiều trang đã nhòe màu mực. Tập 1 và 2 có tên “Miền đất trọ”. Tập 3, 4 và 5 có tên “Mảng vỡ thời gian”. Đây không phải là trang sáng tác, đúng hơn là trang “tùy bút”, ghi lại những gì nghe thấy trên đường đời, “thấy sao viết vậy”, “nghe gì ghi nấy”; có khi ghi bằng “văn vần” khi bằng “văn xuôi”. Phần lớn, những bài văn vần ngắn gọn nằm trong “lưu bút” hay “nhật ký” của những người bạn quen thân, trong thời đi học đi dạy. Tôi dự định lưu trữ, chờ khi có điều kiện, sẽ biên tập thành sách.

Đầu năm 1972, tôi dịch xong tập Đường Thi của thầy Giản Chi tặng, dưới mỗi bài dịch tôi đề tên Cát Sỹ. Trong đó, có hai phần tách riêng dưới nhan đề “Thơ thiền Vương Duy” và “Ánh trăng Lý Bạch”.

Ngày mới xuống Hà Tiên, tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều người để tìm hiểu về Chiêu Anh Các, nhưng ít người biết rõ, ngoài “Hà Tiên thập cảnh”. Do đó, sau khi tổ chức lễ giỗ Thi sỹ Đông Hồ, tôi dừng lại việc nghiên cứu về hệ văn chương Chiêu Anh Các, như lời gợi ý của Thầy, năm tôi học chứng chi Văn Chương Quốc Âm.

Trong ba năm, tôi dạy học ở đây, gần như không quen thân với ai trong ngành giáo dục, trừ Trần Cao Thu, người ở chung nhà trọ nhưng không chung trường, vì Thầy dạy ở trường Nông Lâm Súc. Cao Thu và tôi cùng họ Trần, nhưng không biết gì về hoàn cảnh của nhau, dù gặp mặt hằng ngày. Tôi chỉ dạy đủ giờ chuẩn, ít khi vào trường, nên xa lạ trước nhiều thầy cô. Có lẽ, do tôi quen thói sống khép kín.
Thời cuộc càng ngày càng nhiều biến động. Đường Hà Tiên sang Rạch giá bị đắp mô, đi lại rất khó khăn, thường xuyên tôi ở lại nhà trọ một mình, kể cả ngày Tết. Dù nhóm bạn học của Lý Tòng Hiếu quanh quẩn bên tôi, giúp tôi bớt buồn, nhưng tôi vẫn rất nhớ Mẹ nhớ nhà, khi mùa Gió Chướng thổi qua….

Tuy vậy, một số phụ huynh dần dà kết thân với tôi, đặc biệt là nhóm Ba Lá. Nhóm thường thả xuồng Ba Lá ngắm trăng trên hồ Đông. Uống rượu đế với tép rang và đọt so đũa. Khi thì kể một câu chuyện đau buồn của người nghèo khổ. Khi thì vổ mạn xuồng hát điệu lam thôn dân dã, boléro miền Nam. Khi thì đọc một câu thơ tự chế. Trình độ học vấn của nhóm không bao nhiêu, nhưng sự hiểu biết về cuộc sống thăng trầm luân hồi nhân quả thì quá nhiều. Tôi thầm cám ơn nhóm thân hữu Ba Lá, vì đã giúp tôi nhận ra nhiều điều không có trong sách vở, suốt thời đi học. .

Hà Tiên, đối với tôi, là “miền đất trọ” thơ mộng thân yêu, nơi tôi dạy học với tư cách giáo sư trung học đệ nhị cấp chính ngạch.

Ra trường, tôi chuyển đến Hà Tiên.
Cuối trời đất nước biệt một miền.
Kiên Lương Rạch Giá, vùng oanh kích.
Lênh đênh kênh rạch một đêm thuyền.
.
Hai chiếc va li một cây đàn,
đôi ba quyển sách làm hành trang.
La Gi quê mẹ xa ngàn dặm.
Châu thổ sông dài trời mênh mang.
.
Đất nước chiến tranh lắm đoạn trường .
Tôi vì cơm áo lại tha phương .
Những mong gửi gắm lòng thương nước
vào đàn em nhỏ của quê hương.
.
Cứ ngỡ tôi như cụ đồ già,
bụi đường mưa gió tóc sương pha,
bút nghiên khăn gói dăm ba chữ,
về ngồi dạy trẻ « miệt vườn » xa.
.
Hà Tiên,1972
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Khoảng lặng không tên (Trần Văn Thuận)

Tôi đến Hà Tiên trình sự vụ lệnh dạy học vào một buổi chiều. Sắc chiều còn lại ở chân trời là những áng mây trắng, che dần ráng đỏ, trôi vào đêm. .

Quán cốc cuối đường qua bãi Thuận Yên đã thưa khách, chỉ còn ba người đàn ông đang lai rai mấy chén rượu đế. Phố Hà Tiên nằm bên kia hồ, mờ mờ trong bóng chiều. Những ngọn đèn đỏ quạch. Vài ngọn dừa cao trên mái nhà ngói cổ. Phố im lìm dù mới chớm đêm. Hồ Đông như một vòng cung ôm trọn khu phố. Nhìn từ bên này Thuận Yên, phố nhỏ nhưng rất thơ mộng. .

Bụi đường phủ đỏ trên tóc trên vai áo, trên chiếc túi xách hành trang. Đã nhiều chuyến đò qua bờ bên kia và trở lại cắm sào bên pong-tông cầu xi-măng. Tôi ngồi bên quán nhỏ mà tưởng mình như kẻ giang hồ lữ thứ bao đời. Một cốc rượu trắng uống hoài không cạn. Phố cách một chuyến đò ngang mà tôi chưa muốn sang, vì không quen biết ai. Hà Tiên là quê hương của thi sỹ Đông Hồ, với tôi, như một nơi lưu biệt xa lạ. Con đò nhỏ vẫn nằm im bên bờ vắng, chờ đưa người khách lạ sang sông. Ánh đèn dầu le lói soi bóng thuyền nhạt nhòa trên dòng nước. Phố nhỏ chìm dần vào giấc ngủ khuya, khi con đò neo lạnh dưới bến. .

Một mái hiên nhỏ ở đầu quán, nơi khách đi đường trọ lại qua đêm. Con đường Kiên Giang Hà Tiên thường bị đấp mô, nên khách có thể lênh đênh trên kênh một ngày dài, cũng có thể đi vội trên xe Honda ôm, cũng có thể dừng lại nơi đây chờ chuyến đi thích hợp. Trên một chiếc ghế xếp, tôi nhìn ra hàng cây dương liễu dưới bóng trăng mờ, tưởng nhớ miên man đến quê nhà La Gi. Khi tôi vừa đốt thuốc, định nhờ đốm lửa xua đi nỗi buồn trong đêm quạnh quẽ, một Honda ôm dừng lại trước mặt. Một phụ nữ vào quán và một thanh niên vội vã lên xe Honda ôm, chạy về phía Kiên Lương. Trong quán, tiếng ly tách chạm, lẫn với giọng nói lè nhè của người say rượu. Theo ánh đèn, hé qua cánh cửa, bà chủ quán gọi người phụ nữ là cô Hậu và chỉ chiếc ghế trống bên cạnh tôi. Cửa khép lại. Một không gian yên tịnh, mờ ảo, dưới sao khuya.

Trong bóng đêm, chị Hậu nằm hút thuốc liên tục như thao thức với một tâm sự riêng. Tôi cũng lặng thầm thao thức nhớ nhà, qua hương tóc bay của chị. Bổng nhiên chị đưa tôi gói thuốc Caraven A như mời tôi hút, tôi đưa cho chị gói Pall Mall. Chị rút một điếu, bật lửa đốt và đặt vào môi tôi điếu thuốc chị đang hút. Tôi rít một hơi dài, thầm hưởng mùi thơm rất dịu. Tàn điếu Pall Mall, kề sát vào tai, chị hỏi nhỏ tên tôi. Tôi trả lời nhưng chị đưa một ngón tay lên môi, nhìn tôi rất buồn. Một khoảng lặng không tên giữa chị và tôi. .

Sáng hôm sau, xuống đò qua phố, chị đưa tôi đến cuối đường Tô Châu, giới thiệu tôi với một người quen, để tôi ở trọ. Chị từ giã sang Nam Vang, còn lại trong tôi sự vỗ về dịu êm cùng đôi điều suy nghĩ, dù chị và tôi chỉ bên nhau một đoạn đường ngắn.

Hà Tiên, 1/1970
Đoàn Thuận

Tết xa nhà (Trần Văn Thuận)

Một lần nữa, tôi lại ăn tết nơi quê người.

Liêm, Hồ, Hài đã sang Phú Quốc đi máy bay về quê tuần trước. Thầy Trần Cao Thu và tôi đã ba lần trốn dưới đò xuôi kênh đều bị giử lại, vì đường bộ sang Rạch Giá vẫn bị đắp mô. Nghèo khó và chiến tranh buộc tôi ở lại Hà Tiên, ăn Tết xa nhà.
Nhà Bác Tám nhộn nhịp, con cháu về chuẩn bị đón xuân. Tôi nằm riêng trong phòng đọc sách. Nhóm bạn của Tòng Hiếu đến thăm và tặng quà tết với một cây thuốc con mèo đỏ, bánh lạt, beurre, café, bốn đòn bánh. Điền cho năm búp huệ trắng, rất thơm. Thật ra, trong thập niên 60, đôi lần tôi ở lại gác trọ một mình chờ năm cũ trôi qua. Giờ đây, tuy tôi ăn nhờ ở đậu trong nhà, nhưng Bác Tám coi tôi như người thân, hơn nữa, những “thư sinh” hồn nhiên luôn quay quần bên tôi, lại có Cao Thu cùng chung cảnh ngộ. Xuân như nhiên vẫn đến, dù xa nhà. .

Cao Thu đề nghị một cuộc dạo chơi cuối năm trên núi. Chúng tôi đi bộ qua rừng dâu Thuận Yên lên núi Voi. Thiếu mai vàng, nhưng hoa thơm, cỏ mượt rất nhiều. Từ một gộp đá nhìn ra biển, Cao Thu như một bức tượng lặng câm. Tôi bắt gặp một điều gì vấn vương trong gió. Bấc tháng giêng chăng? Nhà tôi xa tít phía chân trời. Tôi cũng nhớ đôi điều về Sài Gòn đầy ắp kỷ niệm của một thời sinh viên, của những mùa xuân lưu lạc. Chiều xuống đã lâu. Chúng tôi lang thang dọc theo bờ biển về lại Thuận Yên, trong tiếng pháo nhà ai nổ dòn. .

Chiều mồng Một, nhóm thân hữu Ba Lá đến chúc Tết và mời tôi đi thăm nhà thi sỹ Đông Hồ, rồi cùng nhau thả thuyền lênh đênh về kênh Vĩnh Tế, mừng Bác Hẹ tròn tám mươi tuổi. Xuồng “ba lá” lắc lư theo điệu Boléro, muỗng nhịp trên chén rượu nếp trắng, nhóm chúng tôi đón xuân sang nơi quê hương thơ mộng Hà Tiên. Một mùa xuân tha phương, còn mãi trong ký ức tôi. .

Hà Tiên, 1971
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Chú thích: Trong bài ký sự nầy thầy Trần Văn Thuận có nhắc đến quý thầy: Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Long Hồ, Nguyễn Văn Hài và thầy cũng có nhắc đến các học sinh như Lý Tòng Hiếu, Quách Ngọc Điền…..

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình Thai Manh Hoai)

Một vài bài thơ thầy Trần Văn Thuận viết có liên quan đến Hà Tiên:

Bên bến Tô Châu

Dừng chân bên bến Tô Châu.
Bờ cây bến đá quánh màu gió sương.
Ô đèn thắp bóng con đường.
Mấy ngôi nhà cổ, mấy tường rêu phong.
.
Dừng chân phố thị bên sông.
Lửa thuyền đêm lạnh giữa mông mênh mùa.
Tiếng người khuất dưới lau thưa.
Ngờ như lời cổ thi vừa bay qua.
.
Hà Tiên, 1970
CÁT SỸ

Đêm thức Hà Tiên

Góc trời đêm lạnh Hà Tiên
Gió bờ dương liễu Thuận Yên ru sầu.
Sóng vùi cát bãi đêm thâu
Vết chân chim dẫm nát nhầu bóng ai.
.
Nằm nghe sông núi thở dài
Nghe ta giữa thế kỷ hai mươi buồn.
Hồ Đông in bóng trăng suông
Một dòng sông cũ nhớ nguồn xa xôi.
.
Đảo hoang cây cỏ bổi hồi,
Áo xưa bụi phủ một thời đau thương.
Mãi lo mãi khổ đôi đường
Trên quê hương lại tha phương mịt mù.
.
Nữa đời già cỗi tiếp thu.
Lửa nhân sinh đốt khói rù khe tim.
Tô Châu phố ngủ im lìm.
Ta ôm nỗi xót xa tìm vào quên.
.
Hà Tiên, 1970.
CÁT SỸ
[Đoàn Thuận]

Hình ảnh thầy Trần Văn Thuận trong sân trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1966. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận. (Hình thầy TVT)

Thầy Trần Văn Thuận hiện nay đã cao tuổi và đang nghỉ hưu tại nhà riêng ở TP HCM. (Hình thầy TVT)

Tái bút: Thầy Trần Văn Thuận cũng có đăng về chi tiết của thầy nếu bạn nào muốn liên lạc với thầy:

Qui vị có thể liên lạc qua: .
+ đtdđ: 0907 497 529 . .
+ email: doanthuancs@gmail.com .
+ nhà: 80/12/48A đường Dương Quảng Hàm,
p5, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Ký ức về con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (Trần Văn Mãnh)

Thầy cô và các bạn thân mến, sau khi viết xong bài về quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT), như đã nói trong phần nhập đề, mình sẽ viết một bài riêng về những ký ức thời còn nhỏ theo bà ngoại đi Rạch Giá theo tàu sông trên con kênh nầy. Vào khoảng thời gian thập niên 1960, đường bộ đi từ Hà Tiên sang Rạch Giá (dài khoảng 90 km) được mang tên là Liên tỉnh lộ 8A (LTL8A), có rất nhiều xe đò chở khách chạy trên con đường nầy mặc dù thời đó đường rất xấu, nhiều ổ gà, đất bụi và sình bùn nhiều trong mùa mưa. Có một số hiệu xe đò chở khách mà mình còn nhớ như: Lộc Thành, Liên Trung,..v..v.. Đến khoảng vài năm trước 1973, con đường nầy trở nên không còn an ninh, thỉnh thoảng có hiện tượng mìn nổ trên đường và « mấy ảnh » cũng thường hay chặn xe kiểm soát xem có lính tráng bên « quốc gia » nghỉ phép về nhà đi trên xe hay không…. Người dân Hà Tiên thời đó muốn được an toàn, một số hành khách phải đi theo đường ghe biển, hoặc có người gan dạ thì đi bằng xe « Honda ôm », người chủ xe Honda thường được bao khoán để chở một hoặc hai người thanh niên phía sau xe và chạy một mạch từ Rạch Giá về Hà Tiên hay ngược lại…Có người thường hay nói đùa rằng, khi chạy xe Honda ôm thì cứ theo dấu bánh xe Honda chạy trước mà chạy thì an toàn, không cán phải « vật gì » nguy hiểm…!! Có người cũng kể lại là lúc đó đi lính nghỉ phép về thăm nhà, cứ đi xe « Honda ôm », mặc kệ cho số mạng, vì trong lúc đi đường trên xe Honda thì thủ sẳn một trái lựu đạn, nếu có « mấy ảnh » ra thăm mình thì cùng nhau « đi » hết cả nhóm…

Sở dĩ mình kể lại dài dòng về con đường bộ LTL8A Hà Tiên-Rạch Giá ngày xưa đó là vì cũng trong thời gian khi mình còn nhỏ, người dân Hà Tiên muốn đi Rạch Giá cũng có một phương tiện khác, thông thả, an nhàn hơn đường bộ, đó là đi bằng tàu sông trên con kênh Rạch Giá-Hà Tiên. Mặc dù đi theo con kênh RG-HT nầy là thông thả, an nhàn, vì mọi người thường hay mướn một chiếc võng để nằm nghỉ trong suốt thời gian tàu chạy, nhưng cái tiện nghi đó chỉ để dành cho đàn bà, ông lão và trẻ con được hưởng mà thôi. Tại sao vậy, cũng tại « mấy ảnh » ! vì lúc đó con đường kênh RG-HT là do « mấy ảnh » kiểm soát, khoảng vừa qua khỏi đầu trái của ngọn núi Tô Châu, chạy một đoạn thì có một trạm kiểm soát bên bờ bên phải, nhân viên tàu khách phải lên bờ « trình báo », vì thế thanh niên, công chức, lính tráng không ai dám đi theo con đường sông nầy…Đa số hành khách đều là quý bà bạn hàng, dẫn theo nhiều em bé nhỏ đi theo, tuyệt nhiên không có thanh niên trai tráng trong tuổi đi lính…Đó là lúc mình còn nhỏ, khoảng trước năm 1965, lúc đó mình còn học tiểu học và hai anh em mình học chung lớp, chung lớp với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào và Lâm Tấn Kiệt…Vì công việc nhà, bà ngoại mình cũng thường xuyên đi Rạch Giá (cũng khoảng hai ba tháng đi một lần), lần nào cũng đi bằng tàu sông theo con kênh nầy. Thời đó mình chỉ nhớ tên hai con tàu khách chạy đường sông nầy, đó là chiếc tàu Việt Hùng và Võ Nguyên. Khi các bạn Hà Tiên đọc bài về con kênh đào RG-HT đã đăng vừa rồi thì các bạn có góp thêm ý kiến là ngoài hai chiếc tàu sông nầy còn có vài chiếc nữa tên Tài Nguyên, Phước Thạnh, Tân Nguyên, Chí Thành…riêng mình thì không còn nhớ mấy chiếc tàu nầy. Mình vẫn còn nhớ câu nói với bạn Trương Thái Minh khi hai đứa đi chơi ở bến tàu sông nầy (bến tàu sông Hà Tiên – Rạch Giá lúc đó là ở ngay trước khách sạn Tô Châu, chỗ có ba căn phố kế sát khách sạn Tô Châu, Hà Tiên). Khi mình nhìn cái tên Võ Nguyên vẽ bên hông chiếc tàu sông nầy, mình nói đùa với Minh Trương rằng « Tên chiếc tàu nầy ý là mới có hai chữ thôi mà đã ngon rồi, nếu mang đầy đủ ba chữ thì còn ngon hơn nhiều nữa…! »

Trong những chuyến đi công việc qua Rạch Giá như vậy bà ngoại mình thường hay dẫn anh em mình đi theo cho biết..Có khi dẫn anh Hai Dõng, có khi dẫn mình đi cũng có khi bà ngoại dẫn cả ba anh em trai mình đi theo qua Rạch Giá cũng như bây giờ người ta đi chơi nghỉ hè vậy.  Thường thì đi tàu sông trên kênh RG-HT như vậy, buối sáng phải thức sớm đi xuống tàu. Nhà mình cũng gần bến tàu, không xa mấy, khi xuống tàu xong thì ổn định hành lý và bà ngoại có dặn một hoặc hai chiếc võng và chuẩn bị tìm chỗ tốt dưới tàu để giăng võng nằm. Mình kể ra đây một kỷ niệm mà mình vẫn còn nhớ rỏ ràng trong ký ức, không có một chút gì nghi ngờ…Đó là có một chuyến đi bà ngoại dẫn mình đi theo, hai bà cháu ổn định dưới tàu xong, tàu bắt đầu chạy qua cửa sông Giang Thành để đi vào đầu kênh RG-HT. Qua khỏi đầu trái của núi Tô Châu thì nếu có ai còn ở lại bến tàu bờ sông ở Hà Tiên sẽ không còn thấy chiếc tàu nữa vì tàu đã khuất sau núi Tô Châu. Chạy được một quảng không xa, như mình đã kể ở trên, tàu bắt đầu đi ngang trạm kiểm soát của « mấy ảnh ». Lúc đó mặc dù là con nít còn học tiểu học, nhưng mình cũng nghe nói vụ đi đường sông nầy, nên cũng hơi sợ, không dám nhô mình ra rỏ quá lúc chờ người ta làm thủ tục trên bờ. Tuy nhiên qua khung cửa hông của chiếc tàu, mình nhìn lên bờ thấy có một trạm nhà lá, có vài ba anh ngồi trên đó, và có một điều ngạc nhiên mà bây giờ mình vẫn còn nhớ, đó là có một người bạn học cùng lớp trường tiểu học Hà Tiên với mình đang đứng trong trạm trên bờ và hình như đang nói chuyện chơi với mấy anh trên đó…Mình còn nhớ người bạn đó tên là Lợi, không còn nhớ họ của Lợi, chỉ còn nhớ Lợi dáng người hơi thấp, nước da hơi sạm nắng, lại có một điều quan trọng nữa là chính bạn Lợi nầy trong vài tuần trước có cải lộn với hai anh em bạn Lâm Tấn Hào, Lâm Tấn Kiệt ở sân trường tiểu học Hà Tiên và cũng có đi đến giải quyết bằng tay chân,…(nói cách khác là anh em bạn Hào Kiệt có đánh nhau với bạn Lợi nầy, thực ra không có gì dữ dội vì cũng đều là học trò trẻ con thôi, mà mình cũng có mặt trong lúc các bạn đang cải lộn và đánh nhau như thế, không hiểu tại sao lúc đó mình không nhảy vào can gián, chắc mình cũng thuộc về tuổi con thỏ nên chỉ đứng nhìn, may thay cuộc tranh chấp cũng không kéo dài nhiều)..Chính vì vậy nên khi thấy bạn Lợi có mặt ở trên trạm kiểm soát và đang trò chuyện với « mấy ảnh », mình cũng giựt mình, và vội vàng núp xuống trong tàu không dám cho bạn Lợi thấy mình…Sau khi thủ tục tiến hành xong xuôi thì tàu tiếp tục chạy, có ghé Kiên Lương một chút và sau đó chạy đến Rạch Giá. Từ đó về sau mình cũng không dám kể chuyện gặp bạn Lợi trong hoàn cảnh như vậy cho ai nghe hết.

Có lần bà ngoại dẫn cả ba anh em mình cùng đi Rạch Giá với bà ngoại, đó là nhân dịp bà ngoại dẫn mấy cháu đi chơi cho biết. Mình còn nhớ bà cháu cùng ở khách sạn Đỗ Thành đối diện bên hông là rạp chiếu bóng Châu Văn. Lần đó bà ngoại cũng dẫn cho mấy anh em mình xem chiếu bóng trong rạp Châu Văn đó. Mình còn nhớ lúc đó xem một phim Ấn Độ cũng rất hay, còn nhớ nội dung phim, đại khái là có một gia đình đó rất nghèo, nhà bị cháy, trong lúc lục lọi đám cháy để tìm đồ vật còn sót lại, anh chàng trong phim mệt quá, và cũng hơi tức giận vì nhà bị cháy nên phóng cái xẻng đào cắm mạnh xuống đất, bổng nhiên anh nhìn thấy chỗ đất đó bị sụp to ra, anh ta thấy lạ tiếp tục đào xới ngay chỗ đó thì tìm ra được một thùng của quý, kho tàng của ai đã chôn cất ở đó từ xa xưa, thế là anh ta được trở nên giàu có….

Những lúc bà ngoại đi Rạch Giá một mình, thường là đi hôm trước, ngủ lại một đêm ở Rạch Giá trong nhà người quen và hôm sau thì về Hà Tiên. Đúng hôm ngày về của bà ngoại thì mấy anh em mình thường hay trông ngóng, cứ nhìn đồng hồ xem gần tới giờ chưa để đi xuống bến tàu Hà Tiên-Rạch Giá đón bà ngoại về. Tàu chạy từ Rạch Giá về Hà Tiên thường là khoảng 3 hoặc 4 giờ chiều thì tới bến Hà Tiên. Mấy anh em mình đi đón trước giờ, ngồi ở bến tàu phía trước khách sạn Tô Châu, cứ thỉnh thoảng là nhìn về phía cửa sông Giang Thành thông qua kênh RG-HT, phía bên đầu trái của ngọn núi Tô Châu để canh xem có một chấm đen của con tàu sông với ngọn khói đen phía trên xuất hiện ở đó chưa, khi đã thấy chấm đen và ngọn khói của con tàu sông hiện ra ở đầu núi Tô Châu rồi thì biết đó là tàu của bà ngoại đang chạy về tới, dần dần con tàu hiện lớn ra và khi tàu vừa cặp bến thì người ta bắt một thanh ván rất dài và cũng rất dầy từ trên mũi tàu kê lên bờ kè của bến tàu…Lập tức mình, hoặc anh Hai, có khi là Tư Phi chạy nhanh tới và đi trên thanh ván dài đó để chun tuốt vào phía bên trong tàu và xách ngay một hai túi xách đựng hàng hóa của bà ngoại để chạy nhanh về nhà, còn bà ngoại thì từ từ được dẫn lên bờ và đi chậm rải về nhà, lúc nào cũng đi theo con đường tắt phía sau, trước mặt khách sạn Đại Tân, quẹo phải ngay vào đường nhỏ trước mặt Đình ThầnThành Hoàng và vào nhà mình bằng cửa sau. Lúc nào bà ngoại đi Rạch Giá về cũng thường hay mua bánh, trái cây đem theo về nên mình cũng có phần ăn ngay sau đó…

Có một kỷ niệm tuy là kỷ niệm buồn vì chuyện xảy ra lúc ông ngoại mất cũng có liên hệ đến chuyến đi Rạch Giá của bà ngoại. Lúc đó vào năm 1964, anh Trần Văn Dõng đang học lớp Đệ Thất trường trung Học Hà Tiên, còn mình vì thi rớt khóa thi lên Đệ Thất nên học lớp Tiếp Liên với thầy Hà Phương Linh chờ năm sau thi lại. Năm đó ông ngoại lên cơn suyển nhiều, thở rất khó khăn, chỉ nằm trên giường lâu lâu ở nhà cho ông ngửi thuốc để thông đường thở…Vài ngày sau ông ngoại mất, ở nhà phân công cho mình phải đi tới trường trung học xin phép cho anh Hai Dõng nghỉ học về nhà. Tuy còn ở bậc tiểu học, nhưng hôm đó vì phải vô trường trung học nên mình cũng mặc áo trắng, quần tây xanh dài kiểu như học sinh trung học, làm gan đạp xe đạp lên trường và vào ngay lớp học của anh Dõng để xin phép thầy cho anh tạm nghỉ về lo việc tang ở nhà. Mình không còn nhớ lúc đó là thầy nào đang dạy trong lớp anh Dõng, chỉ còn nhớ rỏ là khi xin phép thầy, trình bày lý do xong, còn đang ngóng xem anh Dõng ngồi ở chỗ nào thì có bạn La Văn Cao phía sau lưng mình đang đứng, chỉ về phía bàn có anh Dõng ngồi và nói « Kìa kìa…!! ». 

Lúc ở nhà lo việc tẩn liệm cho ông ngoại thì trước đó một ngày bà ngoại đã có việc phải đi Rạch Giá, mà bà ngoại lại đem theo khâu chìa khóa trong đó có chìa khóa cái tủ xưa to lớn có cất quần áo, vải vóc dành cho việc tẩn liệm cho ông ngoại…Rồi lại vì người ta xem giờ tốt cho việc tẩn liệm nên không thể chờ bà ngoại về mặc dù ngay ngày đó là ngày bà ngoại về trong buổi chiều…Cuối cùng ở nhà mình phải nhờ người ta đụt phía sau vách cái tủ lớn, để lấy cho được quần áo, vải vóc để liệm cho ông ngoại. Sau khi tẩn liệm xong, chưa hoàn toàn đóng nấp lại thì bà ngoại về đúng lúc tới nhà, vì phải tránh giờ kỵ nên bà ngoại chỉ vào lạy mà thôi và lúc đó người ta đóng nắp lại.

Đó là những điều thú vị cũng có, buồn vui cũng có, liên quan tới con kênh đào RG-HT mà thuở nhỏ mình có nhiều lần sống thực qua, bây giờ vẫn còn nhớ …Cho đến sau nầy, khi anh Hai Dõng qua Rạch Giá học năm Đệ Nhất trường Nguyễn Trung Trực rồi qua năm sau đến phiên mình cũng qua Rạch Giá học lớp Đệ Nhất, mỗi lần đi, về cũng thường hay đi bằng tàu sông, mà chỉ đi theo kiểu tổng hợp hai con đường, đó là có thêm một cách thứ ba từ Hà Tiên đi Rạch Giá, đi từ Hà Tiên xuống Kiên Lương (30 km) bằng xe đò hoặc Honda ôm, và tiếp theo từ Kiên Lương đi Rạch Giá bằng tàu sông chạy theo kênh đào RG-HT. Những năm tiếp theo, khi anh Hai Dõng lên Cần Thơ học Trường Cao Đẳng Nông Nghiệp và năm sau thì tới phiên mình cũng lên Cần Thơ học Đại Học Sư Phạm thì cũng vẫn còn đi từ Kiên Lương qua Rạch Giá bằng con kênh đào RG-HT nầy…Nói vậy để thầy cô và các bạn thấy số phận người dân Hà Tiên gắn bó rất lâu dài với con kênh đào nầy… Rồi mãi cho tới những năm giữa thập niên 80 (khoảng 1985, 1986…) khi mình đã có gia đình ở Long Xuyên và có một đứa con trai đầu lòng đặt tên là Trần Nguyễn Tường Linh, lúc đó cái gia đình nhỏ bé gồm ba người của mình về Kiên Lương định cư một thời gian ngắn chờ đi nước Pháp, cũng đi bằng phương tiện tàu sông từ Rạch Giá về Kiên Lương. Còn nhớ hôm từ giả Kiên Lương để đi lên Sài Gòn có việc làm giấy tờ, mới sáng sớm vợ chồng và dứa con nhỏ (3 hoặc 4 tuổi thôi) kéo nhau ra bến tàu Kiên Lương chờ xuống tàu để đi Rạch Giá, vì trời còn sớm, hơi tối, tàu chưa động đậy gì cả, người ta còn ngủ dưới tàu, đứa con của mình, bé Linh, cậu ta nhún người xuống nhìn vào phía bên trong tàu còn tối thui, và kêu « Tàu ơi thức dậy đi Xào Gòn !! », lúc đó cậu ta nói còn ngọng nghịu muốn nói là « Tàu ơi thức dậy đi Sài Gòn…!! ».  Đó cũng là câu để chấm dút bài viết ký ức ngày xưa về kênh đào RG-HT nầy, cũng vui vì chấm dứt bằng một ý hài hước…

Paris, Trần Văn Mãnh viết xong ngày 03/02/2020

Không ảnh toàn đầm Đông Hồ ở Hà Tiên, ở giữa là đô thị Hà Tiên với Pháo Đài, cụm núi bên trái là hai ngọn núi Tô Châu, con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía dưới , bên trái hình.. Hình: Don Griffin 1966-1967

Rạch Giá trong những năm 1960-1970. Bên phải là rạp chiếu bóng Châu Văn, kế đó là khách sạn Đỗ Thành, con đường trong hình là đường Phó Cơ Điều. Hình: BrownWater Navy

Kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, đoạn đi qua Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Hình: Bùi Thụy Đào Nguyên, 1980

Hà Tiên, bên phải là khách sạn Tô Châu với ba căn phố kề sát. Nơi đây ngày xưa là bến tàu Hà Tiên – Rạch Giá. Hình: DebiMagonet, năm 2006

 

Con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Thầy cô và các bạn thân mến, khi dự định viết về đề tài nầy, mình đã có nghĩ ra bố cục của bài viết theo thường lệ, gồm phần đầu nói về « Ký ức về kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên » để kể lại những kỷ niệm thời còn trẻ khi theo bà ngoại mình đi tàu đường sông Rạch Giá – Hà Tiên qua Rạch Giá mua hàng hóa…Rồi kế tiếp là phần kỹ thuật nói về quá trình đào kênh Rạch Giá – Hà Tiên. Đến khi bắt đầu viết thì mình lại viết phần quá trình đào kênh trước, lại nhận thấy phần nầy kể cả những hình ảnh cũng khá dài nên nếu đem thêm phần đầu về ký ức kể thêm thì bài sẽ quá dài, gây nản chí cho người đọc!! Vì thế mình tạm gát lại phần kể về ký ức kênh đào qua bài viết kế tiếp sau cho thuận tiện.

A/ Quá trình thành hình con kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (RG-HT):

Trước khi người Pháp thực hiện vài công trình quan trọng về đào kênh, mở đường thủy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, triều đình nhà Nguyễn đã tiến hành được hai công trình đào kênh rất to lớn và có ảnh hưởng quyết định về mặt quân sự và kinh tế của vùng nầy. Đó là công cuộc đào kênh Thoại Hà (dài khoảng 32 km, rộng 51 m) nối liền Long Xuyên và Rạch Giá vào năm 1818 và con kênh Vĩnh Tế trong thời gian 1819-1824 (dài khoảng 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình 2,50 m) nối liền sông Châu Đốc và đổ vào sông Giang Thành, Hà Tiên. Cả hai công trình to lớn nầy đều do Thoại Ngọc Hầu trực tiếp chỉ huy với công cụ hoàn toàn là sức người dân, binh thời đó…

Ngay từ những năm cuối thế kỷ thứ 19, người Pháp đã chú ý đến hệ thống đường thủy của vùng đồng bằng sông Cửu Long (năm 1866 người Pháp đã dùng tàu xáng để vét lại rạch Bến Lức và sông Bảo Định, Mỹ Tho). Vào mùa khô năm 1901 Pháp bắt đầu cho đào kênh Xà No bằng cơ giới. Đây là một công trình thủy lợi lớn nhất ở miền Nam của người Pháp. Kênh Xà No dài khoảng 39 km, rộng 60 m, sâu khoảng 2,50 m, thời gian hoàn thành là 3 năm (1901-1903), nối liền sông Cần Thơ (để lấy nước ngọt từ sông Hậu Giang) với sông Ba Voi (chảy về sông Cái Lớn và thải ra vịnh Thái Lan).  Sở dĩ đây là công trình lớn nhất thời Pháp thuộc là vì con kênh chiến lược nầy làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế, nông nghiệp, giao thông vùng Hậu Giang, biến vùng đất vốn hoang vu thành những cánh đồng lớn hàng trăm ngàn mẫu, từ đó « con đường lúa gạo » miền tây thành hình và một « nền văn minh kênh xáng » cũng ra đời. Kênh xáng Xà No đang đào, dân cư ùn ùn kéo tới cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện. Cho đến khi kênh đào hoàn tất thì hai bên bờ, đất gần như đã có chủ. Công trình lớn đến nổi khi làm lễ khánh thành có cả Toàn Quyền Đông Dương Pháp đến dự ở Hậu Giang.

Ngoài công trình thủy lợi đầu tiên là việc đào bằng cơ giới con kênh Xà No, ta có thể xem việc nạo vét con kênh Rạch Giá – Hà Tiên (kênh RG-HT) là công trình lớn kế tiếp của người Pháp. Để biết tầm quan trọng của con kênh đào RG-HT về phát triển nông nghiệp tai vùng nầy, ta hãy xét một vùng rộng lớn bao gồm phía bắc do rạch Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, phía đông do dãy núi Cô Tô (Kto), phía nam do con đường bộ Tri Tôn (Tri Tôn của Châu Đốc) – Rạch Giá và phía tây do con đường bộ Rach Giá – Hà Tiên, vùng rộng lớn nầy có diện tích bao phủ hơn 220.000 ha, tuy nhiên lại không có một nguồn nước ngọt tự nhiên nào xuyên qua cánh đồng tuyệt vời nầy…Vùng đồng bằng nầy thường bị ngập quanh năm, bị phủ đầy cỏ cao, lau sậy và cây tràm, mặc dù đất có độ phì nhiêu cao nhưng nếu không có hệ thống thủy lợi thì không thể nào khai thác được. Do đó người Pháp bắt đầu các công việc nghiên cứu vào năm 1924 và kết luận rằng nếu không có hệ thống thủy lợi, trước mắt chỉ có khoảng 20.000 ha đất được canh tác bên bờ các sông rạch và khu gần các dãy núi.  Công việc nghiên cứu để đào kênh RG-HT bước đầu gặp rất nhiều khó khăn vì tính chất khắc nghiệt của địa phương thiên nhiên: thiếu nước ngọt để uống, nạn muổi tràn ngập khu vực, thiếu tuyến đường xuyên sâu, …Tuy nhiên đến năm 1926 dự án tổng thể đã được trình bày và phê duyệt. Đó là việc nạo vét, đào một con kênh chạy từ Rạch Giá đến Hà Tiên (đổ vào sông Giang Thành), phát triển song song với bờ biển dài 81 km, với độ sâu từ 3,50 m đến 3,80 m. Đồng thời trên nhánh kênh RG-HT chính nầy, dự án còn đào thêm 4 kênh ngang thẳng góc với kênh RG-HT với mục dích nhằm tháo nước vùng nội địa nầy và tránh việc tạo nên các cù lao trên kênh RG-HT. Đó là các kênh: Kênh Tri Tôn có chiều dài 31 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m; kênh Ba Thê , dài 40 km, sâu từ 2,50 m đến 3,10 m và hai con kênh đang được nghiên cứu sẽ nối liền kênh RG-HT đến kênh Vĩnh Tế. Bốn con kênh ngang nầy có cùng chiều rộng là 26 m. Ngoài ra kênh chính RG-HT còn được nối liền với biển (Vịnh Xiêm La) bằng bốn con kênh có cùng chiều rộng 28 m và độ sâu 3,80 m với mục đích tháo nước ra biển và tránh sự lắng bùn trên kênh RG-HT.  Công việc nạo vét và đào như thế tiến hành ngay vào cuối năm 1926 với sự tận dụng mọi công cụ của công ty nạo vét. Có tất cả 4 tàu nạo vét mang tên: Loire và Nantes, I và II, bốn tàu nầy làm việc cùng một lúc trong việc đào các kênh trong dự án.

Công việc nạo vét, đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi phải ngưng trệ lại một thời gian ít nhiều kéo dài, sau đó công ty rút kinh nghiệm, cải thiện phương pháp do đó công việc cứ tiếp tục tiến hành. Một trong những khó khăn gặp phải là việc loại bỏ các gốc cây to lớn trong khu vực nạo vét, việc rút cho khô nước khu vực sắp đào vì lớp nước tù động có chiều cao lên tới hơn 50 cm. Việc tổ chức phân công nhân lực, việc cung cấp nước ngọt cho nhân công và cho cả các nồi hơi chạy máy nạo vét rất khó khăn vì các máy nạo vét cần đến 25.000 lít nước mỗi ngày, lượng nước nầy do các xà lan xi tẹt kéo đến trên một chiều dài đến 50 km.

Ngoài ra có nhiều đoạn có bùn lún và chảy trộn với bùn thực vật mà biện pháp khắc phục là phải đóng nhiều cọc và bờ đập để ngăn dòng chảy của bùn. Có vùng người ta gặp phải những cây gỗ của khu rừng già bị chôn vùi trong đó có những thân cây dài hơn 10 m. Một điểm khác nữa là có vùng đất do đất sét tinh khiết tạo nên, do đó đất sét bám vào và tụ dần thành lớp dầy gắn chặt vào đầu máy đào, đầu máy đào không còn ăn vào đất nữa nên hiệu suất đào trở thành gần như số không. Công ty cải thiện cách đào bằng việc thay đổi đầu máy đào đặc biệt được thiết kế để giảm độ bám của đất sét.

Cuối cùng bất chấp những khó khăn đủ các loại gặp phải, công ty nạo vét của người Pháp đã hoàn thành kênh Tri Tôn vào đầu năm 1928, kênh Ba Thê vào đầu năm 1930 và đến tháng 9 năm 1930 kênh chính RG-HT và bốn kênh cửa ra biển cũng hoàn thành. Còn hai kênh ngang nối kênh RG-HT vói kênh Vĩnh Tế thì sẽ hoàn thành vào năm sau để góp phần vào việc thực hiện hệ thống thủy đạo xuyên sông Bassac (sông Hậu Giang) vốn đã được đề xướng từ năm 1905.

Kết quả thực tiển cho thấy việc ích lợi của con kênh đào RG-HT, vì sau khi hoàn thành con kênh chính và các kênh phụ (Tri Tôn, Ba Thê và bốn cửa ra biển, nhưng vào thời điểm nầy chưa hoàn thành hai kênh thông với kênh Vĩnh Tế) việc giảm lụt và thoát nước ngay mùa mưa vừa đến rất hữu hiệu rỏ rệt.  Song song với việc nạo vét đào con kênh RG-HT, các ngư dân và nông dân nối tiếp nhau định cư hai bên bờ kênh chính nầy và từ đó việc lưu thông bằng thuyền chèo trên kênh bắt đầu trở nên thường xuyên. Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của con kênh đào RG-HT trong công cuộc vận chuyển lúa gạo được sản xuất trên vùng đất canh tác và không những các mặt hàng hóa khác nhau cần thiết cho đời sống con người mà còn vận chuyển phốt phát và vôi được sản xuất ở vùng Hà Tiên. Ngoài ra việc mở ra con kênh RG-HT sẽ còn thu hút về phía Hà Tiên sự lưu thông của các con tàu biển và trong đó sẽ có một phần tàu bè sẽ đi về phía Rạch Giá do con kênh mới đào nầy.

Buổi lễ khánh thành con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên diễn ra trong hai ngày 14 và 15 tháng 9 năm 1930 với sự có mặt của Toàn Quyền Pierre Pasquier.

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên với 4 nhánh kênh ngang về phía đông và bốn cửa thoát nước ra biển (Vịnh Xiêm La) về phía tây trong dự án của người Pháp năm 1926. (Bản đồ trích trong quyển sách « Dragages de Cochinchine Canal RachGia – HaTien » năm 1930

Cảnh con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên không. (ảnh chụp từ máy bay quân sự Đông Dương)

Phần bản văn giải thích về tấm hình chụp kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên phía trên: Phần lớn miền tây Đông Dương trước khi chúng tôi đến không canh tác gì được. Sự phát triển của vùng nầy chỉ có thể bảo đảm bằng cách đào kênh cho phép tháo nước và tưới nước ngọt những khu đất bằng nầy, đồng thời tạo điều kiện tốt cho sự vận chuyển. Những con kênh đào nầy đã chinh phục được sự canh tác thường xuyên gần 2 triệu ha kể từ năm 1875, được tăng thêm từ 30 năm nay ra khỏi khu sông Hậu Giang. Con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên được khánh thành vào năm 1930, kênh nằm dọc theo vịnh Xiêm La, xuyên qua một khu rừng cây tràm (cây thuộc nhóm « niaouli calédonien »), với thân cây ốm và có màu trắng đục. Công việc đào kênh được thực hiện bằng tàu nạo vét mạnh và phần đất nạo vét được thải qua hai ống dài dẫn lên hai bên bờ kênh. Trong hình ta còn thấy những ngọn đồi đá nhô lên từ vùng bùn lầy của đồng bằng.

Bìa của quyển sách « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên », do Tổng Thanh Tra công trình công cộng, Toàn quyền Đông Dương xuất bản, Saigon 1930

Chân dung ông Albert Pouyanne, tổng thanh tra cầu đường, tổng thanh tra công trình công cộng Đông Dương, tác giả bài viết « Nạo vét ở Nam Kỳ, kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên » ngày 26/08/1930

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Loire trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên

Chiếc tàu nạo vét tên Deux trong công trường đào kênh Rạch Giá-Hà Tiên (đang đào kênh Tri Tôn)

Đầu máy đào đặc biệt dùng cho vùng có đất sét dính để đất sét không bám chặt vào đầu máy

Các cố vấn thuộc địa xuống tàu để đi dự lễ khánh thành kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên

Tàu chở khách dự lễ khánh thành khởi hành để đến với quan Toàn Quyền Pháp

Quang cảnh kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên nhìn từ trên tàu

Xuồng đua Khmer và tàu khách chạy đến với quan Toàn Quyền Pháp

Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » chở quan Toàn Quyền Pháp được các xuồng đua Khmer hộ tống ở Rạch Giá

Quang cảnh buổi lễ ở Rạch Giá, trong khi chờ quan Toàn Quyền Pháp

Quan Toàn Quyền Pháp rời khỏi tàu để lên bờ

Hình trái: Quan Toàn Quyền Pháp Pierre Pasquier và Thống Đốc Đông Dương Jean Krautheimer. Hình phải: Chiếc tàu « Tổng Đốc Phương » đến Rạch Giá

Tại Rạch Giá, dân chúng đang chờ đoàn quan khách chính thức đi qua

Hiện nay dọc theo hai bên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đã có rất nhiều kênh ngang, về phía đông các kênh nầy nối liền với sông bassac (sông Hậu Giang) hoạc kênh Vĩnh Tế, về phía tây các kênh nầy mở cửa ra biển tại vịnh Thái Lan. Sơ dồ sau đây cho ta thấy một số kênh đào ngang chính (ngoài ra còn rất nhiều kênh phụ  không được kể ra đây).

Sơ đồ kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên (màu xanh dương) và các con kênh ngang cung cấp nước và thải nước hai bên kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên

Theo chiều về hướng đông, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên và được đánh dấu từ A đến F theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

A/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vùng Núi Sập An Giang.
B/ Kênh Ba Thê: (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
C/ Kênh Tri Tôn (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với sông Bassac (tên Việt là sông Hậu Giang).
D/ Kênh T3 (nơi giáp ranh hai xã Hòa Điền, Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
E/ Kênh Nông Trường (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.
F/ Kênh Hà Giang (từ xã Thuận Yên, thành phố Hà Tiên) nối liền kênh RG-HT với kênh Vĩnh Tế.

Theo chiều về hướng tây, các con kênh đào nối liền kênh Rạch Giá – Hà Tiên, tháo nước dư thừa ra vịnh Xiêm La (Vịnh Thái Lan) và được đánh dấu từ a đến h theo chiều Rạch Giá – Hà Tiên:

a/ Kênh Kiến Hào (từ xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
b/ Kênh Tà Lúa (từ thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vinh Thái Lan.
c/ Kênh Vàm Răng (từ xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
d/ Kênh Lình Huỳnh (từ thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
e/ Kênh Lung Lớn (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
f/ Kênh Sao Mai (từ xã Kiên Bình, huyện Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
g/ Kênh Ba Hòn (từ thị xã Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.
h/ Kênh Tam Bản (từ xã Hòa Điền, huyên Kiên Lương) nối liền kênh RG-HT với vịnh Thái Lan.

B/ Chú thích:

1/ Sở dĩ có cái tên kênh « Xà No » là vì có 3 nguồn gốc: người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của khóm dân ở tên là Sok Snor (nơi có nhiều cây điên điển của người Khmer), vì con kênh chảy qua khóm dân ở nầy. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

2/ Hiên nay trên thượng nguồn sông Cửu Long, có hiện tượng các nước Trung Quốc và Lào Quốc đấp các đập thủy điện khiến cho mực nước sông Cửu Long ngày càng xuống thấp, dòng chảy yếu dần…lượng nước sông không còn đủ mạnh để đẩy nước mặn ra biển (Vịnh Thái Lan). Hiện tượng nầy đang diễn ra ngay tại con kênh đào Rạch Giá-Hà Tiên, lúa bị nước biển mặn tràn trở lại vào kênh đào, nên có thể thiệt hại về mùa màng. Một trong những biện pháp khắc phục hiện tượng nầy là hiện nay việc lưu thông bằng thuyền tàu trên kênh Rạch Giá-Hà Tiên đang ngưng lại, người ta cho đấp đập bằng những thanh cây sắt to để ngăn chận nước mặn vào kênh tại khu vực xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, giữ nước ngọt trong kênh để thu hoạch mùa màng và dùng cho sinh hoạt của dân chúng hai bên bờ kênh.

Tài liệu nghiên cứu:

*/ Collection Gérard O’Connell
*/ Trang internet: « Les Entreprises coloniales françaises »
*/ Thư viện Quốc Gia Việt Nam

Trần Văn Mãnh, Paris ngày 01/02/2020